Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Phân tích mẫu thực

3 Phân tích mẫu thực

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học viên đã tiến hành tính tốn và xử lý số liệu từ dữ liệu đầu ra của máy

phân tích (giá trị raw đo được của các đồng vị) để thu được giá trị thực của đồng vị

bền δ13C. Kết quả phân tích được nêu ở các bảng dưới đây.

Bảng 3.10. Kết quả phân tích đồng vị C trong các mẫu trầm tích Đồng Ho

STT



Tên mẫu



Giá trị raw δ13C





Giá trị thực của δ13C





1

2

3

4

5

6

7

8



DH01- 6

DH01- 6B

DH01- 7

DH01- 8

DH01- 9

DH01- 14

DH01 - 38

DH01- 41



1163

12,38

12,35

12,11

15,63

12,32

15,41

16,16



-28,7

-27,9

-27,9

-28,2

-24,5

-28,0

-24,7

-23,9



Qua bảng kết quả 3.5, ta thấy rằng giá trị δ13C dao động từ -28,7 đến -23,9‰.

Giá trị δ13C tăng dần theo các vị trí lấy mẫu từ bé đến lớn, δ 13C đạt giá trị nhỏ nhất

tại vị trí lấy mẫu DH01 – 6 với δ 13C = -28,7 ‰, đạt giá trị lớn nhất tại vị trí mẫu

DH01-41 với δ13C = -23,9 ‰.

3.3.2. Phân tích đồng vị Oxy trong mẫu trầm tích

Tiến hành phân tích đồng vị Oxy trong các mẫu trầm tích chứa dầu thu thập

dọc suối Đồng Ho, Quảng Ninh.

Áp dụng phương trình đường tương quan của các đồng vị bền δ18O đã được

xây dựng ở mục 3.2.1:

Y = 1,129X + 32,07

Trong đó Y là giá trị thực đồng vị bền, X là giá trị raw đo được của đồng vị

Học viên đã tiến hành tính tốn và xử lý số liệu từ dữ liệu đầu ra của máy

phân tích (giá trị raw đo được của các đồng vị) để thu được giá trị thực của đồng vị

bền δ18O. Kết quả phân tích được nêu ở các bảng dưới đây.

Bảng 3.11. Kết quả phân tích đồng vị O trong các mẫu trầm tích Đồng Ho

Tên mẫu



Giá trị raw δ18O



54



Giá trị thực của δ18O



STT

1

2

3

4

5

6

7

8



DH01- 6

DH01- 6B

DH01- 7

DH01- 8

DH01- 9

DH01- 14

DH01 - 38

DH01- 41





-20.41

-21.07

-19.98

-18.93

-23,36

-20,60

-23,12

-14,73





9,01

8,26

9,49

5,67

5,94

8,79

10,68

15,43



Từ bảng 3.6, ta thấy rằng giá trị δ18O dao động từ 5,94 đến 15,43‰.Giá trị

δ18O tăng theo các vị trí lấy mẫu từ bé đến lớn, δ 18O đạt giá trị nhỏ nhất tại vị trí

mẫu DH01- 8 với δ18O = 5,67 ‰, đạt giá trị lớn nhất tại vị trí mẫu DH01-41 với

δ18O = 15,43 ‰.

3.3.3. Phân tích đồng vị Nitơ trong mẫu trầm tích

Tiến hành phân tích đồng vị Nitơ trong các mẫu trầm tích chứa dầu thu thập

dọc suối Đồng Ho, Quảng Ninh.

Áp dụng phương trình đường tương quan của các đồng vị bền δ15N đã được

xây dựng ở mục 3.2.1:

Y = 1,014X – 0,250

Trong đó Y là giá trị thực đồng vị bền, X là giá trị raw đo được của đồng vị

Học viên đã tiến hành tính tốn và xử lý số liệu từ dữ liệu đầu ra của máy

phân tích (giá trị raw đo được của các đồng vị) để thu được giá trị thực của đồng vị

bền δ15N. Kết quả phân tích được nêu ở các bảng dưới đây.

Bảng 3.12. Kết quả phân tích đồng vị N trong các mẫu trầm tích Đồng Ho

STT

1

2

3

4

5

6

7



Tên mẫu

DH01- 6

DH01- 6B

DH01- 7

DH01- 8

DH01- 9

DH01- 14

DH01 - 38



Giá trị raw δ15N



Giá trị thực của δ15N





-0,392

-1,967

-1,557

-1,333

1,794

1,739

1,548





-0,6

-2,2

-1,8

-1,6

1,6

1,5

1,3



55



8



DH01- 41



2,565



2,4



Từ bảng 3.7, ta thấy rằng giá trị δ15N dao động từ -2,2 đến 2,4‰. Giá trị δ15N

tăng theo các vị trí lấy mẫu từ bé đến lớn, δ 15N đạt giá trị nhỏ nhất tại vị trí mẫu

DH01- 6B với δ15N = -2,2 ‰, đạt giá trị lớn nhất tại vị trí mẫu DH01-41 với δ15N =

2,4 ‰.

3.3.4. Đánh giá kết quả phân tích

Kết quả phân tích cho thấy sự biến thiên về tỷ số đồng vị bền C, O, N trong

trầm tích Đồng Ho có quy luật và phản ánh sự thay đổi về mơi trường trầm tích và

điều kiện cổ khí hậu.

Ta thấy rằng δ18O đao động từ 5,94 đến 15,43‰. Các giá trị δ18O đạt đến

đỉnh ở phần thấp của địa tầng. Từ đây, δ 18O có xu hướng dần dần giảm đến phần

giữa địa tầng trước khi tăng nhẹ ở lớp trầm tích bề mặt. Sự thay đổi xu hướng của

δ18O cho thấy khí hậu trong quá khứ của khu vực nghiên cứu nóng hơn thời gian

hiện tại (Leng et al, 2006). Theo kết quả của 14Cage, tuổi đã được ước tính vào năm

1782 (Weide, 2012), cho thấy chế độ khí hậu trong thế kỷ 18 khơ và ít mưa. Mơ

hình này phù hợp với các nghiên cứu trước đó, cho thấy sự tồn tại của giai đoạn

Little Ice Age từ 15 đến 17 thế kỷ ở Châu Á (Wang và cộng sự, 2005) và từ 13301820 AD ở đồng bằng sông Hồng (Li và cộng sự, 2006). Sau giai đoạn này, chế độ

khí hậu lạnh có xu hướng giảm dần và chuyển sang khí hậu nóng ẩm, cường độ tối

đa từ 1950-1960.

Giá trị δ13C dao động từ -28,7 đến -23,9 ‰, giá trị δ15N dao động từ -2,2 đến

2,4‰. Trong đó, các giá trị δ13C và δ15N có xu hướng giảm từ phần thấp của địa

tầng lên phần cao của địa tầng. Điều đó cho thấy rằng nguồn chất hữu cơ trong trầm

tích chủ yếu là từ thực vật lục địa. Vì vậy, sự biến đổi δ 13C và δ15N trong trầm tích

đã chứng minh rằng có một sự thay đổi trong việc tích tụ nguồn chất hữu cơ trong

quá khứ. Sự gia tăng liên tục các giá trị hữu cơ δ 13C từ phần cao của địa tầng xuống

phần thấp của địa tầng chỉ ra rằng khối lượng của chất hữu cơ có nguồn gốc từ cây

C3 có khuynh hướng giảm. Những mơ hình này cho thấy nước chảy từ các khu vực

xung quanh đến hồ có khuynh hướng giảm từ 1.700 năm trước cho đến nay.



56



57



KẾT LUẬN

Sau khi nghiên cứu vị trí địa chất cũng như các đặc điểm thạch học khống vật

của các mẫu trầm tích chứa dầu khu vực Đồng Ho, Quảng Ninh, xây dựng quy trình

phân tích mẫu trầm tích xác định thành phần đồng vị bền các nguyên tố C, O, N trên

khối phổ kế IRMS của hãng NU Perpective (Anh quốc), luận văn đã thu được các

kết quả sau:

-



Đã nghiên cứu về vị trí địa chất cũng như các đặc điểm thạch học khống vật của các mẫu

trầm tích chứa dầu khu vực Đồng Ho, Quảng Ninh từ đó có đưa ra điều kiện xử lý mẫu

trầm tích như sau: mẫu trầm tích được lọc sét bằng phương pháp pipet sau đó được sấy ở

60oC, nghiền mịn. Đối với mẫu phân tích đồng vị C, O thì mẫu được loại bỏ carbonat bằng

axit HCl 1N.



-



Xây dựng đường tương quan của các đồng vị δ13C, δ18O và δ15N trong mẫu chuẩn. Tất cả

phương trình tương quan đều cho các giá trị RSD% nhỏ hơn 2% và nằm trong giới hạn cho

phép. Do đó, quy trình phân tích là đáng tin cậy và phù hợp để phân tích các đồng vị C, O,

N trong mẫu trầm tích chứa dầu có tướng hồ, đầm lầy tại khu vực Đồng Ho, Quảng Ninh.



-



Phân tích 8 mẫu thực được thu thập tại khu vực Đồng Ho, Quảng Ninh. Kết quả phân tích

mẫu cho thấy đồng vị C, O, N trong trầm tích khu vực Đồng Ho, Quảng Ninh có sự biến đổi

có quy luật từ phần thấp của địa tầng lên phần cao của địa tầng, cho thấy rằng các trầm

tích hệ tầng Đồng Ho thành tạo trong môi trường lục địa: nguồn hữu cơ chủ yếu từ thực

vật lục địa được làm giàu và môi trường là nóng ẩm.

Từ kết quả thu được còn cho thấy phương pháp đồng vị bền có độ nhạy cao, thích hợp cho



phân tích đồng vị C, O, N trong mẫu trầm tích với phương pháp xử lý mẫu đơn gian khơng gây ảnh

hưởng đến mơi trường.



Quy trình phân tích thành phần và tỷ số đồng vị bền các nguyên tố C, O, N

nêu trên có thể áp dụng cho các mẫu có đặc điểm tương tự ở Việt Nam. Kết quả

nghiên cứu bước đầu để tạo tiền đề cho các nghiên cứu thành phần đồng vị trong

mẫu trầm tích tướng hồ, đầm lầy ở các vùng miền khác nhau từ đó xác định được

nguồn gốc và điều kiện cổ khí hậu trong thời gian q khứ hình thành trầm tích đó.



58



59



TÀI LIỆU THAM KHẢO

I. Tài liệu tiếng việt

1. Đinh Văn Thuận, Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Trung Trí., Nguyễn Thùy

Dương, (2003), “Thực vật ngập mặn với tiến hóa trầm tích và cổ khí hậu

trong Holocen vùng cửa sơng Hồng”, Tạp chí các Khoa học về Trái Đất, 25,

97-102.

2. Tạ Thị Thảo, giáo trình mơn học, Thống kê trong hóa phân tích, Đại học

Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN.

3. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (2005), Đệ tam trên đất liền. Các phân vị địa

tầng Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội.

II. Tài liệu tiếng anh

4. Aksu, A.E., Yaşar, D., Mudie, P.J., Gillespie, H., (1995), “Late glacial-



5.



6.



7.



8.



9.



Holocene paleoclimatic and paleoceanographic evolution of the Aegean Sea:

micropaleontological

and

stable

isotopic

evidence”,

Marine

Micropaleontology 25, 1-28.

Boutton, T.W., (1996), “Stable Carbon Isotope Ratios of Soil Organic Matter

and their Use as Indicators of Vegetation and Climate Change”, Marcel

Dekker, New York 47–82.

Brodie, C.R., Casford, J.S.L., Lloyd, J.M., Leng, M.J., Heaton, T.H.E.,

Kendrick, C.P., Yongqiang,Z., (2011), “Evidence for bias in C/N, δ 13Cand

δ15N values of bulk organicmatter, and on environmental interpretation,

froma lake sedimentary sequence by pre-analysis acid treatment methods”,

Quat. Sci. Rev. 30, 3076–3087.

Chen Kezao, Bowler J. M (1985), “Preliminary study on sedimentary

characteristics and evolution of palaeoclimate of Qarhan Salt Lake in

Qaidam Basin”, Scientia Sinica (Series B).

Colman, S.M., Jones, G.A., Forester, R.M., Foster, D.S., (1990), “Holocene

paleoclimatic evidence and sedimentation rates from a core in southwestern

Lake Michigan”, J Paleolimnol 4, 269-284.

David L. Foxa., Daniel C. Fisherb, Sergey Vartanyanc, Alexei N. Tikhonovd,

Dick Mole, Bernard Buiguesf (2007), “Paleoclimatic implications of oxygen

isotopic variation in late Pleistocene and Holocene tusks of Mammuthus



60



primigenius from northern Eurasia”, Quaternary International Volumes

169–170, July 2007, Pages 154–165.

10. De Groot, P.A., (2004), Handbook of stable isotope analytical techniques, 1.

Elsevier.

11. Eastwood, W.J., Leng, M.J., Roberts, N., Davis, B., (2007), “Holocene

climate change in the eastern Mediterranean region: a comparison of stable

isotope and pollen data from Lake Gölhisar, southwest Turkey”, Journal of

Quaternary Science 22, 327-341.

12. Grassineau, N.V., (006), “High-precision EA-IRMS analysis of S and C

isotopes in geological materials”, Applied Geochemistry, 21: 756-765.

13. Horita, J. and D. J. Wesolowski, (1994), “Liquid-vapor fractionation of

oxygen and hydrogen isotopes of water from the freezing to the critical

temperature”, Geochimica et Cosmochimica Acta 58:3425-3437.

14. Horng-sheng Mii, G.R. Shi, Chin-an Wang (2013), “Late Paleozoic middlelatitude Gondwana environment-stable isotope records from Western

Australia”, Gondwana Research, Volume 24, Issue 1, 125–138.

15. Jeffrey Alan W.A., (2007), “Application of stable isotope ratios in spilled oil

identification”, Oil Spill Environmental Forensics, Fingerprinting And

Source Identification, 207–227.

16. Lamb, A. L., Wilson, G. P. and Leng, M. J., “A review of coastal

palaeoclimate and relative sea-level reconstructions using δ 13C and C/N

ratios in organic material”, Earth-Science Reviews, 2006.

17. Leng, M.J., Lamb, A.L., Heaton, T.H., Marshall, J.D., Wolfe, B.B., Jones,

M.D., Holmes, J.A., Arrowsmith, C., (2006), “Isotopes in lake sediments”,

Springer.

18. Leng, M.J., Marshall, J.D., (2004), “Palaeoclimate interpretation of stable

isotope data from lake sediment archives”, Quaternary Science Reviews 23,

811-831.

19. Richard Worden, Sadoon Morad (2003), “Clay Mineral Cements in

Sandstone”, (Special Publication 34 of the IAS), Blackwell Publishing.



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Phân tích mẫu thực

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×