Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bên cạnh những tài nguyên du lịch tự nhiên, Sầm Sơn còn có nguồn tài

ngun du lịch nhân văn khá phong phú gồm các di tích lịch sử văn hóa, các

lễ hội, ngành nghề truyền thống và các giá trị văn hóa khác. Theo thống kê,

trên địa bàn Sầm Sơn có 16 di tích, là một trong số các địa phương có tỷ lệ di

tích cao trong cả nước, trong đó có 6 di tích cấp Quốc gia gồm: Đền Độc

Cước, Đền Cơ Tiên, Đền Tơ Hiến Thành, Hòn Trống Mái, Đền Đề Lĩnh, Đền

Cá Lập.

Ngồi ra còn có 10 di tích được xếp hạng cấp tỉnh gồm: đền Hồng Minh

Tự ( hay còn gọi là đền Hạ ); chùa làng Lương Trung; đền bà Triều; đền làng

Hới; đền Thanh Khê; đền thờ phủ Đơ Hầu; đền thờ Ngư Ơng…và nhiều di

tích khác như: Nơi Bác Hồ về thăm và tham gia kéo lưới cùng ngư dân Sầm

Sơn; nơi anh hùng Nguyễn Thị Lợi đánh tàu chiến Pháp ; nơi tập kết đón học

sinh miền Nam ra Bắc sau hiệp định Genever và nơi đón tiếp các tử tù Cách

mạng miền Nam ra Bắc sau hiệp định Pari…

Du khách đến với Sầm Sơn không chỉ bởi cảnh đẹp thiên nhiên kỳ thú mà

còn giàu chất nhân văn với những lễ hội được lưu giữ từ bao đời nay như lễ

hội thần Độc Cước, Cô Tiên ( từ ngày 21-23/8 âm lịch); lễ hội bánh chưng

bánh dày ( ngày 12/5 âm lịch ); lễ hội cầu ngư ( ngày 15/5 âm lịch )… Ngoài

những lễ hội truyền thống về lịch sử, về truyền thuyết còn có các lễ hội tơn

vinh những người có cơng với dân, với nước, với làng hoặc lễ hội tưởng niệm

Bà Triều- tổ sư nghề dệt săm xúc, lễ hội Cá Ông… mang đậm nét sinh hoạt

của cư dân vùng biển…làm cho du lịch của Sầm Sơn càng thêm phong phú và

hấp dẫn. Bên cạnh đó, Sầm Sơn còn có truyền thống thượng võ ( có lò vật nổi

tiếng ở Quảng Trường _ Trung Sơn); Các làng nghề truyền thống như dệt săm

súc (Triều Dương), sản xuất nước mắm (làng Hới) cùng với tinh thần hiếu

khách và lòng nhiệt thành của con người Sầm Sơn cũng là nền tảng vững chắc

cho nghành du lịch phát triển.

Tóm lại, với những tiềm năng và lợi thế trên, trong tương lai ngành du lịch

Sầm Sơn có cơ hội phát triển mạnh, trở thành điểm đến hấp dẫn và lý thú của

59



nhiều du khách. Ngồi ra, với vị trí địa lý thuận lợi, Sầm Sơn còn có thể mở

rộng liên kết với các địa phương khác trong tỉnh, trong vùng và cả nước, hoặc

với các tỉnh Bắc Lào để hình thành các tuyến du lịch hấp dẫn.

3.1.2. Thực trạng phát triển du lịch

3.1.2.1. Về quy mô khách du lịch

Nhờ những tiềm năng sẵn có được thiên nhiên ban tặng và với chiến

lược phát triển đúng đắn, hợp lý, du lịch Sầm Sơn đã và đang phát triển nhanh

theo hướng bền vững. Những năm gần đây lượng khách du lịch đến Sầm Sơn

tăng nhanh và đều.

Bảng 3.1: Lượt khách du lịch đến Sầm Sơn giai đoạn 2011- 2015

Đơn vị tính: Lượt khách



Tiêu chí

Tồn tỉnh



2011

2012

2013

2014

2015

3.365.000 3.700.000 4.090.000 4.536.000 5.500.000



Tổng ( Lượt khách)



1.920.000 2.105.000 2.485.000 3.150.000 3.650.000



Tỉ lệ Sầm Sơn với



57,1



56,9



60,75



69,5



66,36



toàn tỉnh ( %)



[Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của UBND Thị xã Sầm Sơn ]

Tuy nhiên theo thống kê và quá trình nghiên cứu tác giả thấy lượng

khách quốc tế đến Sầm Sơn rất ít, chủ yếu khách đến với Sầm Sơn là khách

nội địa .

Bảng 3.2: Cơ cấu lượt khách du lịch đến Sầm Sơn giai đoạn 2011- 2015

Đơn vị tính: Lượt khách



Tiêu chí

Tổng ( Lượt khách)



2011



Mức tăng trưởng (%)

Khách nội địa



2013



2014



2015



1.920.000 2.105.000 2.485.000 3.150.000 3.650.000



Mức tăng trưởng

( %)

Khách quốc tế



2012



13.330



9,63



18,5



26,8



15,87



14.100



14.800



23.500



26.200



5,77



4,96



58,78



11,58



1.906.700 2.090.900 2.470.200 3.126.500 3.623.800

60



Mức tăng trưởng (%)



9,6



18,2



26,5



15,9



[Nguồn: Tổng hợp từ số liệu của UBND Thị xã Sầm Sơn ]

Do kinh tế phát triển, mức sống của người dân được nâng cao nên

khách nội địa tăng lên nhanh chóng và chiếm tỷ trọng tuyệt đối (98-99%)

trong tổng lượng khách du lịch trên địa bàn. Lượng khách nội địa chủ yếu đến

từ thủ đơ Hà Nội và các tỉnh phía Bắc, khách miền Nam ít do khoảng cách địa

lý và tính cạnh tranh của các điểm du lịch phía Nam như: Đà Nẵng, Nha

Trang, Phú Quốc… Khách nội địa đến Sầm Sơn chủ yếu tham quan, nghỉ

dưỡng, công tác và tắm biển, năm sau luôn cao hơn năm trước. Thời điểm mà

lượng khách đông nhất thường vào các ngày nghỉ cuổi tuần, nghỉ lễ 30/4 và

1/5, nhân dịp khai trương Sầm Sơn, các ngày nắng nóng…

Khách quốc tế đến Sầm Sơn những năm gần đây cũng có xu hướng

tăng dần, đặc biệt năm 2014 tăng 58,78% so với năm trước đó. Khách quốc tế

đến Sầm Sơn chủ yếu từ Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Đài Loan, Hồng Kông

và một số nước Đông Âu, trong đó khách châu Âu có số lượng ít nhưng tương

đối ổn định, còn khách từ các nước Đơng Bắc Á chiếm tỷ trọng khá lớn

nhưng luôn biến động.



Biểu đồ 3.1. Lượng khách đến Sầm Sơn giai đoạn 2011-2015

Sầm Sơn có tốc độ tăng trưởng về lượng khách tương đối ổn định, ít biến

động tăng qua các năm nhưng còn rất khiêm tốn so với tiềm năng, lợi thế sẵn có.

Mặt khác, du lịch Sầm Sơn vẫn mang tính mùa vụ cao, khách du lịch đến Sầm

61



Sơn chỉ tập trung vào 4 tháng hè ( từ tháng 5 đến tháng 8), chiếm tới 85- 90%

tổng lượng khách cả năm, trong đó tháng 6 và tháng 7 có lượng khách đơng

nhất, những ngày cao điểm thường bị quá tải về các dịch vụ; còn các tháng

mùa đơng rất vắng khách. Hiện nay, Sầm Sơn đang cố gắng duy trì và phát

huy việc tổ chức các lễ hội dịp đầu xuân như: Cầu phúc, bánh chưng - bánh

giầy, Cầu ngư Bơi chải…với các trò diễn dân gian truyền thống như biểu diễn

lân, rồng trên cà kheo, thi đấu cờ tướng, kéo co, đua thuyền, thi làm bánh…

nhằm thu hút khách du lịch tham gia, và đến với Sầm Sơn vào các mùa khác

trong năm.

3.1.2.2. Về doanh thu

Với gần 40 năm xây dựng và phát triển, từ chỗ kinh tế bị phụ thuộc vào

nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy hải sản, tới nay nhờ có sự chuyển dịch cơ

cấu kinh tế mạnh mẽ sang lĩnh vực dịch vụ - du lịch, thị xã Sầm Sơn đang

ngày càng hiện đại và phát triển. Được xác định là ngành kinh tế chủ đạo có

tiềm năng và lợi thế phát triển nhất, hiện tại ngành du lịch đang chiếm hơn

70% tổng GDP của toàn thị xã, xứng đáng so với yêu cầu ngành kinh tế mũi

nhọn của thị xã.

Bảng 3.3 Doanh thu du lịch Sầm Sơn theo cơ cấu, giai đoạn 2011 - 2015

(Đơn vị tính: tỷ đồng)



Năm



2011



Doanh thu 840.000



2012



2013



2014



2015



Tốc độ tăng



975.000



1.250.000



1.785.000



2.120.000



bình qn

27 %



du lịch

Lưu trú

Ăn uống

Lữ hành

Vận



341.043

354.476

46.882

47.358



388.054

410.521

59.415

54.634



485.095

504.055

87.537

81.250



675.842

685.323

149.638

127.725



786.520

773.760

188.720

173.840



25,2%

21,6%

40,8%

48%



Chuyển

Dịch vụ



50.241



62.376



91.263



146.472



197.160



39%



khác



[Nguồn: Phòng VHTT thị xã Sầm Sơn, 2015]



62



Tổng doanh thu du lịch tại Sầm Sơn liên tục tăng trong những năm gần

đây, với tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2010-2015 là trên 27%, năm

2011 doanh thu đạt 840.000 tỉ đồng, năm 2012 doanh thu đạt 975 nghìn tỉ

đồng, đạt 91,6% kế hoạch, tăng 16% so với 2011. Doanh thu năm 2014 đạt

1.785 tỷ, vượt 19,0% kế hoạch, tăng 42,8 % so với năm 2013. Doanh thu năm

2015 đạt 2.120 tỷ đồng, đạt 96,7% kế hoạch năm, tăng 18,8% so với năm

2014; với nhiều thành quả ấn tượng khi đón được 3,650 triệu lượt khách, vượt

4,29% kế hoạch, tăng 15,87%; phục vụ 7,05 triệu ngày khách, vượt 0,71% kế

hoạch, tăng 17,89 % so với cùng kỳ; với doanh thu đạt 2.120 tỷ đồng, vượt

6,0% kế hoạch, tăng 19,77% so với năm 2014.

Bảng 3.4. Doanh thu du lịch Sầm Sơn 2011- 2015

Đơn vị tính: Tỷ đồng



Năm

2011

Tồn tỉnh

1.530.000

Sầm Sơn

840.000

Tỷ lệ Sầm Sơn

54,9



2012

1.750.000

975.000

55,71



2013

2.250.000

1.200.000

55,53



2014

2.510.000

1.785.000

71,1



2015

3.500.000

2.120.000

60,57



so với tồn

tỉnh ( %)

[Nguồn: Phòng thống kê thị xã Sầm Sơn, 2015]

Tuy nhiên, so với lượng khách đến Sầm Sơn trong thời gian qua, thì

hiệu quả kinh tế về thu nhập du lịch còn rất khiêm tốn. Chi tiêu du lịch còn

thấp do sản phẩm du lịch còn đơn điệu, dịch vụ nghèo nàn, khách lưu trú ngắn

ngày. Hiệu quả kinh tế về thu nhập chưa tương xứng với tiềm năng và nguồn

lực.

3.1.2.3. Về cơ sở vật chất kỹ thuật

Hệ thống cơ sở lưu trú du lịch: bao gồm khách sạn, nhà khách, nhà

nghỉ, trung tâm điều dưỡng …trên địa bàn Sầm Sơn phát triển nhanh và được

đầu tư nâng cấp chất lượng tiện nghi nên đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu

phục vụ du khách. Hiện nay, có 375 cơ sở lưu trú, với 14.500 phòng khách

( 170 cơ sở được xếp hạng, trong đó 31 cơ sở từ 01 sao trở lên), tăng 53 cơ sở

63



và so với năm 2010. Và số phòng đạt tiêu chuẩn cũng tăng lên gấp 2,3 lần so

với năm 2005.

Bảng 3.5: Hiện trạng cở sở lưu trú du lịch ở Sầm Sơn 2011- 2015

Năm

Tổng số CSLTDL

Tổng số phòng khách

Tổng số phòng đạt TC



2005

2010

2015

298

322

375

5.937

7.900

14.500

3.551

4.400

11.300

[Nguồn: Tổng hợp từ UBND Thị xã Sầm Sơn, 2015]



Cùng với hệ thống cơ sở lưu trú thì các cơ sở ăn uống, nhà hàng trên

địa bàn cũng phát triển mạnh. Đến nay, trên địa bàn Sầm Sơn có trên 600 cơ

sở kinh doanh ăn uống (không kể các quán nhỏ ven đường), tăng 188 cơ sở so

với năm 2005 và 356 cơ sở so với năm 2000.

Đặc biệt, năm 2015 quần thể dự án FLC SamSon Beach & Golf Resort

được quản lý bởi tập đoàn danh tiếng Serenity Holding, Fusion Resort Sam

Son khởi công xây dựng và hoàn thành vào năm 2016. Đây sẽ là khu nghỉ

dưỡng cao cấp 5 sao theo tiêu chuẩn quốc tế đầu tiên tại miền Bắc và Bắc

Trung Bộ với quy mô 200 ha bao gồm khách sạn, biệt thự nghỉ dưỡng, trung

tâm hội nghị quốc tế, sân golf, câu lạc bộ. Ngồi ra, 14 hệ thống Hubway cơng trình ki-ốt công cộng dọc bờ biển đưa vào hoạt động từ tháng 4/2016,

cung cấp đầy đủ các sản phẩm, dịch vụ cho du khách như: quầy bar - coffee, đồ

ăn nhanh, massage, chăm sóc y tế. Dự án khơng gian du lịch biển phía đơng

đường Hồ Xn Hương tổng mức đầu tư 386 tỉ đồng, tổng chiều dài 3,5m, với

13 phân khu chức năng như: Khu tắm tráng, khu vui chơi trên biển, quảng

trường, khu vườn trò chuyện, quảng trường nhạc nước, vườn hoa bốn mùa,

vườn cây tạo hình, khơng gian điêu khắc, khu vui chơi trẻ em và nhiều tiện ích

khác.

Nhìn chung hệ thống cơ sở lưu trú du lịch ở Sầm Sơn khá phong phú và

đa dạng về loại hình và quy mơ, bước đầu thỏa mãn được nhu cầu đa dạng

của các du khách. Tuy nhiên phần lớn cơ sở lưu trú có quy mơ nhỏ, trang thiết

bị và các dịch vụ trong các cơ sở còn nhiều hạn chế, chỉ phục vụ ăn, nghỉ. Và

64



tại Sầm Sơn còn tập trung một số lượng lớn cơ sở lưu trú ( dưới dạng nahf

khách ) của các Bộ, Ngành, Trung ương nên việc quản lý và tổ chức kinh

doanh du lịch gặp nhiều khó khăn. Ngồi ra sự phát triển tự phát, thiếu quy

hoạch những năm trước dẫn đến tình trạng hàng loạt nhà nghỉ, nhà trọ tư

nhân,…ra đời. Những cơ sở lưu trú này cũng một phần giải quyết được nhu

cầu ăn nghỉ của du khách, nhất là số khách phổ thơng có thu nhập thấp, tuy

nhiên lại tạo ra sự khủng hoảng thừa trong những mùa vắng khách và hạ thấp

cơng suất sử dụng phòng trên địa bàn. Mặt khác, thế mạnh của Sầm Sơn là du

lịch biển nên mùa đơng hầu như khơng có khách, mùa hè vào những ngày lễ

hay nắng nóng lại thường quá tải, vượt quá khả năng phục vụ của các cơ sở

lưu trú cũng như ăn uống.

3.1.2.4. Về nguồn nhân lực phục vụ du lịch

Du lịch là ngành kinh tế chủ lực của Sầm Sơn nên đã thu hút một lực

lượng lớn lao động trong và ngoài thị xã tham gia. Từ năm 2009 Sầm Sơn đã

có 11.863 lao động tham gia hoạt động du lịch ( chưa kể hơn 2000 lao động

thời vụ từ bên ngoài ), chiếm 32% lao động xã hội của thị xã và trên 60% lao

động ngành du lịch của tỉnh. Đến năm 2015 dân số Sầm Sơn khoảng 66.400,

dâm số trong độ tuổi lao động khoảng 43.420, chiếm 65% dân số.

Bảng 3.6 Cơ cấu lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế

Sầm Sơn ( 2010-2015)



Năm



2010



2011



2012



2013



2014



2015



Số lao động (LĐ) đang làm việc 31.670 33.720 34.570 36.068 39.640 43.420

(người)

LĐ trong ngành nông lâm nghiệp,

thủy sản

LĐ trong ngành công nghiệp - xây



9.762 10.218 10.232 10.531 11.376 12.201

3.071



3.304



3.457 3.645



4.083



4.516



dựng

LĐ trong ngành dịch vụ du lịch 18.837 20.198 20.881 21.892 24.181 26.703

Trong đó: Lao động du lịch

10.230 14.280 14.970 15.650 17.305 19.100

Cơ cấu (%)

100

100

100

100

100

100

LĐ trong ngành nông lâm nghiệp, 30.8

30,3

29,6 29,2

28,7

28,1

65



thủy sản

LĐ trong ngành công nghiệp - xây



9.7



9,8



10,0



10,1



10,3



10,4



dựng

LĐ trong ngành dịch vụ du lịch

Trong đó: LĐ du lịch (trực tiếp và



59.5

32.3



59,9

42,4



60,4

43,3



60,7

43,4



61,0

43,6



61,5

44,0



gián tiếp)



[Nguồn: Phòng VHTT thị xã Sầm Sơn, 2015]

Trong những năm gần đây, lao động của ngành du lịch ở Sầm Sơn tăng

lên cả về số lượng và chất lượng. Công tác bồi dưỡng nguồn nhân lực phục vu

du lịch được quan tâm hơn, nhưng nhìn chung chất lượng lao động phục vụ

du lịch vẫn còn yếu và thiếu. Đặc biệt tại các khách sạn nhà nghỉ quy mô nhỏ,

các cơ sở ăn uống. Yếu về chuyên mơn nghiệp vụ: các quy trình hoạt động

của từng nghề (lễ tân, thu ngân, buồng phòng...). Văn hóa giao tiếp ứng xử

vẫn còn giọng địa phương, khơng có sức truyền cảm tới khách hàng... vì thế

cần nhiều thời gian để đào tạo. Kỹ năng xử lý tình huống: hầu hết chưa có kỹ

năng và kiến thức xử lý các tình huống phát sinh của khách hàng. Ngoại ngữ

kém và chưa có ý thức học ngoại ngữ.Tuy đã có nhiều biện pháp khuyến

khích, động viên, mở lớp nhưng do đặc thù thời gian làm du lịch trong năm

ngắn, lao động mang tính chất thời vụ, các cơ sở kinh doanh có quy mô không

lớn , nhất là do nhận thức về tầm quan trọng của chất lượng nguồn nhân lực

chưa cao nên các chủ cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch chưa thực sự quan tâm

đến công tác nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Theo báo cáo của Sở Văn

Hóa, Thể Thao và Du Lịch tỉnh Thanh Hóa, trong số lao động trực tiếp làm

nghề du lịch ở Sầm Sơn chỉ có 33,4% được đào tạo qua các lớp tập huấn, bồi

dưỡng ngắn hạn từ 3-5 ngày, còn lại đều là lao động phổ thông nên nhiều chủ

cơ sở kinh doanh không được đào tạo về quản lý. Các nhân viên phục vụ

trong các khách sạn, nhà hàng, người làm dịch vụ như lái xe điện, chụp ảnh,

bán cà phê, ăn sáng, bán hàng hải sản, xích lơ... hầu hết là làm thời vụ, mùa hè

thì làm dịch vụ du lịch, các mùa còn lại làm việc khác; nên phong cách phục

vụ, giao tiếp ứng xử, nói năng còn chưa hay, chưa khéo; trang phục chưa đẹp,

66



chưa lịch sự. Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu phát

triển du lịch trên địa bàn theo hướng chuyên nghiệp và hiện đại trong thời

gian tới.

Bảng 3.7: Chất lượng lao động dịch vụ du lịch Sầm Sơn 2010-2015

Đơn vị: người



Năm



2010

2011

2012

2013

2014

2015



Tổng số

lao động



Đào tạo nghề



18.837

20.198

20.881

21.892

24.181

26.703



ngắn hạn

6.730

7.510

8.064

9.556

10.978

13.010



Trình độ đào tạo

Trun Cao Đại học



Chưa

Trên đại



qua đào



g cấp đẳng

học

tạo

4.200 490

870

10

6.537

5.386 540

950

12

5.800

5.884 680

1.030

15

5.208

6.370 730

1.110

16

4.110

7.585 850

1.240

18

3.510

8.037 980

2.320

21

2.335

[Nguồn: Phòng VHTT thị xã Sầm Sơn, 2015 ]



3.1.2.5. Về công tác quản lý du lịch

Công tác quản lý du lịch, dịch vụ được tăng cường. Việc đổi mới

phương thức quản lý và tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịch được đặc biệt

chú trọng, đã chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện phương án quản lý các

loại hình dịch vụ, phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo hiệu quả cao.

Từ năm 2013 Thị xã đã ban hành 12 phương án quản lý các hoạt động

dịch vụ du lịch (bao gồm: Phương án xắp xếp dịch vụ thương mại; Phương án

quản lý xe điện; Phương án quản lý xe xích lơ; Phương án cấm bán hàng rong

trên núi trường lệ, khuôn viên bãi biển và đường Hồ Xuân Hương; Phương án

quản lý xe đẩy, xe đạp bán hàng, xe đạp đơi, xích lơ trẻ em; Phương án tổ

chức, quản lý bãi đỗ xe; Dịch vụ nhiếp ảnh; Phương án quản lý các đối tượng

lang thang, ăn xin, ăn mày; Phương án quản lý xuồng, môtô nước; Phương án

chống ùn tắc giao thông; Phương án quản lý giá, niêm yết giá và bán theo giá

niêm yết và Phương án quản lý an toàn tắm biển. Một số phương án đã có đổi

mới, quản lý chặt chẽ, cụ thể, thuận lợi hơn như xe điện được đánh số quản

lý, người lái xe phải có bằng lái và được cấp thẻ, mặc đồng phục, thành lập tổ

67



tự quản và nâng cao vai trò tự quản của doanh nghiệp; các ki-ốt bãi biển được

cơ cấu lại các khoản thu, tự thực hiện vệ sinh môi trường, thực hiện thanh

toán bằng phiếu; kiên quyết triển khai thực hiện và quản lý việc niêm yết giá

và bán theo giá niêm yết...

Gần đây UBND Thị xã đã ban hành phương án quản lý giá và quyết

định 348/QĐ-UBND ngày 26/02/2015 về Quy định tạm thời mức giá tối đa

một số hàng hóa, dịch vụ du lịch trên địa bàn, trong đó quy định cụ thể giá tối

đa của 11 dịch vụ với 49 mặt hàng thiết yếu. Đồng thời tiếp tục tập trung chỉ

đạo quyết liệt, xử lý kiên quyết, kịp thời các cơ sở vi phạm nên cơ bản đã

khắc phục được tình trạng “Chặt chém” đã ảnh hưởng đến du lịch Sầm Sơn

trong nhiều năm qua, được dư luận và du khách đánh giá cao. Với nhiều

phương thức quản lý mới, 2 năm vừa qua Sầm Sơn được du khách ghi nhận là

đã có những thay đổi rõ rệt, minh chứng là lượng khách tăng lên rõ rệt.

3.2. Những tác động của hoạt động du lịch đến cộng đồng địa phương tại

Sầm Sơn

Trong 2 đợt phỏng vấn , đợt 1 từ ngày 15/4/2016 đến ngày 29/4/2016,

đợt 2 từ ngày 05/08/2016 đến ngày 20/8/2019 tác giả đã thực hiện được 48

cuộc phỏng vấn, với mỗi cuộc phỏng vấn kéo dài từ 30- 45 phút.

Khi được hỏi “ Theo Anh/ Chị du lịch mang lại nhiều lợi ích hơn hay

nhiều tác hại hơn ? ” thì có 41 người trả lời du lịch mang lại nhiều lợi ích hơn

chiếm 85,4% số người được phỏng vấn,7 người còn lại (chiếm 14,6%) cho

rằng du lịch mang đến nhiều tác động tiêu cực hơn. Như vậy có thể thấy du

lịch Sầm Sơn đang phát triển theo một hướng đi dúng, vừa góp phần phát

triển kinh tế địa phương, vừa mang lại lợi ích cho người dân.



68



Biểu đồ 3.2. Tác động của du lịch đến cộng đồng địa phương tại Sầm Sơn

[Nguồn: Kết quả điều tra của tác giả ]

3.2.1. Tác động tích cực

3.2.1.1. Tác động về kinh tế

Khi được hỏi về lợi ích đầu tiên mà du lịch mang lại cho người lao

động thì đã có rất nhiều ý kiến khác nhau, đa số cho rằng kinh tế là lợi ích đầu

tiên. Trong đó có một số lợi ích về kinh tế nổi bật mà người phỏng vấn trả lời

như: du lịch đã làm tăng thêm nhiều cơ hội việc làm tại địa phương, du lịch

tạo ra nhiều cơ hội kinh doanh mới cho cư dân địa phương, du lịch thu hút

nhiều vốn đầu tư cho địa phương, hay chất lượng các dịch vụ công cộng, đời

sống của cộng đồng địa phương sẽ được nâng cao.

- Du lịch đã làm tăng thêm nhiều cơ hội việc làm tại địa phương

Theo số liệu thống kê từ UBND Thị xã Sầm Sơn từ năm 2011 đến nay

thì lực lượng lao động trong ngành du lịch luôn chiếm trên 60% ngành du lịch

của tỉnh, và lực lượng lao động của Sầm Sơn cũng chủ yếu là người dân địa

phương. Ngồi đánh bắt và khai thác thủy sản thì du lịch là ngành chính mang

lại việc làm cho người dân địa phương trong quá trình tạo ra các dịch vụ cung

cấp cho du khách như: dịch vụ ăn uống, vận chuyển, dịch vụ chụp ảnh, bán

hàng lưu niệm…Đặc biệt là những lao động nữ ở địa phương.

69



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×