Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 3.7: Hàm lượng Kali trong đất trồng cam Hàm Yên

Hình 3.7: Hàm lượng Kali trong đất trồng cam Hàm Yên

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 3.3: Sự phân bố của vi sinh vật trong đất trồng cam Hàm Yên

T

T

1

2

3

4



Tuổi

vườn

(năm)

1-4

5-8

9 - 15

16 - 20



Biện pháp

quản lý cỏ dại



VK tổng

số



Vi khuẩn cố

định đạm



VSVPG

xenlulo



VSVPG

Photphat



Phun thuốc (*)



4,6x106



5,0x103



1,1x106



1,51x106



Để cỏ (**)



1,1x107



1,1x104



2,5x106



2,1x106



Phun thuốc (*)



1,3x107



6,6x103



5,8x106



9,2x104



Để cỏ (**)



3,2x107



2,1x105



1,0x107



4,4x106



Phun thuốc (*)



4,3x106



1,4x103



3,0x105



3,3x104



Để cỏ (**)



6,1x107



5,9x103



3,0x105



4,2x104



Phun thuốc (*)



4,4x106



1,3x103



1,9x106



1,1x104



Để cỏ (**)



7,0x107



1,6x104



5,1x106



3,2x104



Ghi chú: (*). Phun thuốc diệt cỏ

(**). Để cỏ mọc tự nhiên/Cắt cỏ 1-2 lần/năm

Mật độ của nhóm vi khuẩn ở mức cao so với các nhóm đất đồi núi ở Việt

Nam. Số lượng vi khuẩn tổng số dao động trong khoảng từ 4,3 x 10 6 đến 7,0 x 107

CFU/g đất, trong đó cao nhất ở vườn 16-20 tuổi, để cỏ mọc tự nhiên/cắt cỏ và thấp

nhất ở vườn 9-15 tuổi, có phun thuốc diệt cỏ. Các vườn để cỏ mọc tự nhiên/cắt cỏ

có số lượng vi khuẩn tổng số lớn hơn so với các vườn sử dụng thuốc diệt cỏ. Sự

chênh lệch giữa các vườn cùng độ tuổi ở các hình thức quản lý cỏ dại khác nhau dao

động từ 6,4 x 106 CFU/g đất đến 6,7 x 107 CFU/g đất, chênh lệch lớn nhất ở vườn

16-20 tuổi và thấp nhất ở vườn 1-4 tuổi. Nguyên nhân có sự khác biệt này là do ở

những vườn có thảm thực vật che phủ, hệ rễ thực vật phát triển tốt, diện tích vùng rễ

lớn nên tạo điều kiện thuận lợi về nguồn thức ăn và nơi ở để vi sinh vật phát triển.

Bên cạnh đó, những vườn sử dụng thuốc diệt cỏ ngoài tác dụng tiêu diệt cỏ dại, làm

giản nguồn thức ăn và mất nơi ở của vi sinh vật, chúng còn gây độc cho sinh vật, ức

chế sự sinh trưởng và phát triển của sinh vật, làm giảm số lượng của vi khuẩn tổng

số trong đất. Như vậy, hình thức quản lý cỏ dại có ảnh hưởng đến mật độ quần thể

vi khuẩn tổng số.

Vi khuẩn cố định Nitơ trong đất trồng cam Hàm Yên cao nhất các vườn 5-8

tuổi, để cỏ mọc tự nhiên/cắt cỏ, mật độ lên đến 2,1x105 CFU/g đất, thấp nhất ở vườn

16-20 tuồi, sử dụng thuốc diệt cỏ (1,3x104 CFU/g đất). Các vườn sử dụng thuốc diệt

cỏ có mật độ vi sinh vật cố định đạm thấp hơn rất nhiều so với các vườn để cỏ mọc



56



tự nhiên hoặc cắt cỏ. Các vườn có thảm thực vật che phủ đất sẽ giúp ổn định pH đất,

tạo ra môi trường phù hợp cho sự phát triển của các nhóm vi khuẩn cố định đạm.

Nhóm vi khuẩn cố định đạm sống tự do trong đất như Azotobacter phát triển ở pH

từ 4,5-9, khoảng thuận lợi 7,2-8,2; vi khuẩn kị khí Clostridium có khả năng phát

triển ở pH từ 4,5-8,5 [24]. Theo kết quả phân tích độ chua của đất trồng cam Hàm

Yên (Bảng 3.1 và hình 2) cho thấy, pH của các vườn đều thấp (3,50-4,45), đặc biệt

là vườn 16-20 tuổi, sử dụng thuốc diệt cỏ, pH là 3,55. Có thể kết luận rằng, việc sử

dụng thuốc diệt cỏ đã ảnh hưởng đến sự phân bố của vi khuẩn cố định đạm trong

đất nghiên cứu.

Xenlulo là hợp chất các bon bền vững, có trong tàn dư hữu cơ của thực vật.

Chỉ những vi sinh vật có khả năng tiết enzym xenlulaza mới có khả năng phân giải

các hợp chất này. Vì vậy, số lượng vi sinh vật phân giải xenlulo có tương quan với

hàm lượng mùn ở trong đất. Bảng 3.3 đã cho thấy kết quả nghiên cứu số lượng

nhóm vi sinh vật phân giải xenlulo trong đất trồng cam tại huyện Hàm Yên, tỉnh

Tuyên Quang. Nhìn chung, mật độ của vi sinh vật phân giải xenlulo ở mức trung

bình đến cao, dao động trong khoảng từ 3,0x105 đên 1,0x107 CFU/g đất, cao nhất ở

vườn 5-8 tuổi, để cỏ mọc tự nhiên/cắt cỏ

Nhóm vi sinh vật phân giải phốt pho khó tiêu có vai trò quan trọng đối với

hiệu quả sử dụng dinh dưỡng lân cho cây cam. Số lượng vi sinh vật phân giải phốt

phát trong các mẫu nghiên cứu ở mức trung bình đến giàu, dao động trong khoảng

từ 1,1x104 đến 4,4x106 CFU/g đất, cao nhất ở vườn 5-8 tuổi để cỏ mọc tự nhiên/cắt

cỏ và thấp nhất là ở vườn 16-20 tuổi, có phun thuốc diệt cỏ. Tương tự như các nhóm

vi sinh vật khác, mật độ vi sinh vật phân giải phốt phát ở các vườn để cỏ mọc tự

nhiên/cắt cỏ cao hơn ở các vườn phun thuốc diệt cỏ, chênh lệch trong khoảng 9x10 3

đến 4,31x106 CFU/g đất. Trong đó, chênh lệch lớn nhất là ở vườn 5-8 tuổi và thấp

nhất là ở vườn 9-15 tuổi.

3.2. Ảnh hưởng của trồng cây lạc dại che phủ đất đến chất lượng đất

Kết quả phân tích một số tính chất lý hóa của đất trồng cam Hàm Yên, tỉnh

Tuyên Quang được trình bày ở bảng 3.4.



57



Bảng 3.4: Ảnh hưởng của trồng lạc dại che phủ đất đến một số tính chất lý hóa của đất trồng cam Hàm Yên

Độ ẩm

CT



CTTN



Trước

TN



Sau 4

tháng



pH

Sau 8

tháng



Trước

TN



Sau 4

tháng



CHC (%)

Sau 8

tháng



Trước

TN



Sau 4

tháng



CEC (meq/100gđất)

Sau 8

tháng



Trước

TN



Sau 4

tháng



Sau 8

tháng



0



Phun thuốc

diệt cỏ



21,07±0,1 23,84±0,4 22,27±0,5 4,42±0,5 4,18±0,1 4,38±0,2 2,14±0,01 2,24±0,03 2,23±0,1711,40±0,2511,83±0,2111,22±0,31



1



Để cỏ



21,12±0,2 24,41±0,1 25,74±0,1 4,75±0,1 4,82±0,2 4,98±0,2 2,21±0,08 2,31±0,15 2,46±0,0911,74±0,1811,81±0,1312,12±,030



2



Lạc dại



21,45±0,4 24,53±0,1 24,44±0,3 4,80±0,2 5.15±0,7 5,27±0,1 2,18±0,11 2,35±0,11 2,62±0,1811,75±0,3511,95±0,1712,89±0,12



3



Lạc dại+ EM 21,03±0,2 24,07±0,1 24,87±0,2 4,84±0,6 4,98±0,4 5,16±0,2 2,29±0,14 2,49±0,08 2,75±0,1511,98±0,1411,97±0,2112,83±0,51



4



Lạc dại+

EM+AMF



21,29±0,1 24,56±0,4 25,33±0,4 4,53±0,4 4,80±0,3 4,94±0,2 2,2±0,08 2,61±0,16 2,94±0,1411,48±0,3111,43±0,3212,67±1,21



58



3.2.1. Ảnh hưởng của trồng lạc dại đến độ ẩm đất

Độ ẩm là yếu tố quan trọng đối với năng suất trồng cây có múi, đặc biệt là

những vùng đất khơ cằn. Cây có múi có nhu cầu tương đối lớn về nước, nhất là trong

thời kỳ ra hoa và phát triển quả. Tuy nhiên, cây có múi cũng rất mẫn cảm với điều kiện

ngập nước. Nếu như trong mùa mưa, mực nước ngầm trong đất cao và khơng kịp thốt

nước, cây sẽ bị thối rễ, vàng lá và chết. Sự chênh lệch về độ ẩm giữa các cơng thức thí

nghiệm được thể hiện ở hình 3.8.



Object 36



Hình 3.8: Ảnh hưởng của trồng lạc dại đến độ ẩm đất thí nghiệm

Kết quả phân tích cho thấy độ ẩm đất tại CTTN thấp, chỉ dao động trong

khoảng 21,07% đến 25,74%. Độ ẩm này thấp hơn khá nhiều so với mức thích hợp cho

sự phát triển của cây có múi (30-35%).

Sau 8 tháng thí nghiệm, độ ẩm của đất ở các CTTN để cỏ mọc tự nhiên và trồng

lạc dại đều tăng lên và cao hơn so với cơng thức đối chứng. Sau 8 tháng thí nghiệm, độ

ẩm ở tất cả các CTTN đều tăng lên, tuy nhiên tăng không nhiều. Sau 4 tháng, độ ẩm

tăng trong khoảng 2,77% đến 3,29%; sau 8 tháng độ ẩm tăng 1,2% đến 4,04% so với

đợt đầu lấy mẫu nghiên cứu. Ở tất cả các CTTN có trồng lạc dại và để cỏ mọc tự

nhiên, độ ẩm đất cao hơn so với cơng thức đối chứng CT0. Các vườn có độ ẩm tăng

lên một phần do điều kiện thời tiết giai đoạn lấy mẫu. Thời điểm lấy mẫu đợt 1 (tháng

12) thời tiết hanh khô, lượng mưa thấp nên độ ẩm của đất cũng thấp, đến lấy mẫu đợt 2

(tháng 4) thời tiết có mưa nhiều hơn nên đất ẩm hơn. Riêng ở mẫu CT0, thời điểm lấy

mẫu sau 8 tháng, độ ẩm đất giảm so với thời điểm sau 4 tháng. Nguyên nhân là do thời

điểm lấy mẫu tháng 8 trời nắng, ít mưa, cộng với địa hình dốc và khơng có thảm thực

59



vật che phủ, vì vậy độ ẩm của đất thấp. Ở tất cả các công thức có thảm thực vật che

phủ có độ ẩm đất cao hơn so với công thức đối chứng là do thảm thực vật che phủ đất

làm giảm tác động trực tiếp của ánh nắng mặt trời xuống mặt đất, giảm sự bay hơi của

nước trong đất, ngăn cản tốc độ dòng chảy giữ lại một phần nước mưa sau đó trả lại từ

từ cho đất, từ đó giúp tăng khả năng giữ nước của đất. Kết quả nghiên cứu này phù

hợp với kết quả nghiên cứu của Huang Yibin và cộng sự (2004), độ ẩm đất được cải

thiện khi có thảm thực vật (ở độ sâu 0-10cm, độ ẩm từ 21,1% tăng lên 23,2%) [43].

Chênh lệch về độ ẩm đất sau 4 tháng thí nghiệm so với thời điểm trước thử

nghiệm lớn nhất ở CT1 (3,29%), tiếp theo là CT4 (3,27%), CT3 (3,04%), và cuối cùng

là CT2 (3,08%). Kết quả tương tự sau 8 tháng thử nghiệm. Riêng CT2, độ ẩm đất sau 8

tháng thí nghiệm thấp hơn so với thời điểm sau 4 tháng thí nghiệm.

Ngồi các yếu tố liên quan trực tiếp đến độ ẩm của đất như lớp thực vật che phủ

trên bề mặt, diện tích tán che của cây, phần trăm chất hữu cơ trong đất và điều kiện

tưới cũng là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến độ ẩm trong đất.

Từ thí nghiệm trên cho thấy tác dụng từ việc trồng bổ sung lạc dại. Thảm thực

vật che phủ có vai trò quan trọng trong việc giúp đất giữ nước và duy trì độ ẩm tốt hơn

do chúng làm giảm tác động trực tiếp của ánh sáng mặt trời xuống mặt đất, làm giảm

sự bay hơi của nước trong đất, ngăn các dòng chảy và giữ lại một phần lượng nước

mưa sau đó trả lại vào đất, từ đó tăng khả năng giữ nước của đất. Kết quả trên cũng chỉ

ra hướng canh tác cho người dân, đề xuất sử dụng cây lạc làm thực vật che phủ. Điều

này còn giúp tiết kiệm được chi phí trong canh tác và cơng sức của người nơng dân.

Ngoài ra, việc hạn chế sử dụng thuốc diệt cỏ cũng góp phần cải thiện mơi trường tự

nhiên, nhất là môi trường nông nghiệp.

3.2.2. Ảnh hưởng của trồng lạc dại đến độ chua của đất

Kết quả phân tích độ chua của đất (Hình 3.9) cho thấy, tại các mẫu đất bố trí

nhiệm, pH của đất tại các mẫu thí nghiệm để cỏ tự nhiên và trồng lạc dại đều được cải

thiện một cách đáng kể và cao hơn so với công thức đối chứng CT0. Sau thời gian

nghiên cứu pH đo được ở các CTTN đều tăng lên theo thời gian. Sau 4 tháng, pH tăng

từ 0,07 đến 0,35; sau 8 tháng pH tăng từ 0,16 đến 0,47 so với đợt đầu khi lấy mẫu

nghiên cứu (khoảng thời gian trước bố trí thí nghiệm). Độ pH của các mẫu được cải

thiện từ chua vừa (4,6-5,0) đến chua nhẹ (5,1-5,5). Nguyên nhân là do tác dụng của

lớp thực vật che phủ giúp hạn chế hiện tượng xói mòn rửa trơi các kim loại kiềm và

kiềm thổ. Ngoài ra lớp cỏ và lạc dại cũng giúp bảo vệ độ ẩm trong đất, giảm nồng độ

H+, từ đó giúp cải thiện pH theo thời gian.



60



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 3.7: Hàm lượng Kali trong đất trồng cam Hàm Yên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×