Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.

 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.

Tải bản đầy đủ - 0trang

7



Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi

chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành

vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh

tranh giả tạo.3 Dựa trên bản chất đó có thể phân nhóm cho các hành vi cạnh tranh khơng

lành mạnh thành ba nhóm:



 Nhóm 1: Nhóm các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệo khác

Nhóm này được coi là nhóm các hành vi cạnh tranh điển hình nhất. Nó được

thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng

hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh

doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt sử ưu thế cạnh tranh của

doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp. Dạng hành vi này được coi là phổ biến,

điển hình của cạnh tranh khơng lành mạnh. Theo quy định hiện hành của pháp luật

Việt Nam ghi nhận nhóm này có thể bao gồm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn hay

hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. “Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn” thường

xâm phạm đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao

bì, chỉ dẫn địa lý... được in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ cạnh

tranh. Mục đích của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là tạo nên sự nhầm lẫn của

khách hàng về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng

hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình. “Hành vi xâm phạm bí mật kinh

doanh” là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có

hành vi lừa gạt hay lợi dụng người có nghĩa vụ bảo mật để có được thơng tin thuộc

bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu.

Hành vi này nhằm chiếm đoạt, sử dụng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp

khác.



 Nhóm 2: Nhóm các hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác

Nhóm hành vi này có chung bản chất là cơng kích vào các đối thủ cạnh tranh.

Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các

đối thủ cạnh tranh. Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức

rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích cơng kích. Hành vi này có thể là đưa thơng

tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác

hàng hay các đối tác của đối thủ cạnh tranh. Hành vi ép buộc trong kinh doanh;

hành vi gièm pha doanh nghiệp khác; hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp khác đây là các hành vi được ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh

Việt Nam được ghi nhận nằm trong nhóm hành vi này. “Hành vi ép buộc trong

kinh doanh” phương thức thực hiện hành vi này là dùng áp lực để đe dọa hoặc

thực hiện cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh không giao dịch hoặc ngừng

3 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.



8



giao dịch với chính đối thủ cạnh tranh của mình. Mục đích thực hiện hành vi là

nhằm lôi kéo khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để họ

ngừng giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch với doanh nghiệp đó, làm giảm

lượng khách hàng cũng như đối tác làm ăn của đối thủ cạnh tranh với mình.

“Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác” đây là hành vi đưa thông tin sai sự thật

về đối thủ cạnh tranh nhằm là suy giảm uy tín của đối thủ. Hành vi này có thể hình

thành dưới các dạng hình thức như nói xấu, bơi nhọ chất lượng hàng hóa, dịch vụ,

cách thức bán hàng, hay tiềm lực tài chính của đối thủ cạnh tranh. Hành vi này có

thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp không nhất thiết doanh nghiệp này phải

có hành vi trực tiếp thực hiện hành vi gièm pha. “Hành vi gây rối hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp khác” xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, cụ thể

là quấy phá, gây rối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục

đích của hành vi này là cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh

tranh. Hành vi này có thể được doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc thông qua

một chủ thể khác thực hiện, hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động

kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.



 Nhóm 3: Nhóm các hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo

Bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra lợi thế cạnh tranh giả tạo nhằm lối kéo

khác hàng. Khác hàng là đối tượng bị tác động trực tiếp trong nhóm hành vi này,

về phía các doanh nghiệp khác chịu tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp khi

bị mất đi nguồn khách hàng. Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận các hành

vi thuộc nhóm này là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh,

khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và bán hàng đa cấp bất chính.

“Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh khơng lành mạnh” có thể hiểu hành vi

quảng cáo nhằm cạnh tranh khơng lành mạnh là hành vi quảng cáo trái pháp luật,

trái với hiện thực, thực chất của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách quảng

cáo theo kiểu so sánh hàng hóa, dịch vụ, bắt chước sản phẩm quảng cáo khác, đưa

thông tin gian dối cho khách hàng... Đây là hành vi cạnh tranh xâm hại trực tiếp

đến đối thủ cạnh tranh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. “Hành vi

khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh” có thể thấy biểu hiện của hành

vi này là các hoạt động khuyến mại bất chính, khơng trung thực nhằm lừa dối để

thu hút khác hàng về phía mình. Cụ thể như hành vi tổ chức khuyến mại gian dối

về giả thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch

vụ, … Các hành vi này có thể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến

hành thông qua thương nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ khuyến mại của mình.

“Hành vi bán hàng đa cấp bất chính” những quy định của pháp luật về hành vi

này mục đích là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người tham gia mạng

lưới bán hàng đa cấp, cũng như hạn chế việc tổn hại về kinh tế cho những người

tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính.



9



CHƯƠNG II . Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh không lành

mạnh và Kiện nghị hoàn thiện

II.1.



Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam



Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, thì các hoạt động cạnh tranh đang diễn

ra một cách khốc liệt, mang lại sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác của đời

sống xã hội. Nhưng một số doanh nghiệp vì muốn chiếm ưu thế cạnh tranh để tăng lợi

nhuận đã không thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách lành mạnh mà sử dụng

những phương thức thủ đoạn khác nhau thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành

mạnh mà pháp luật quy định cấm thực hiện.

Hơn thế nữa, hiện nay những thành tựu của cuộc Cách mạng cơng nghiệp 4.0 đã có

những tác động khơng hề nhỏ đến tình hình chung của mọi mặt đời sống xã hội mà còn

tác động đến hoạt động cạnh tranh. Một số doanh nghiệp đã lợi dụng những thành tựu đó,

đặc biệt là các thành tựu trong cơng nghệ thơng tin và Internet để thực hiện các hành vi

cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay khi thương mại điện tử phát triển một cách cực

thịnh, người tiêu dùng có thể mua bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào ở bất cứ thời gian, bất cứ

nơi nào chỉ với một cú “Click” thông qua các trang bán hàng hay mạng xã hội. Nhưng họ

lại không thể xác định rõ các xuất xứ, công dụng, mẫu mã, chất lượng, … nhưng thông tin

chỉ được biết theo một chiều từ doanh nghiệp cung cấp mà khách hàng khó có thể kiểm

chứng. Khơng ít các doanh nghiệp đã lợi dụng điểm này nhằm thực hiện các hành vi cạnh

tranh không lành mạnh như: quảng cáo khơng trung thực về hàng hóa, chỉ dẫn gây nhầm

lẫn,… Khơng những thế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cũng tăng

cao khi mà việc sản xuất một mặt hàng là không thể đơn giản hơn với các thành tựu của

công nghệ hiện nay. Vậy trong những năm gần đây đã có bao nhiều vụ vi phạm quy định

về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra, xử lí?

Thơng qua báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh 4, dưới đây là bảng thống

kê điều tra vụ việc cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015.



Bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.



4 Cục Quản lý Cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên 2015



10



Các loại hành vi

cạnh tranh không

lành mạnh



2009



2010



2011



2012



2013



2014



2015



5



20



33



37



2



6



24



2



2



4



1



Quảng cáo nhằm

cạnh tranh không lành

mạnh

Khuyến mại nhằm

cạnh tranh không lành

mạnh

Gièm pha doanh

nghiệp khác

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Bán hàng đa cấp bất

chính



2



1

3



4



1

1



3



1



4



Gây rối hoạt động

kinh doanh của doanh



1



nghiệp khác

Tổng số



14



28



36



41



3



7



28



Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh

có diễn biến phức tạp trong những năm qua. Hành vi vi phạm chiếm đa số là hành vi

quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

Trong năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tố 46 vụ việc liên quan

đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, qua đó khởi xướng điều tra 28 vụ việc đồng thời

hoàn thành điều tra và ban hành quyết định xử lý đối với 02 vụ việc khởi xướng từ năm

2014. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh được khởi xướng điều tra trong năm

2015 chủ yếu là: Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh

trực tiếp, bán hàng đa cấp bất chính.

Trong năm 2016 Cục Quản lý Cạnh tranh cũng thực hiện hàng loạt xử phạt đối với

nhiều công ty bán hàng đa cấp, 14 công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động

bán hàng đa cấp, 11 doanh nghiệp tạm ngừng và chấm dứt hoạt động. Hiện số doanh



11



nghiệp hoạt động giảm từ 67 công ty trong năm 2015 xuống còn 40 doanh nghiệp hoạt

động trong năm 2016. Số người tham gia bán hàng đa cấp giảm còn khoảng 500.000

người, giảm 57% so với cùng kỳ năm 2015 là khoảng 1,2 triệu người. Đầu năm 2017 Cục

Quản lý Cạnh tranh (Bộ Công Thương) cũng thực hiện chấm dứt hoạt động kinh doanh

của hai doanh nghiệp đa cấp là Công ty TNHH Triwonder International và Công ty

TNHH Isagenix Việt Nam vì lý do cơng ty này khơng triển khai hoạt động bán hàng đa

cấp trong thời hạn 12 tháng liên tục kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt

động bán hàng đa cấp5.

II.2.



Xử lí Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh



II.2.1.



Quy định của pháp luật về xử lí hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh



Quy định về việc xử lí hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh được quy định theo Luật

cạnh tranh 2004. Ngoài ra còn được quy định tại Luật sở hữu trí tuệ 2005. Hành vi cạnh

tranh không lành mạnh là hành vi gây nguy hại cho xã hội, ảnh hưởng đến các đối thủ

cạnh tranh nói riêng cũng như đến mơi trường cạnh tranh nói chung. Pháp luật quy định

các biện pháp chế tài phù hợp để áp dụng đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh

nhằm đảm bảo tạo một môi trường cạnh tranh lành mạnh, bảo đảm lợi ích của Nhà nước,

quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và người tiêu dùng.

 Đối tượng áp dụng các hình thức xử lí

Đối tượng bị áp dụng chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các chủ

thể thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh thực hiện hành vi cạnh tranh không

lành mạnh bị cấm. Vậy nên đối tượng có thể bị áp dụng chế tài có thể là tổ chức, cá nhân

kinh doanh như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh

nghiệp tư nhân; Hợp tác xã; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi; Doanh nghiệp của

các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội; hộ kinh doanh; cá nhân khơng có đăng ký

kinh doanh như người bán hàng rong, làm dịch vụ có thu nhập thấp và Hiệp hội ngành

nghề (Khoản 2 Điều 3 Luật Cạnh tranh 2004) thực hiện hành vi cạnh tranh khơng lành

mạnh bị cấm.



 Thẩm quyền xử lí

Căn cứ vào Điểm d Khoản 2 Điều 49 Luật Cạnh tranh và Điều 40 Nghị định số

71/2014/NĐ-CP, thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh thuộc về cơ quan

Quản lý cạnh tranh, hiện này là Cục quản lý cạnh tranh trực thuộc Bộ cơng thương. Cơ

quan này có chức năng chính là là giúp Bộ trưởng Bộ Cơng Thương thực hiện quản lý nhà

nước về cạnh tranh, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chống bán phá giá, chống trợ cấp

và tự vệ trong nhập khẩu hàng hóa nước ngồi vào Việt Nam được quy định trong Nghị

5 Bình Ngun, Thêm hai cơng ty đa cấp bị xóa sổ, 20/02/2017



12



định số 06/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 09/01/2006 quy định chức năng, nhiệm vụ,

quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cục Quản lý cạnh tranh. Cục Quản lý cạnh tranh là cơ

quan có chức năng tiến hành điều tra, xử lý các hành vi cạnh tranh không lành mạnh được

quy định trong Luật Cạnh tranh.

II.2.2.



Căn cứ xử lí hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh



Thứ nhất, phải có hành vi cạnh tranh không lành mạnh: Hành vi cạnh tranh có bản

chất là hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh, hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh

nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh tranh giả tạo.

Thứ hai, phải có thiệt hại hoặc khả năng thiệt hại trong cạnh tranh không lành mạnh.

Thiệt hại là một đặc điểm cơ bản của hành vi cạnh tranh không lành mạnh và là điểm

phân biệt giữa cạnh tranh không lành mạnh với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh. Việc xác

định thiệt hại hay khả năng gây thiệt hại là một yêu cầu bắt buộc và cần thiết để bên bị hại

có căn cứ đòi bồi thường và cơ quan có thẩm quyền áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại

hay các chế tài khác để xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ ba, phải có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh và

thiệt hại. Quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và thiệt hại là mối quan hệ trực tiếp,

không phải là sự suy diễn chủ quan. Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là hành vi diễn

ra trước, thiệt hại trực tiếp do hành vi đó gây ra xảy ra sau. Bên thực hiện hành vi cạnh

tranh không lành mạnh chỉ phải chịu trách nhiệm pháp lý và các chế tài tương ứng khi gây

ra thiệt hại nhất định cho đối thủ cạnh tranh, mà nguyên nhân trực tiếp là hành vi cạnh

tranh khơng lành mạnh của mình.

Thứ tư, phải có lỗi trong cạnh tranh không lành mạnh. Lỗi là trạng thái tâm lý của

người có hành vi vi phạm, phản ánh nhận thức của người đó đối với hành vi và hậu quả

của hành vi mà họ thực hiện. Hành vi cạnh tranh bị coi là có lỗi và khơng lành mạnh là

hành vi vi phạm các tập quán nghề nghiệp, phá vỡ quan hệ bình đẳng, cơng bằng trong

quan hệ cạnh tranh trên thị trường.

II.2.3.



Chế tài đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh



Theo quy định của Luật Cạnh tranh Việt Nam, các hình thức chế tài xử lý vi phạm về

cạnh tranh không lành mạnh chủ yếu là các chế tài hành chính. Ngồi ra còn có chế tài về

hình sự cũng như dân sự trong một số trường hợp.



 Chế tài hành chính

Căn cứ theo Khoản 1 của Điều 117 Luật Cạnh tranh 2004 có quy định, tổ chức, cá

nhân thực hiện hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh phải chịu một trong các hình thức

xử phạt chính là cảnh cáo hoặc phạt tiền. Cụ thể hình thức phạt tiền và mức phạt tiền



13



tối đa là 100.000.000 đồng đối với cá nhân và 200.000.000 đồng đối với tổ chức theo

Khoản 1 Điều 5 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Ngồi bị phạt tiền, các hành vi cạnh

tranh khơng lành mạnh có thể bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung theo quy định

tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP. Các hành phạt bổ sung bao gồm: Tịch thu tang vật,

phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm, thu hồi Giấy chứng nhận đăng

ký kinh doanh. Hơn thế nữa, Pháp luật cạnh tranh chỉ quy định biện pháp khắc phục

hậu quả duy nhất là buộc cải chính cơng khai đối với các chủ thể thực hiện từng hành

vi cạnh tranh không lành mạnh nhất định.

 Chế tài hình sự

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi cạnh tranh không lành mạnh

được quy định tại chương XVIII Bộ Luật hình sự 2015. Cụ thể các tội phạm khác xâm

phạm trật tự quản lí kinh tế: Tội sản xuất, bn bán hàng giả (Điều 192); Tội sản xuất,

buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, phụ gia thực phẩm (Điều 193); Tội sản

xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh (Điều 194); Tội sản

xuất, bn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn ni, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo

vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi (Điều 195); Tội cố ý công bố thông tin sai lệch

hoặc che giấu thông tin trong hoạt động chứng khốn (Điều 209); Tội sử dụng thơng

tin nội bộ để mua bán chứng khoán (Điều 210); Tội thao túng thị trường chứng khoán (

Điều 211); Tội vi phạm quy định về cạnh tranh (Điều 217); Tội vi phạm quy định về

kinh doanh theo phương thức đa cấp (Điều 217a); Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền

liên quan (Điều 225); Tội xâm phạm quyền sở hữu cơng nghiệp (Điều 226). Hình phạt

áp dụng đối với các tội danh trên thường là phạt tiền, cải tạo khơng giam giữ hoặc tù có

thời hạn. Ngồi ra, còn có thể áp dụng các biện pháp tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài

sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định.



 Chế tài dân sự

Bồi thường thiệt hại là một chế định quan trọng trong hệ thống chế tài áp dụng đối

với hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Chức năng chủ yếu của bồi thường thiệt hại

là khôi phục, đền bù, nhằm bù đắp những tổn thất về vật chất và tinh thần mà bên

mang quyền phải gánh chịu do hành vi vi phạm các quy tắc trong kinh doanh của bên

kia gây ra. Theo Điều 6 Nghị định số 71/2014/NĐ-CP ngày 21/07/2014, xử lý vi phạm

pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh thì vấn đề bồi thường thiệt hại được dẫn chiếu thực

hiện theo các quy định của pháp luật về dân sự. Vấn đề khởi kiện đòi bồi thường thiệt

hại đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ được áp dụng theo các quy định về

trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, tại chương XX của Bộ luật dân sự

2015 và pháp luật có liên quan.Yêu cầu bồi thường thiệt hại là một quyền mặc định

được pháp luật thừa nhận, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho các chủ thể bị xâm

phạm đến quyền và lợi ích của mình. Vì vậy, chế tài bồi thường thiệt hại có thể áp



14



dụng đồng thời với các chế tài khác.

II.3.

Sự thay đổi về quy định Hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong

Luật Cạnh tranh 2018

Luật Cạnh Tranh 2018 đã thay đổi một số quy định về cạnh tranh không lành mạnh

so với Luật Cạnh Tranh 2004. Luật Cạnh tranh 2018, các hành vi như "quảng cáo nhằm

cạnh tranh không lành mạnh”, "Phân biệt đối xử của Hiệp hội”, "Bán hàng đa cấp bất

chính” khơng còn được quy định là hành vi cạnh tranh không lành mạnh chịu sự điều

chỉnh bởi pháp luật cạnh tranh nữa. Bởi các hành vi này đã được điều chỉnh bởi các văn

bản pháp luật mang tính chất chuyên ngành khác như Luật Quảng cáo, Nghị định

42/2014/NĐ-CP về Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, ... Việc quy định như vậy sẽ tránh

được sự mâu thuẫn và chồng chéo về thẩm quyền cũng như hình thức xử lý, đảm bảo

nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật. Và việc bãi bỏ quy định về hành vi “bán hàng đa

cấp bất chính” và “phân biệt đối xử của hiệp hội”, do các hành vi này không phản ánh

đúng bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Các hành vi Ép buộc trong kinh

doanh, Gièm pha doanh nghiệp khác, Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

khác nhìn chung khơng sự thay đổi về bản chất cũng như hành vi so với luật canh 2018.

Tại Luật cạnh tranh 2018, đã có sự thay đổi một số quy định về hành vi cạnh tranh

không lành mạnh, cụ thể là:

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn, Nếu doanh nhân doanh nghiệp nào mà thiết kế logo, sử

dụng mẫu mã bao bì đóng gói, đặt tên gọi hàng hóa của mình tương tự tên gọi hàng

hóa của đối thủ cạnh tranh dẫn đến nhầm lẫn cho người tiêu dùng thì đây là hành vi

cạnh tranh khơng lành mạnh đòi hỏi các cơ quan hành chính phải xủ lý ngay từ khi

đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký bản quyền kiểu dáng mẫu mã, logo, slogan

cũng như tên gọi cho hàng hóa...(Điều 40, Luật cạnh tranh 2004). Theo Luật cạnh

tranh 2018 thì thay đổi bằng hành vi lơi kéo khách hàng bất chính và cụ thể hóa tại

điểm a, khoản 5, Luật canh tranh 2018: Đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn

cho khách hàng về doanh nghiệp hoặc hàng hóa, dịch vụ.

So sánh hàng hóa của doanh nghiệp mình với hàng hóa của doanh nghiệp

khác nhưng khơng chứng minh được nội dung, Tại Khoản 1, Điều 45, Luật cạnh

tranh 2004 quy định: chỉ cần so sánh trực tiếp sản phẩm của doanh nghiệp mình với

doanh nghiệp khác thì đã là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, Luật

Cạnh tranh 2018 đã thu hẹp phạm vi điều chỉ của quy định này, theo đó thì việc so

sánh hàng hóa và khơng chứng minh được nội dung thì mới bị coi là hành vi cạnh

tranh không lành mạnh.

Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh, hành vi này được Luật cạnh

tranh 2018 cụ thể bằng hành vi Bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ dưới giá thành tồn



15



bộ dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến loại bỏ doanh nghiệp khác cùng kinh doanh

loại hàng hóa, dịch vụ đó.

II.4.



Kiến nghị hồn thiện



Thực tế cho thấy, cạnh tranh khơng lành mạnh ở Việt Nam diễn ra vô cùng phức tạp,

phổ biến và rộng khắp các lĩnh vực của nền kinh tế. Song những năm gần đây khi mà nhu

cầu xử lý và giải quyết tranh chấo cao nhưng số vụ được đưa ra ánh sáng còn ít, bên cạnh

đó người bị hại thì còn “ngại’’ đi kiện. Vì cậy chúng ta cần có những biện pháp xử lý và

giải quyết tranh chấp cạnh tranh không lành mạnh để xây dựng một mơi trường cạnh

tranh lành mạnh, cơng bằng, bình đẳng và phát triển.

1. Hoàn thiện các quy định pháp luật về chống cạnh tranh không lành mạnh.

a) Xây dựng hệ thống các văn bản hướng dẫn thi hanh cho Luật cạnh tranh 2018 một

cách cụ thể. Để khi áp dụng vào thực tiễn khơng diễn ra sự khó hiểu hay hiểu sai

tinh thần của Luật cạnh tranh 2018.

b) Bổ sung một số hành vi cạnh tranh không lành mạnh mới vào luật cạnh tranh Việt

Nam

Các quy định về cạnh tranh không lành mạnh liên quan đến sở hữu công nghệ

trong luật cạnh tranh 2018 chỉ mang tính liệt kê song vẫn chưa bao quát hết được

các trường hợp trong thực tế. Điển hình hành vi chiếm đoạt tên miền trên internet

cần được bổ sung vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Ngoài ra các hành vi

như “ chấm dứt đột ngột quan hệ kinh doanh với các đối tác” mà không thông báo

trước một thời gian hợp lý hay hành vi “từ chối kinh doanh khơng có lý do chính

đáng” hoặc “phân biệt về giá” những hành vì này xảy ra khá phổ biến trong thực tế

kinh doanh và gây hậu quả tương đối nghiêm trọng vì vậy nên bổ sung 3 hành vi

này vào hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

c) Đề xuất về địa chỉ áp dụng của luật cạnh tranh năm 2018

Pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh của hầu hết các nước đều quy định

tất cả các chủ thể tham gia thị trường nhằm mục đích cạnh tranh đều là địa chỉ áp

dụng của luật chứ khơng chỉ bó hẹp là doanh nghiệp như luật cạnh tranh của Việt

Nam. Do vậy, để đảm bảo tính hiệu quả và tác động đến tất cả các đối tượng tham

gia trên thị trường thì luật cạnh tranh 2018 cần được áp dụng cho tất cả các chủ thể

tham gia trên thị trường với mục đíc cạnh tranh.

2. Về thẩm quyền xử lý hành vi cạnh tranh không lành mạnh

Về năng lực và thẩm quyền của các cơ quan giải quyết tranh chấp cũng như những

quy định của Luật Cạnh Tranh còn nhiều hạn chế. Vì vậy mặc dù số lượng hành vi



16



cạnh tranh không lành mạnh ngày càng gia tăng với tính chất ngày càng phức tạp

song số vụ được các cơ quan đứng ra giải quyết tranh chấp còn hạn chế, chưa

tương xứng nhu cầu. Do có sự chồng chéo về thẩm quyền trong việc xử lý hành vi

cạnh tranh không lành mạnh nên doanh nghiệp không biết tố cáo ở đây, tố cáo như

thế nào. Đây cũng là nguyên nhân khiến doanh nghiệp ngại tố cáo các hành vi vi

phạm. Ví dụ như trường hợp một doanh nghiệp có hành vi vtklm tổng hợp từ nhiều

vi phạm khác nhau như quyền tác giả, nhãn hiệu hàng hóa…. Nằm trên bao bì sản

phẩm. Khi đó thanh tra bộ khoa học và công nghệ chỉ xử lý đến vấn đề liên quan

đến bảo hộ thương hiệu hàng hóa, bộ văn hóa thể thao và du lịch lại xử lý vấn đề

liên quan đến bản quyền tác giả, Cục quản lý cạnh tranh- bộ công thương lại chịu

trách nhiệm phát hiện và xử lý hành vi này.

Do vậy, Luật Cạnh Tranh cần quy định rõ ràng và cụ thể trách nhiệm của từng cơ

quan. Tuy nhiên nếu để cho một cơ quan duy nhất chun mơn hóa xử lý các hành

vi cạnh tranh khơng lành mạnh thì cần phải quy định sự hỗ trợ về mặt kỹ thuật đặc

thù cho từng cơ quan có liên quan.

3. Sử dụng thực tiễn tư pháp trong việc giải quyết vụ việc cạnh tranh khơng lành

mạnh.

Có thể khẳng định rằnng Luật Cạnh Tranh của Việt Nam còn nhiều “kẻ hở”.Pháp

luật cạnh tranh không thể liệt kê hết được các hành vi cạnh tranh không lành mạnh.

Các điều tra viên phải đối mặt với những vụ việc thực tế chưa bao giờ xảy ra tại

Việt Nam cũng như không được quy định rõ ràng trong luật. Do đó các vụ xử lý về

cạnh tranh khơng lành mạnh nếu có thể cần phải được tuyên bố công khai để

những nhà làm luật cũng như cơng chúng có được thơng tin cũng như “căn cứ” để

xử lý nhữn vụ việc tương tự xảy ra sau này. Việc sử dụng thực tiễn tư pháp trong

việc giải quyết tranh chấp nên coi là một “án lệ” đề các cơ quan quản lý cạnh tranh

hay tòa án đúc rút kinh nghiệm cho các vụ việc tương tự xảy ra sau này được giải

quyết thỏa đáng, khách quan và nhanh chóng hơn.

4. Nâng cao ý thức pháp luật và tự bảo vệ của doanh nghiệp và người tiêu dùng.

a) Về phía doanh nghiệp

Thực tế hiện nay có rất nhiều doanh nghiệp được thành lập thậm chí cả những

doanh nghiệp tồn tại lâu đời vẫn chưa nhận thức được đầy đủ tầm quan trọng

của ý thức pháp luật trong kinh doanh. Họ chưa thực sự hiểu pháp luật cho họ

những quyền gì, ngược lại họ phải có những nghĩa vụ gì và pháp luật quy định

như thế nào về những hoạt động mà họ quan tâm. Vì vậy các doanh nghiệp cần

nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh đồng thời cũng nâng cao ý thức tự

bảo vệ mình trước các hành vi cạnh tranh không lành mạnh của đối thủ cạnh

tranh.



17



b) Khả năng tự bảo vệ của người tiêu dùng

Thực tế hiện nay những hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh còn làm xâm hại

đến quyền lợi của người tiêu dùng và còn có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe

và tính mạng của họ nữa. Điều đáng lo là kiến thức tiêu dùng của người Việt

Nam còn thấp. Vì vậy mỗi người tiêu dùng hãy tự cập nhật học hỏi và bổ sung

kiến thức cho mình để tự bảo về lợi ích chính đáng của mình. Người tiêu dùng

cần phải mạnh khiếu nại tố cáo tới các cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu đổi

hàng hóa đúng chất lượng, đòi bồi thường thiệt hại cho mình và bảo về quyền

lợi cho cộng đồng người tiêu dùng.



Kết luận

Qua tìm hiểu về thực tiễn áp dụng quy định về hành vi cạnh tranh khơng lành mạnh

có ý nghĩa trong cơng cuộc đấu tranh phòng chống hành vi vi phạm pháp luật Cạnh tranh.

Từ đó, góp phần hồn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam, công cuộc lập pháp ln nắm

vai trò quan trọng và thiết yếu trọng sự phát triển của kinh tế - xã hội. Để có được một

mơi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, cơng bằng, đảm bảo phát huy mọi tiềm

năng kinh tế của đất nước và hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thì Việt Nam cần

có một hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và hồn thiện, có cơ chế đảm bảo cho các

doanh nghiệp trong nước phát huy mọi nội lực, tăng sức cạnh tranh trên thương trường,

đảm bảo cho các doanh nghiệp nước ngồi một mơi trường kinh doanh công bằng, thuận

lợi. Để công tác đấu tranh phòng, chống cạnh tranh khơng lành mạnh phát huy hiệu quả

trong thực tế thì bên cạnh việc nâng cao năng lực thực thi pháp luật của cơ quan Nhà

nước có thẩm quyền nói chung và hiệu lực thực thi nhiệm vụ của cơ quan quản lý cạnh

tranh nói riêng thì cơng tác tun truyền, phổ biến, giáo dục cũng rất cần được quan tâm

trong cộng đồng để nâng cao khả năng tự bảo vệ của các đối tượng có liên quan, đưa pháp

luật về chống cạnh tranh không lành mạnh đến gần với các chủ thể kinh doanh để nâng

cao khẳ năng tự vệ, hình thành thói quen, xây dựng đạo đức kinh doanh nhằm đảm bảo

cho pháp luật về chế tài đối với hành vi cạnh tranh không lành mạnh có hiệu quả trên thực

tế.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×