Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



tế là sự chạy đua giữa các “doanh nghiệp” trên thị trường nhằm không ngừng tung ra thị

trường những sản phẩm, dịch vụ tốt nhất với giá cả thấp nhất nhằm thu hút, lơi kéo khách

hàng về phía mình, cùng với mục định tối ưu hóa lợi nhuận có thể đạt được của doanh

nghiệp. Vì thế nhiều doanh nghiệp thực hiện hành vi cạnh tranh theo nhiều hình thái khác

nhau, và một trong số đó là hình thái “Cạnh tranh không lành mạnh”. Vậy hành vi cạnh

tranh không lành mạnh sẽ được hiểu như thế nào? Và nó sẽ có tác động như thế nào đến

nền kinh tế thị trường?

 Cạnh tranh khơng lành mạnh

Dựa trên tính chất của các hành vi cạnh tranh, có thể chia cạnh tranh thành hai hình

thái là: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh.

Cạnh tranh lành mạnh là các hành vi cạnh tranh thực hiện tuân theo các nguyên tắc

của pháp luật, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác của kinh doanh.

Cạnh tranh khơng lành mạnh là một hình thái đối lập với cạnh tranh lành mạnh về tính

chất của hành vi. Khi các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh mà trái với

nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán kinh tế hay các chuẩn mực khác trong kinh

doanh dẫn đến việc gây thiệt hại hoặc có khả năng gây thiệt hại cho quyền, lợi của các

doanh nghiệp khác, thì đây được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Một hành

vi được xem là hành vi cạnh tranh không lành mạnh phụ thuộc vào các nguyên tắc cũng

như tập quán thương mại hay các chuẩn mực khác trong kinh doanh. Mặc khác sự vận

động của xã hội và nhận thức của các quốc gia sẽ thay đổi về các nguyên tắc, tập quán

hay các chuẩn mực đó. Vì vậy, khái niệm cạnh tranh khơng lành mạnh chỉ có tính chất

tương đối.

I.1.2. Đặc điểm Cạnh Tranh khơng lành mạnh

Dựa trên khái niệm đã trình bày có thể thấy rõ ba đặc điểm cơ bản thể hiện bản chất

của hành vi cạnh tranh không lành mạnh:

Thứ nhất, Hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh.

Đặc điểm này thể hiện quy định về đối tượng áp dụng của Luật cạnh tranh. Theo

đó, chủ thể thực hiện hành vi cạnh tranh chỉ bao gồm các doanh nghiệp theo

nghĩa rộng, thuộc mọi thành phần kinh tế, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể,

doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, các hiệp hội ngành nghề.

Những đối tượng còn lại như các đơn vị sự nghiệp, các tổ chức của người tiêu

dùng, các đơn vị truyền thông, các tổ chức phi kinh tế… không là đối tượng áp

dụng các quy định của pháp luật về cạnh tranh không lành mạnh. Nhưng trên

thực tế vẫn có những trường hợp một số tổ chức phi kinh tế, các đơn vị truyền

thông, … thực hiện những hành vi xâm phạm đến quyền cạnh tranh lành mạnh

của doanh nghiệp, Ví dụ: việc đưa tin sai sự thật về doanh nghiệp, về hàng hóa,

dịch vụ…. của các đơn vị truyền thông. Với quy định trên, chủ thể thực hiện hành vi

bị hạn chế nên pháp luật cạnh tranh không áp dụng để xử lý những tình huống



6



trên. Mặt khác, đặc điểm này cũng khẳng định hành vi cạnh tranh không lành

mạnh xảy ra trong kinh doanh ở mọi ngành, mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế,

mọi công đoạn của quá trình kinh doanh. Pháp luật về hành vi cạnh tranh

không lành mạnh được áp dụng cho mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực kinh tế. Nói

cách khác, pháp luật không giới hạn áp dụng cho bất kỳ ngành nghề, lĩnh vực

hoặc hoạt động kinh doanh nào của kinh tế quốc dân.

Thứ hai, hành vi cạnh tranh trái với nguyên tắc thiện chí, trung thực, tập quán

thương mại và các chuẩn mực khác trong kinh doanh.

Đây là căn cứ để xác định tính khơng lành mạnh của hành vi cạnh tranh, phân biệt

giữa cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Khi một hành vi cạnh

tranh đi ngược với nguyên tắc thiện chí, trung thực hay tập quán tương mại hay các

chuẩn mực khác trong kinh doanh thì đó được xem là một hành vi cạnh tranh khơng

lành mạnh. Theo sự phát triển của nên kinh tế thị trường thì các nguyên tắc cũng như

chuẩn mực này sẽ thay đổi phụ thuộc theo sự phát triển đó. Do đó, dựa trên căn cứ này

thì hành vi cạnh tranh không lành mạnh sẽ biến đổi cũng như thay đổi khơng ngừng

trên thực tế mà khó có thể định hình rõ ràng và đầy đủ về những hành vi nào là hành vi

cạnh tranh không lành mạnh.

Thứ ba, hành vi gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp

pháp của doanh nghiệp khác.

Một hành vi cạnh tranh khi thực hiện gây ra thiệt hại thực tế hoặc có khả năng gây

thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác. Theo Luật Chống cạnh

tranh khơng lành mạnh của Cộng hòa liên bang của Đức, cấm “các hành vi cạnh tranh

không lành mạnh có thể gây ảnh hưởng đáng kể về cạnh tranh làm tổn hại đến đối thủ

cạnh tranh, người tiêu dùng và các chủ thể tham gia thị trường khác”. Luật Cạnh

tranh thương mại của Vương quốc Thái Lan cũng có quy định tương tự: “Thương

nhân khơng được tiến hành các hoạt động cạnh tranh không tự do và không bình

đẳng, khơng được tiến hành các hoạt động gây thiệt hại, cản trở hoặc hạn chế đối với

những hoạt động của những thương nhân khác…”2. Có thể thấy đây là đặc điểm để

phân biệt giữa hành vi cạnh tranh không lành mạnh so với các thỏa thuận hạn chế cạnh

tranh. Trong khi các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh là sự thống nhất hành động của

nhóm doanh nghiệp nhằm giảm bớt hoặc loại bỏ đối thủ cạnh tranh, hạn chế khả năng

hành động độc lập của đối thủ cạnh tranh, làm thay đổi tình trạng và quy luật cạnh

tranh trên thị trường. Thoả thuận hạn chế cạnh tranh, không cần phải xác định chính

xác đối tượng và mức độ thiệt hại vật chất cụ thể, chỉ cần phân tích bản chất và diễn

biến của hành vi để kết luận về những tác động của nó đến tình hình cạnh tranh trên thị

trường liên quan. Còn ở hành vi cạnh tranh không lành mạnh phải xác định được mức

độ gây thiệt hại hoặc khả năng gây thiệt hại của hành vi mà các chủ thể thực hiện.

I.2.



Các Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh



2 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hồn thiện.



7



Dưới góc độ kinh tế, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh là các hành vi

chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp hoặc là hành

vi huỷ hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác hoặc là hành vi tạo ra ưu thế cạnh

tranh giả tạo.3 Dựa trên bản chất đó có thể phân nhóm cho các hành vi cạnh tranh khơng

lành mạnh thành ba nhóm:



 Nhóm 1: Nhóm các hành vi chiếm đoạt ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệo khác

Nhóm này được coi là nhóm các hành vi cạnh tranh điển hình nhất. Nó được

thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau như gây nhầm lẫn về nguồn gốc hàng

hóa, dịch vụ, lợi dụng thành quả đầu tư của người khác, xâm phạm bí mật kinh

doanh… Bản chất của hành vi này là việc chiếm đoạt sử ưu thế cạnh tranh của

doanh nghiệp khác một cách bất hợp pháp. Dạng hành vi này được coi là phổ biến,

điển hình của cạnh tranh khơng lành mạnh. Theo quy định hiện hành của pháp luật

Việt Nam ghi nhận nhóm này có thể bao gồm hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn hay

hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh. “Hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn” thường

xâm phạm đến tên thương mại, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao

bì, chỉ dẫn địa lý... được in trên sản phẩm hàng hóa, hay dịch vụ của đối thủ cạnh

tranh. Mục đích của hành vi chỉ dẫn gây nhầm lẫn là tạo nên sự nhầm lẫn của

khách hàng về hàng hóa dịch vụ của doanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh với hàng

hóa, dịch vụ của chính doanh nghiệp mình. “Hành vi xâm phạm bí mật kinh

doanh” là tiếp nhận, thu thập, sử dụng, tiết lộ hoặc vi phạm hợp đồng bảo mật, có

hành vi lừa gạt hay lợi dụng người có nghĩa vụ bảo mật để có được thơng tin thuộc

bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác khi chưa có sự đồng ý của chủ sở hữu.

Hành vi này nhằm chiếm đoạt, sử dụng ưu thế cạnh tranh của các doanh nghiệp

khác.



 Nhóm 2: Nhóm các hành vi hủy hoại ưu thế cạnh tranh của doanh nghiệp khác

Nhóm hành vi này có chung bản chất là cơng kích vào các đối thủ cạnh tranh.

Có thể là hành vi để triệt tiêu, hành vi làm suy giảm các lợi thế cạnh tranh của các

đối thủ cạnh tranh. Hành vi nhóm này thường được thực hiện dưới các hình thức

rất đa dạng, nó phụ thuộc vào mục đích cơng kích. Hành vi này có thể là đưa thơng

tin sai sự thật nhằm là giảm uy tín của đối thủ cạnh tranh hay lôi kéo, ép buộc khác

hàng hay các đối tác của đối thủ cạnh tranh. Hành vi ép buộc trong kinh doanh;

hành vi gièm pha doanh nghiệp khác; hành vi gây rối hoạt động kinh doanh của

doanh nghiệp khác đây là các hành vi được ghi nhận trong pháp luật cạnh tranh

Việt Nam được ghi nhận nằm trong nhóm hành vi này. “Hành vi ép buộc trong

kinh doanh” phương thức thực hiện hành vi này là dùng áp lực để đe dọa hoặc

thực hiện cưỡng ép khách hàng, đối tác kinh doanh không giao dịch hoặc ngừng

3 ThS.LS Lê Văn Sua, Cạnh tranh không lành mạnh theo luật cạnh tranh năm 2004 và kiến nghị hoàn thiện.



8



giao dịch với chính đối thủ cạnh tranh của mình. Mục đích thực hiện hành vi là

nhằm lơi kéo khách hàng hoặc đối tác kinh doanh của đối thủ cạnh tranh để họ

ngừng giao dịch hoặc không thực hiện giao dịch với doanh nghiệp đó, làm giảm

lượng khách hàng cũng như đối tác làm ăn của đối thủ cạnh tranh với mình.

“Hành vi gièm pha doanh nghiệp khác” đây là hành vi đưa thông tin sai sự thật

về đối thủ cạnh tranh nhằm là suy giảm uy tín của đối thủ. Hành vi này có thể hình

thành dưới các dạng hình thức như nói xấu, bơi nhọ chất lượng hàng hóa, dịch vụ,

cách thức bán hàng, hay tiềm lực tài chính của đối thủ cạnh tranh. Hành vi này có

thể được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp không nhất thiết doanh nghiệp này phải

có hành vi trực tiếp thực hiện hành vi gièm pha. “Hành vi gây rối hoạt động kinh

doanh của doanh nghiệp khác” xâm phạm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh, cụ thể

là quấy phá, gây rối với các hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh tranh. Mục

đích của hành vi này là cản trở, gián đoạn hoạt động kinh doanh của đối thủ cạnh

tranh. Hành vi này có thể được doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc thông qua

một chủ thể khác thực hiện, hành vi này ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động

kinh doanh của đối thủ cạnh tranh.



 Nhóm 3: Nhóm các hành vi tạo ưu thế cạnh tranh giả tạo

Bản chất của nhóm hành vi này là tạo ra lợi thế cạnh tranh giả tạo nhằm lối kéo

khác hàng. Khác hàng là đối tượng bị tác động trực tiếp trong nhóm hành vi này,

về phía các doanh nghiệp khác chịu tác động trực tiếp hoặc tác động gián tiếp khi

bị mất đi nguồn khách hàng. Pháp luật hiện hành của Việt Nam ghi nhận các hành

vi thuộc nhóm này là hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh,

khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh và bán hàng đa cấp bất chính.

“Hành vi quảng cáo nhằm cạnh tranh khơng lành mạnh” có thể hiểu hành vi

quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh là hành vi quảng cáo trái pháp luật,

trái với hiện thực, thực chất của hàng hóa, dịch vụ được thực hiện bằng cách quảng

cáo theo kiểu so sánh hàng hóa, dịch vụ, bắt chước sản phẩm quảng cáo khác, đưa

thông tin gian dối cho khách hàng... Đây là hành vi cạnh tranh xâm hại trực tiếp

đến đối thủ cạnh tranh, quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. “Hành vi

khuyến mại nhằm cạnh tranh khơng lành mạnh” có thể thấy biểu hiện của hành

vi này là các hoạt động khuyến mại bất chính, khơng trung thực nhằm lừa dối để

thu hút khác hàng về phía mình. Cụ thể như hành vi tổ chức khuyến mại gian dối

về giả thưởng, khuyến mại không trung thực hoặc gây nhầm lẫn về hàng hóa, dịch

vụ, … Các hành vi này có thể do doanh nghiệp trực tiếp thực hiện hoặc được tiến

hành thông qua thương nhân kinh doanh thực hiện dịch vụ khuyến mại của mình.

“Hành vi bán hàng đa cấp bất chính” những quy định của pháp luật về hành vi

này mục đích là nhằm bảo vệ lợi ích chính đáng của những người tham gia mạng

lưới bán hàng đa cấp, cũng như hạn chế việc tổn hại về kinh tế cho những người

tham gia mạng lưới bán hàng đa cấp bất chính.



9



CHƯƠNG II . Thực tiễn áp dụng quy định về Hành vi Cạnh Tranh khơng lành

mạnh và Kiện nghị hồn thiện

II.1.



Thực trạng Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh tại Việt Nam



Trong nền kinh tế thị trường hiện nay ở nước ta, thì các hoạt động cạnh tranh đang diễn

ra một cách khốc liệt, mang lại sự phát triển cả về mặt kinh tế lẫn các mặt khác của đời

sống xã hội. Nhưng một số doanh nghiệp vì muốn chiếm ưu thế cạnh tranh để tăng lợi

nhuận đã không thực hiện các hoạt động cạnh tranh một cách lành mạnh mà sử dụng

những phương thức thủ đoạn khác nhau thực hiện các hành vi cạnh tranh không lành

mạnh mà pháp luật quy định cấm thực hiện.

Hơn thế nữa, hiện nay những thành tựu của cuộc Cách mạng cơng nghiệp 4.0 đã có

những tác động khơng hề nhỏ đến tình hình chung của mọi mặt đời sống xã hội mà còn

tác động đến hoạt động cạnh tranh. Một số doanh nghiệp đã lợi dụng những thành tựu đó,

đặc biệt là các thành tựu trong cơng nghệ thông tin và Internet để thực hiện các hành vi

cạnh tranh không lành mạnh. Hiện nay khi thương mại điện tử phát triển một cách cực

thịnh, người tiêu dùng có thể mua bất cứ hàng hóa, dịch vụ nào ở bất cứ thời gian, bất cứ

nơi nào chỉ với một cú “Click” thông qua các trang bán hàng hay mạng xã hội. Nhưng họ

lại không thể xác định rõ các xuất xứ, công dụng, mẫu mã, chất lượng, … nhưng thông tin

chỉ được biết theo một chiều từ doanh nghiệp cung cấp mà khách hàng khó có thể kiểm

chứng. Khơng ít các doanh nghiệp đã lợi dụng điểm này nhằm thực hiện các hành vi cạnh

tranh không lành mạnh như: quảng cáo khơng trung thực về hàng hóa, chỉ dẫn gây nhầm

lẫn,… Khơng những thế, tình trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng cũng tăng

cao khi mà việc sản xuất một mặt hàng là không thể đơn giản hơn với các thành tựu của

công nghệ hiện nay. Vậy trong những năm gần đây đã có bao nhiều vụ vi phạm quy định

về Hành vi cạnh tranh không lành mạnh bị điều tra, xử lí?

Thơng qua báo cáo thường niên của Cục quản lý cạnh tranh 4, dưới đây là bảng thống

kê điều tra vụ việc cạnh tranh trong giai đoạn từ năm 2009 đến 2015.



Bảng thống kê điều tra vụ việc cạnh tranh không lành mạnh.



4 Cục Quản lý Cạnh tranh (2015), Báo cáo thường niên 2015



10



Các loại hành vi

cạnh tranh không

lành mạnh



2009



2010



2011



2012



2013



2014



2015



5



20



33



37



2



6



24



2



2



4



1



Quảng cáo nhằm

cạnh tranh không lành

mạnh

Khuyến mại nhằm

cạnh tranh không lành

mạnh

Gièm pha doanh

nghiệp khác

Chỉ dẫn gây nhầm lẫn

Bán hàng đa cấp bất

chính



2



1

3



4



1

1



3



1



4



Gây rối hoạt động

kinh doanh của doanh



1



nghiệp khác

Tổng số



14



28



36



41



3



7



28



Tình hình của các vụ việc vi phạm quy định về hành vi cạnh tranh không lành mạnh

có diễn biến phức tạp trong những năm qua. Hành vi vi phạm chiếm đa số là hành vi

quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

Trong năm 2015, Cục Quản lý cạnh tranh đã tiến hành điều tra tố 46 vụ việc liên quan

đến hành vi cạnh tranh không lành mạnh, qua đó khởi xướng điều tra 28 vụ việc đồng thời

hoàn thành điều tra và ban hành quyết định xử lý đối với 02 vụ việc khởi xướng từ năm

2014. Các loại hành vi cạnh tranh không lành mạnh được khởi xướng điều tra trong năm

2015 chủ yếu là: Quảng cáo đưa thông tin gian dối hoặc gây nhầm lẫn, quảng cáo so sánh

trực tiếp, bán hàng đa cấp bất chính.

Trong năm 2016 Cục Quản lý Cạnh tranh cũng thực hiện hàng loạt xử phạt đối với

nhiều công ty bán hàng đa cấp, 14 công ty bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký hoạt động

bán hàng đa cấp, 11 doanh nghiệp tạm ngừng và chấm dứt hoạt động. Hiện số doanh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I . Khái quát về Hành vi Cạnh Tranh không lành mạnh

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×