Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Mô tả điểm nghiên cứu

2 Mô tả điểm nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

với quốc lộ 1A và thành phố Thanh Hóa; kết nối khu Du lịch Sầm sơn với sân

bay Sao Vàng- Thọ Xuân ( cách 60km). Về đường thủy, cảng Quảng Tiến

nằm trên sơng Mã có thể tiếp nhận tàu trọng tải lớn.

`



Sầm Sơn với lợi thế sơn thủy hữu tình, khí hậu ơn hòa lại có nhiều di



tích thắng cảnh,…đã có lịch sử hình thành và phát triển du lịch trên 100 năm.

Sầm Sơn có tài nguyên du lịch rất phong phú, đa dạng, gồm cả tài nguyên du

lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Đây là ưu thế nổi bật nhất của

Sầm Sơn, là điều kiện hết sức thuận lợi để phát triển nhiều loại hình du lịch

hấp dẫn như du lịch biển, du lịch núi, du lịch văn hóa- lịch sử, du lịch sinh

thái, du lịch tâm linh… Nhìn chung, với những tiềm năng và lợi thế trên,

trong tương lai ngành du lịch Sầm Sơn có cơ hội phát triển mạnh, trở thành

điểm đến hấp dẫn và lý thú của nhiều du khách.

Trong những năm qua, ngành du lịch Sầm Sơn đã có những bước tiến

đáng kể trong các hoạt động thu hút đầu tư, mở rộng và nâng cao chất lượng

dịch vụ, nâng cấp cải tạo cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch, thu hút

nhiều thành phần kinh tế, các doanh nghiệp tư nhân trong và ngoài địa bàn

tham gia đầu tư du lịch. Sầm Sơn ln là địa điểm có sức hút mạnh mẽ đối

với khách du lịch trong và ngoài nước, song thực trạng dịch vụ du lịch trên

địa bàn vẫn còn tồn tại một số vấn đề như: Công tác quản lý, điều hành, tổ

chức kinh doanh dịch vụ, trật tự đô thị, văn minh du lịch, vệ sinh môi trường,

sự xuống cấp của cở sở hạ tầng…Để khắc phục được những tồn tại đó, yêu

cầu đặt ra đối với Sầm Sơn là phải tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ về chất

lượng du lịch, dịch vụ, nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các ngành, các

cấp cũng như cộng đồng địa phương.

2.2.2. Đặc điểm dân cư và lao động địa phương.

Năm 2009 tổng dân số của Sầm Sơn là 62.050 người ( năm 2010 ước

khoảng 62.550 người), chiếm gần 1,7% dân số tồn tỉnh Thanh Hóa. Mật độ



45



dân số bình quân 3.496 người/km2, cao gấp 10 lần mức trung bình của tỉnh

(khoảng 340 người/km2).

Là một đơ thị du lịch nên phần lớn dân cư của Sầm Sơn sinh sống ở 3

phường nội thị cũ ( Bắc Sơn, Trung Sơn, và Trường Sơn ), chiếm trên 53%

tổng dân số; cao hơn nhiều so với tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh ( 9,8%) và cả

nước ( 27%).

Sầm Sơn có cơ cấu dân số tương đối trẻ; trình độ học vấn của dân cư

khá cao. Đến nay Sầm Sơn đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS đúng độ

tuổi (năm 2004); 45% trường đạt chuẩn quốc gia, 37% lực lượng lao động

được đào tạo. Đây là nguồn nhân lực chủ yếu sẽ được huy động vào công

cuộc phát triển kinh tế - xã hội của thị xã trong những năm tới.

Cùng với sự tăng dân số, nguồn nhân lực của Sầm Sơn cũng tăng

nhanh, dự báo năm 2015 đạt 43.420 người và năm 2020 đạt khoảng 50.000

người, chiếm 68,2% tổng dân số của thị xã ( chưa kể số lao động ở các địa

phương khác đến làm việc theo thời vụ trong lĩnh vực du lịch, dịch vụ).

Những năm gần đây chất lượng lao động ở Sầm Sơn đã được cải thiện một

bước, trình độ văn hóa của lực lượng lao động ngày càng nâng cao. Tỷ lệ

chưa tốt nghiệp phổ thông giảm, số lao động tốt nghiệp trung học cơ sở và

trung học phổ thông ngày càng tăng. Tuy nhiên hầu hết số lao động được đào

tạo hiện đang làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp. Còn ở các cơ sở

sản xuất kinh doanh phần lớn là lao động phổ thông, chất lượng thấp.

Tóm lại, nguồn nhân lực của Sầm Sơn mặc dù đã được nâng cao đáng

kể, song nhìn chung vẫn còn bất cập cả về số lượng và chất lượng; số lao

động chưa được đào tạo còn chiếm tỷ lệ khá cao, chưa đáp ứng được yêu cầu

phát triển của Sầm Sơn với tốc độ nhanh trong thời gian tới.

2.2.3. Đặc điểm kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng

Đặc điểm kinh tế xã hội



46



Trong những năm vừa qua, cùng với sự phát triển chung của tỉnh và cả

nước, nền kinh tế của Sầm Sơn luôn phát triển và đạt nhiều kết quả, đời sống

nhân dân được cải thiện rõ rệt. Sầm Sơn là thị xã ven biển, có lợi thế về phát

triển kinh tế du lịch và ngành thủy sản, ngồi ra còn có các ngành kinh tế khác

như tiểu thủ công nghiệp, giao thông vận tải, nhất là vận tải biển, nghề xây

dựng và nông nghiệp. Từ năm 1991 đến nay qua các kỳ Đại hội Đảng bộ thị

xã lần thứ XI, XII, XIII, và XIV đã xác định cơ cấu ngành kinh tế chung là:

Du lịch dịch vụ - Nông lâm thủy sản – Công nghiệp và Xây dựng. Trong đó

du lịch và thủy sản là hai ngành kinh tế trọng yếu của địa phương.

Các ngành dịch vụ

- Về du lịch: Du lịch là ngành kinh tế số một của thị xã có tốc độ tăng

trưởng cao nhất. Chỉ trong 6 tháng đầu năm, thị xã đón được 2,7 triệu lượt

khách, trong đó khách nghỉ qua đêm chiếm 64,8% (đây là lượng khách cao

nhất so với những năm trước), đạt 73,5% kế hoạch, tăng 11% so với cùng kỳ;

phục vụ ăn nghỉ 5,5 triệu ngày khách, đạt 78,6% kế hoạch, tăng 20,2% so cùng

kỳ; doanh thu ước đạt 1.980 tỷ đồng, đạt 86% kế hoạch, tăng 36,6% so cùng kỳ

- Hoạt động thương mại cơ bản ổn định, tổng mức bán lẻ hàng hóa và

dịch vụ ước đạt 790 tỷ đồng, bằng 52,6% kế hoạch, tăng 15,3% so với cùng

kỳ. Hàng hóa đa dạng, phong phú về chủng loại, mẫu mã, đáp ứng nhu cầu

của nhân dân và du khách.

- Dịch vụ vận tải đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hóa của nhân

dân và du khách. Khối lượng vận chuyển hàng hóa đạt 138,3 ngàn tấn, tăng

24,8% so với cùng kỳ; luân chuyển 52,6 triệu tấn/km, tăng 16,1% so với cùng

kỳ. Vận tải hành khách đạt 680,2 ngàn lượt, luân chuyển 5,1 triệu người/km,

tăng 7,9% so với cïng kú. Dịch vụ bưu chính, viễn thơng và điện lực phục vụ

hiệu quả cho sản xuất và đời sống nhân dân.

- Tổng vốn đầu tư phát triển 1.750 tỷ đồng, đạt 58,3% kế hoạch, tăng

59,1% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn ngân sách nhà nước 80 tỷ đồng, vốn các

thành phần kinh tế khác 1.670 tỷ đồng.

47



- Giá trị xuất khẩu đạt 13,5 triệu USD, bằng 45% kế hoạch, tăng 47,9%

so với cùng kỳ. Trong đó: kim ngạch xuất khẩu hàng hải sản (chủ yếu cá đông

lạnh, mực khô) đạt 12,1 triệu USD; hàng thủ công mỹ nghệ và dịch vụ thu

ngoại tệ khác đạt 1,4 triệu USD.

Nông - lâm nghiệp - thuỷ sản

Sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản phát triển ổn định, khai thác có

hiệu quả tiềm năng, thế mạnh của địa phương. Tốc độ tăng trưởng ước đạt

10,07% năm; giá trị sản xuất năm 2015 ước đạt 545 tỷ đồng, tăng gấp 2 lần sơ

với năm 2010.

Ngành thủy sản phát triển khá cả về phương tiền và giá trị khai thác,

giảm tàu công suất nhỏ đánh bắt gần bờ, tăng nhanh tàu công suất lớn đánh

bắt xa bờ. Sản lượng khai thác tăng bình quân 5,5% năm; năm 2015 đạt

20.200 tấn, tăng 38,8% so với năm 2010. Giá trị khai thác và nuôi trồng tăng

15,6% năm. Dịch vụ hậu cần nghề cá phát triển tốt; các doanh nghiệp mạnh

dạn đầu tư, nâng cấp hệ thống kho bảo quản sản phẩm, mở rộng thị trường

tiêu thụ và hoàn thành đưa vào sử dụng chợ đầu mối hải sản tại phường

Quảng Tiến. Các chính sách hỗ trợ ngư dân từng bước tạo thuận lợi cho nghề

cá phát triển. Công tác bảo vệ nguồn lợi thủy sản, đảm bảo an toàn trên biển

được quan tâm.

Sản xuất nơng nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, lựa

chọn, chuyển đổi cây trồng, vật nuôi phù hợp, xây dựng các mơ hình cây, con

có giá trị kinh tế cao, chất lượng tốt phục vụ du lịch. Năm 2015, sản lượng

lương thực cây có hạt ước đạt 1.500 tấn, tổng đàn gia súc là 1.610 con, tổng

đàn gia cầm là 17.607 con.

Cơng tác chăm sóc và trồng rừng được triển khai hiệu quả, hàng năm

trồng trên 10.000 cây phân tán; cơng tác bảo vệ và phòng cháy rừng được

thực hiện tốt.

Công nghiệp - xây dựng



48



Giá trị sản xuất công nghiệp, xây dựng duy trì tốc độ tăng trưởng khá,

bình quân ước đạt 16,2 % năm; giá trị sản xuất tăng 22,9%. Năm 2015, ước

đạt 465 tỷ đồng, tăng 60,5% so với năm 2010. Một số sản phẩm, mặt hàng có

thể mạnh như: Đóng mới, sữa chữa, nâng cấp tàu thuyền, chế biến hải sản, các

sản phẩm thủ công mỹ nghệ vẫn duy trì được tốc độ phát triển cao. Một số cơ

sở sản xuất từng bước được đưa vào khu quy hoạch tập trung.

Nghề xây dựng tiếp tục phát triển, các doanh nghiệp, tổ, đội xây dựng

tăng cả về số lượng, chất lượng, thị phần, giải quyết thêm nhiều việc làm và

tạo thu nhập ổn định cho người lao động. Nhiều doanh nghiệp xây dựng tham

gia thi công các cơng trình quy mơ lớn và u cầu cao về kỹ thuật, kiến trúc đã

khẳng định được thương hiệu.

Tài chính - ngân hàng

Tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 264,17 tỷ đồng, đạt 134,9% dự

toán tỉnh giao, đạt 120,7% dự toán Hội đồng nhân dân thị xã giao, tăng hơn 4

lần so với cùng kỳ (trong đó thu từ tiền sử dụng đất là 221,4 tỷ đồng, chủ yếu

là ghi thu, ghi chi tiền sử dụng đất Dự án FLC 174 tỷ đồng và một số dự án tái

định cư khác trên địa bàn). 6 tháng đầu năm các khoản thu từ thuế, phí, thu

đóng góp và thu tiền sử dụng đất đều tăng cao so cùng kỳ. Chi ngân sách địa

phương 410,27 tỷ đồng, bằng 109% dự toán Hội đồng nhân dân thị xã giao,

tăng 3,9 lần so với cùng kỳ (tăng chi chủ yếu do thị xã tiếp nhận thêm 6 xã và

chi bồi thường Giải phóng mặt bằng Dự án FLC), trong đó: Ngân sách thị xã

chi 391,68 tỷ đồng; ngân sách xã, phường chi 38,62 tỷ đồng. Chi ngân sách

địa phương đảm bảo theo dự tốn, đáp ứng u cầu nhiệm vụ chính trị của thị

xã.

Hoạt động ngân hàng đã có nhiều đổi mới, tạo điều kiện cho các doanh

nghiệp và nhân dân vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh.

Như vậy, thời gian qua nền kinh tế Sầm Sơn đã đạt kết quả đáng khích

lệ, tốc độ tăng trưởng cao. Song nhìn chung quy mơ nền kinh tế của thị xã còn



49



nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng phát triển và chưa đáp ứng được vai

trò là một trong nhưng khu vực động lực của tỉnh.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng nhưng chưa vững chắc, phụ

thuộc nhiều vào du lịch và khai thác hải sản, là các ngành phụ thuộc khá

nhiều vào thời tiết và có tính thời vụ cao. Sự đóng góp của cơng nghiệp và các

ngành dịch vụ phục vụ du lịch còn hạn chế. Thời gian tới Sầm Sơn hồn tồn

có khả năng đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn, nếu khai thác tốt hơn các tiềm

năng và lợi thế, đồng thời chuẩn bị tổ hơn các điều kiện về cơ sở hạ tầng, về

vốn và nguồn nhân lực chất lượng cao.

Cơ sở hạ tầng

Cùng với sự hỗ trợ ngân sách từ Trung ương và tỉnh, thời gian qua thị

xã Sầm Sơn đã cố gắng huy động các nguồn lực ở địa phương để đầu tư nâng

cấp cải tạo và xây dựng mới kết cấu hạ tầng, nhất là hạ tầng giao thông, nên

hệ thống kết cấu hạ tầng trên địa bàn được cải thiện đáng kể, bước đầu đã đáp

ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của thị xã.

Về hệ thống giao thông, sự phát triển hoàn thiện và đồng bộ kết cấu hạ

tầng và các cơ sở vật chất – kỹ thuật có ý nghĩa và tác động trực tiếp đến phát

triển kinh tế du lịch, đặc biệt là dịch vụ đưa đón khách và dịch vụ lưu trú.

Trên địa bàn thị xã, trong những năm qua, nhiều tuyến đường đã được

cải tạo, nâng cấp và mở rộng, làm cho giao thông nội bộ được thuận tiện, đến

nay gần 80% diện tích mặt bằng đường của thị xã đã được nhựa hóa, bê tơng

hóa (trong đó khu vực nội thị và trên núi Trường Lệ đạt gần 100%).

Có thể nói kết cấu hạ tầng và các cơ sở vật chất kỹ thuật khác phục vụ

kinh doanh du lịch dịch vụ của thị xã Sầm Sơn ngày một khang trang hiện đại,

đáp ứng ngày một tốt hơn cho nhu cầu hội nhập và phát triển.



50



2.3. Phương pháp nghiên cứu

2.3.1. Phương pháp thu thập và xử lí thơng tin số liệu thứ cấp

Thu thập nguồn dữ liệu thứ cấp từ các kết quả nghiên cứu, sách báo

trong và ngồi nước, tạp chí, trang website điện tử, các tài liệu, các báo cáo,

nghị định, nghị quyết của cơ quan quản lý du lịch tỉnh cùng chính quyền địa

phương.

2.3.2 .Phương pháp nghiên cứu thực địa, khảo sát thực tế

Tác giả đã lập kế hoạch khảo cứu thực tế kết hợp với việc thu thập tư

liệu bằng văn bản, chụp ảnh tư liệu, quan sát ghi chép các nguồn tri thức thực

tiễn thông qua 2 chuyến đi thực tế tại các phường, xã dọc biển Sầm Sơn

(Phường Trường Sơn, Trung Sơn, Bắc Sơn và xã Quảng Cư ).

2.3.3. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn bán cấu

trúc.

Trong q trình thực hiện đề tài, ngồi việc sử dụng các phương pháp

đã nêu, tác giả còn sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng bảng hỏi kết hợp

phỏng vấn bán cấu trúc. Cụ thể trong quá trình khảo sát tác giả đã thực hiện

những cuộc điều tra bằng bảng hỏi kết hợp phỏng vấn trực tiếp với cộng đồng

địa phương đang sinh sống và làm việc tại Sầm Sơn nhằm thu thập những ý

kiến của họ về những tác động của du lịch, và nhận thức của họ về vấn đề du

lịch có trách nhiệm. Phương pháp này giúp tác giả linh hoạt được trong các

cuộc phỏng vấn, có thể thay đổi cách hỏi hoặc giải thích thêm nếu người

phỏng vấn chưa hiểu rõ được câu hỏi. Mặt khác tác giả sẽ thu được nhiều dữ

liệu, ở nhiều khía cạnh ngồi những câu hỏi định hướng trong bảng hỏi hoặc

mục đích thu thập ban đầu, bởi người phỏng vấn có thể trực tiếp quan sát để

thu được thêm dữ liệu về người được phỏng vấn qua ngôn ngữ không lời

( Thái độ, trang phục, hành vi...). Tuy nhiên phương pháp này đòi hỏi người

phỏng vấn phải có sự khéo léo, nhạy cảm, nắm bắt được sự thay đổi tâm

51



trạng, cử chỉ,...của người trả lời để dẫn dắt cuộc phỏng vấn theo mong muốn

ban đầu và đạt được kết quả tốt. Cuộc phỏng vấn sẽ đạt yêu cầu khi người

phỏng vấn có bảng câu hỏi đã được soạn thảo cẩn thận. Và để thực hiện các

cuộc phỏng vấn tác giả cũng đã soạn ra ra một hệ thống các câu hỏi được sắp

xếp theo một trình tự hợp lý và logic sao cho thuận tiện nhất, có thể dẫn dắt từ

vấn đề này sang vấn vấn đề khác một cách linh hoạt và tạo được sự thoải mái

cho người được phỏng vấn. Hệ thống các câu hỏi phỏng vấn bao gồm:

+ Các câu hỏi định hướng theo chủ đề nghiên cứu và có sẵn các đáp án

lựa chọn.

+ Các câu hỏi định hướng theo chủ đề nghiên cứu và khơng có sẵn các

câu trả lời. Đối tượng được phỏng vấn được khuyến khích để cung cấp các

câu trả lời chi tiết.

* Bảng câu hỏi phỏng vấn: gồm 11 câu hỏi, được cấu trúc thành 3 phần

(Xem Phụ lục 3).

- Phần 1: Gồm 3 câu hỏi với mục đích điều tra những tác động của du

lịch đến cộng đồng địa phương

- Phần 2: Gồm 9 câu hỏi với các mục đích điều tra nhận thức của cộng

động địa phương về du lịch có trách nhiệm qua 4 mức độ: mức độ biết, mức

độ hiểu, mức độ chấp nhận và mức độ thực hiện.

- Phần 3: Thông tin cá nhân của người được phỏng vấn.

Trong hai lần khảo sát tác giả dự kiến sẽ thực hiện 50 cuộc phỏng vấn,

song chỉ có 48 cuộc phỏng vấn thành cơng, phiếu phóng vấn được trả lời đầy

đủ. Tác giả đã bắt đầu cuộc phỏng vấn với những người thân quen hiện đang

làm việc trong ngành du lịch ở Sầm Sơn (có thể là gặp trực tiếp hoặc nói

chuyện qua điện thoại), vì đây là những người có mối quan hệ từ trước với tác

giả nên việc thực hiện cuộc phỏng vấn diễn ra sẽ dễ dàng hơn, dễ nhận được

sự ủng hộ từ phía đối tượng được phỏng vấn hơn. Và trong những cuộc gặp

mặt hay nói chuyện qua điện thoại đó, trước tiên tác giả sẽ phải giới thiệu sơ

qua về nghiên cứu của mình cũng như mục đích của cuộc phỏng vấn, đồng

52



thời bày tỏ thiện chí mong muốn nhận được sự giúp đỡ từ phía họ. Khi đã

nhận được sự đồng ý từ phía các đối tượng được phỏng vấn, tác giả đi đến

việc sắp xếp thời gian cũng như địa điểm phỏng vấn sao cho phù hợp nhất.

Từ những cuộc phỏng vấn ban đầu mà tác giả đã thực hiện đó, phương

pháp Snowball đã được sử dụng như một công cụ để tiếp cận với những đối

tượng khác. Phương pháp Snowball là một cách tiếp cận mà những người

tham gia phỏng vấn trước đó sẽ được yêu cầu giới thiệu cho tác giả những đối

tượng khác có khả năng tham gia vào cuộc phỏng vấn.Theo phương pháp này,

tác giả đã yêu cầu những người đầu tiên tham gia vào cuộc phỏng vấn giới

thiệu cho mình một số đối tượng khác có thể tham gia và thực hiện cuộc

phỏng vấn.Rất nhiều người đã chủ động giới thiệu cho tác giả những cá nhân

có khả năng sẽ tham gia vào cuộc phỏng vấn.Và họ sẽ liên lạc với những cá

nhân đó trước mang tính chất thơng báo, sau đó tác giả sẽ chủ động liên lạc

lại để hẹn thời gian và địa điểm cho cuộc phỏng vấn. Ưu điểm của phương

pháp này đó là những người được giới thiệu là những người chắc chắn sẽ

tham gia trả lời phỏng vấn, vì họ được sự tín nhiệm và giới thiệu từ người

thân hay bạn bè của họ là những người đã tham gia phỏng vấn trước đó. Còn

những người được yêu cầu để giới thiệu họ sẽ phải cân nhắc xem ai có thời

gian và có khả năng tham gia cuộc phỏng vấn để giới thiệu cho tác giả. Tuy

nhiên trong một số trường hợp thì những người được giới thiệu vì một số lý

do nào đó mà họ phải tham gia một cách miễn cưỡng nên khi tham gia phỏng

vấn họ chỉ trả lời mang tính chất đối phó, qua loa cho có lệ. Với những trường

hợp này thì cuộc phỏng vấn khơng thực sự hiệu quả vì khơng thu được nhiều

thơng tin. Có những lúc tác giả được giới thiệu cho người này nhưng khi liên

hệ thì họ lại không sẵn sàng và lại chỉ sang cho người khác, do đó tại một vài

địa điểm thì việc liên lạc với người có thể tham gia phỏng vấn lại gặp nhiều

khó khăn do phải qua nhiều cầu trung gian ở giữa. Tuy vậy nhưng phương

pháp Snowball vẫn là phương pháp được sử dụng khá phổ biến và mang lại

hiệu quả cao.

53



Bên cạnh đó thì khi đến với mỗi địa điểm, tác giả cũng chủ động làm

quen, trình bày nguyên nhân cũng như mục đích của cuộc phỏng vấn, bày tỏ

mong muốn nhận được sự hợp tác và giúp đỡ từ phía họ, để thực hiện các

cuộc phỏng vấn. Ưu điểm của phương pháp này là tác giả có thể chủ động

hơn trong việc liên hệ với người phỏng vấn, tác giả có thể đến trực tiếp nơi

làm việc của họ để gặp mà không phải qua bất kỳ trung gian nào ở giữa. Tuy

nhiên thì hạn chế của phương pháp này cũng khá lớn vì khơng phải tất cả

những người mà tác giả đến gặp đều đồng ý trả lời cuộc phỏng vấn, do họ còn

tâm lý ngại trả lời phỏng vấn hay vì quỹ thời gian của họ phải dành cho rất

nhiều việc khác nữa. Tuy nhiên thì cũng có những trường hợp khi được hỏi thì

các cá nhân rất nhiệt tình giúp đỡ và sẵn sàng trả lời các câu hỏi của tác giả.

Sầm Sơn là địa điểm được tác giả lựa chọn nghiên cứu bởi nơi đây gần

nơi sinh sống và làm việc của tác giả, sẽ dễ dàng hơn trong việc thu thập dữ

liệu và khảo sát thực địa, tìm mối quan hệ để thực hiện các cuộc phỏng vấn

được dễ dàng hơn.

Đối tượng được tác giả lựa chọn phỏng vấn đa dạng, bao gồm nhiều độ

tuổi khác nhau, ngành nghề khác nhau, thậm chí có cả những ngưỡi đã nghỉ

hưu, những người hoạt động trong ngành du lịch và không tham gia hoạt động

du lịch. Cụ thể, trong 48 đối tượng phỏng vấn thì có 25 nam ( chiếm 52,1%)

và 23 nữ ( chiếm 47,9%), độ tuổi của người được phỏng vấn chủ yếu từ 1852 tuổi, chỉ một trường hợp là 64 tuổi. Như vậy, các đối tượng được phỏng

vấn hầu như đang trong độ tuổi lao động. Khi lựa chọn đối tượng phỏng vấn

thì tác giả cũng đã cố gắng linh động chọn các đối tượng phỏng vấn thuộc

nhiều ngành nghề, bao gồm cả những người đang tham gia hoạt động du lịch

và những nghề không liên quan đến ngành du lịch ( Liên quan đến ngành du

lịch : 25- chiếm 52,1%, Ngành khác: 23 – chiếm 47,9%). Trình độ học vấn

gồm có 16 người tốt nghiệp Cao đẳng- Đại học ( 33,3 %), Trung cấp gồm 14

người ( 29,2%), lao động phổ thông là 18 người ( 37,5%). Số năm sinh sống

của các đối tượng được phỏng vấn cũng ở nhiều mức khác nhau, từ 1-5 năm

54



có 10 người ( chiếm 20,9%); từ 6-10 năm có 3 người (chiếm 6,2%); từ 11-15

năm có 4 người (chiếm 8,4%); từ 16-20 năm có 3 người (chiếm 6,2%); và

những người sống lâu năm ở Sầm Sơn, trên 20 năm là 28 người ( chiếm

58,3%)

Với phương pháp này thì tác giả bị hạn chế bởi số người phỏng vấn do

sẽ mất nhiều thời gian, và các ý kiến đơi khi cũng bị trùng lặp. Chính vì vậy

tác giả đã lựa chọn mẫu cho nghiên cứu là 50, thực hiện thành công là 48.

Các cuộc phỏng vấn tập trung chủ yếu ở các khu vực 3 phường Trường

Sơn, Trung Sơn, Bắc Sơn và xã Quảng Cư là những nơi giáp biển, lượng dân

cư tập trung đông và có hoạt động du lịch phát triển mạnh. Thời gian phỏng

vấn được tiến hành qua 2 đợt, đợt 1 từ ngày 15/4/2016 đến ngày 29/4/2016,

đợt 2 từ ngày 05/08/2016 đến ngày 20/8/2016.

2.3.4. Phương pháp quan sát hành vi cộng đồng

Trong q trình khảo sát thực tế để góp phần điều tra nhận thức cộng

đồng tác giả đã sử dụng phương pháp quan sát hành vi cộng đồng. Tiêu chí

đặt ra trong quá trình quan sát là mức độ chấp hành và tham gia các quy định,

quy chế nhằm phát triển du lịch có trách nhiệm tại Sầm Sơn

2.3.5 . Phương pháp phân tích và tổng hợp

Dựa trên việc sưu tầm các nguồn tài liệu, cùng với các dữ liệu, số liệu

thu thập được, từ đó thực hiện cơng việc tổng hợp và phân tích tư liệu rồi rút

ra các kết quả nghiên cứu một cách chính xác và đầy đủ nhất.

2.4. Thu thập và xử lý dữ liệu

Để thu thập được thông tin phục vụ nghiên cứu tác giả đã trực tiếp thực

hiện các cuộc phỏng vấn tại địa bàn khu du lịch biển Sầm Sơn. Để bắt đầu các

cuộc khảo sát tác giả đã liên hệ với chị Cao Minh Ngọc ( 32 tuổi, làm việc tại

Phòng Văn Hóa Du Lịch Sầm Sơn), chị sinh ra và lớn lên tại xã Quảng TiếnSầm Sơn, hiện đã kết hôn và cũng sinh sống tại thị xã Sầm Sơn. Mặt khác chị

55



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Mô tả điểm nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×