Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tỷ lệ sống, mức tăng trưởng của tôm

Tỷ lệ sống, mức tăng trưởng của tôm

Tải bản đầy đủ - 0trang

dịch...Đối với ao 12B thì tỷ lệ sống 35,7% là rất thấp do ao có các yếu tố mơi

trường biến động nhiều, tơm bị chết do lột dính ở giai đoạn đầu, đáy ao bẩn.

 Tốc độ tăng trưởng ở các ao không đồng đều nhau, tốc độ tăng trưởng

của mỗi ao tôm ở mỗi giai đoạn cũng khác nhau. Ỏ giai đoạn tôm đạt 6-13gam

chúng tăng trưởng nhanh nhất. Tốc độ tăng trưởng trung bình ngày (ADG) của

các ao tương đối nhanh, vào khoảng 0,22 gam. Ao 12B có tốc độ tăng trưởng

tương đối chậm .

 Theo dõi chu kỳ lột xác: Tôm thường lột xác đồng loạt vào những ngày

mưa hay ngày nước lớn, lúc đó ao tơm có nhiều váng nhớt, pH giảm, trong vó

có thể thấy tôm lột… cần chủ động giảm thức ăn ngay rồi sau đó tăng lại.

 Cần kiểm tra thường xuyên khi khơng thấy có tơm bệnh và sau khi thả

tơm giống được 3 – 4 tuần mà tôm vẫn bơi quanh bờ ao, cần kiểm tra lớp đất ở

đáy ao xem có màu đen hoặc có tảo khơng. Nếu có, vớt sạch tảo từ đáy ao,

giảm lượng thức ăn và thay 15 – 20 cm nước rồi rải đều bột đá xuống ao theo

mức từ 200 – 300 kg cho một ha ao. Nếu đáy ao bình thường, tăng thêm một ít

thức ăn.

 Nếu tơm có bệnh hay tơm chết ở bờ ao hoặc thấy tôm bị nhiễm bệnh

phân trắng, cần kiểm tra xem vỏ hoặc mang tơm có bẩn khơng. Nếu có nên xử

lý cần giảm lượng thức ăn cho tơm và thay 15 – 20 cm nước, bón vơi, vớt tôm

chết không chuyển tôm hoặc nước từ ao bệnh sang các ao khác tránh lây lan.

Nếu không thể chữa được thì xin thu sớm

 Nếu thấy tơm bệnh hoặc tơm chết sau khi trời mưa và đất ao có chất

phèn, lập tức bón thêm vơi bột cho ao (100 – 200 kg/ha) và rắc vôi quanh bờ

ao. Cần hỏi ý kiến cán bộ khuyến ngư để đo độ pH và độ mặn của nước xem có

cần bổ sung quanh bờ ao trước khi mưa.

3.2.6.Các phương pháp phòng và trị bệnh:

Trong nuôi tôm, phồng bênh luôn là yếu tố hàng đầu.Nguyên tắc phòng

hơn chữa được áp dụng rất hiệu quả tại khu ni Đồng Hồ. Đa số các bệnh

nếu phát triển và có nguy cơ lây lan nhanh chóng thì sẽ được dập ngay lập tức (



Các bệnh do virus, vikhuẩn, nấm...). Nếu bệnh do mơi trường hoặc còn ở mức

độ nhẹ thì sẽ được cách li và chữa trị theo sự giám sát của ban quản li khu nuôi.

- Phương pháp phòng bệnh:

+ Dụng cụ được dùng riêng cho từng ao: Vợt vớt bọt, thùng cho ăn, xô

đánh vôi...

+ Mỗi ao đều được bố trí các thùng đựng thuốc khử trùng: chlorin, thuốc

tím để rửa tay và dụng cụ.

+ Làm hệ thống bạt ngăn chuột, mầm bệnh cho từng ao.

+ Hạn chế sự ra vào của người lạ vào khu ni và nếu có sự ra vào thì

phải được khử trùng chân tay bằng thuốc tím và chlorin trước khi ra vào.

+ Xây dựng hệ thống lưới ngăn chim.

+ Đối với cán bộ, cơng nhân trong q trình làm việc phải tuân thủ các

quy định nhằm hạn chế lây lan mầm bệnh như: đi ủng, khử trùng tay chân,

dụng cụ bằng thuốc tim và chlorin trước khi làm việc.

+ Hạn chế sự qua lại giữa các tổ đội khác nhau.

+ Nâng cao sức khỏe, sức đề kháng cho tôm bằng cách cho ăn đầy đủ,

bổ sung vitamin C và tỏi vào thức ăn.

Tỏi được bóc hết vỏ, đem say nhuyễn cùng với EM sau đó trơn vào thức

ăn để cho tôm ăn.

- Phương pháp trị bệnh:

Việc trị bệnh tại cơ sở thường ít được chú trọng, thường chỉ tiến hành

chữa những bệnh thơng thường như bệnh phân trắng, đóng rong. Trường hợp

có dịch bệnh nguy hiểm xãy ra làm tơm chết hàng loạt thì thường thì tiến hành

hủy ao nếu tơm còn nhỏ hay thu hoạch nếu tơm đạt kích cỡ có thể thu hoạch.

3.2.7. Thu hoạch

 Chuẩn bị

Bạt lót chỗ thu tơm, nhà thu tơm di động, cây để sọt tôm cho ráo nước,

thùng chứa tôm, lưới kéo, cầu thu tơm....

Chỉ nên thu hoạch, khi tơm có chất lượng tốt, đó là lúc tơm có vỏ cứng và

kích cỡ 15 -20g/con là tốt nhất.

 Thu hoạch có 2 cách sau:



- Dùng lú đặt khắp ao, cho chạy quạt để bắt bớt lượng tơm trong ao, sau

đó thu tồn bộ qua lú xổ đặt ở cống và bơm khô nước để thu nhặt hết tơm còn

sót lại ở đáy ao.

- Dùng lưới kéo có diện tích lớn hoặc lưới xung điện để kéo tôm trong ao.

f. Bảo quản tôm sau khi thu hoạch

 Rửa và lựa chọn tôm

- Sau khi thu hoạch phải rửa tôm bằng nước sạch, loại bỏ rác bẩn

- Rửa và lựa tơm ở nơi thống mát.

- Tôm phải được để trên tấm nhựa hoặc rổ nhựa sạch, không được để tôm

trực tiếp xuống đất, sàn gỗ hoặc nền xi măng.

Gây chết tôm bằng nước đá lạnh:

Sau khi rửa sạch, thì gây chết tơm bằng nước đá lạnh theo tỷ lệ 2 phần

tôm với một phần nước đá và 1 phần nước. Nghĩa là 20kg tôm cần 10kg nước

đá và 10 lít nước sạch.

Cách tiến hành như sau:

Bước 1: Đổ nước vào thùng nhựa hoặc thùng cách nhiệt.

Bước 2: Cho nước đá xay hoặc đá vảy vào theo tỷ lệ 10kg nước đá và 10

lít nước.

Bước 3: Khuấy đều cho nước đá tan (độ lạnh bằng 0



0C



), cho tiếp 20 kg



tôm vào thùng, đậy nắp lại và giữ nước như vậy khoảng 30 phút.

 Ướp tôm

Sau khi thu tôm lên, đổ tôm vào thùng co chứa sẵn đá lạnh cỡ nhỏ. Khi

thùng chứa đầy thì dùng sọt múc tôm trong thùng phi ở trên xe đông lạnh. Tôm

sẽ được xe chở vào khu chế biến.

Cách tiến hành

Bước 1: Trải một lớp nước đá ở đáy thùng cách nhiệt dày khoảng 1 tấc.

Bước 2: Cho vào 1 lớp tơm mỏng dưới 1 tấc, sau đó cứ cho một lớp nước

đá một lớp tôm, cho đến khi đầy thùng. Trên cùng phủ một lớp nước đá dày

hơn 1 tấc.

Bước 3: Đậy kín nắp thùng và bảo quản nơi sạch sẽ thoáng mát.



4. Một số sự cố và bệnh thường gặp và cách khắc phục trong q trình

ni tơm tại khu ni thủy sản Đồng Hòa.

 Một số sự cố thường gặp

 Hiện tượng tôm phân đàn

- Nguyên nhân

+ Rải thức ăn khơng đều.

+ Kích thước tơm khơng đồng đều

- Cách khắc phục

+ Tiến hành chài tôm, kiểm tra tình hình tăng trưởng

+ Phối trộn thức ăn kích cỡ khác nhau, cho ăn thức ăn lớn trước sau 5-10

phút rồi rải thức ăn cỡ nhỏ.

 Hiện tượng tôm lột dính

-



Ngun nhân



+ Do ao ni xì phèn, hàm lượng acid cao, hàm lượng Ca ++ không đủ để

tổng hợp vỏ.

Khi tơm bị lột dính thì thường tỷ lệ chết rất cao. Chủ yếu xảy ra đối với

tôm nhỏ

- Cách khắc phục

+ .Tiến hành đánh vôi Dolomite 2-3 tấn/0,5 ha

+ Nếu trường hợp nặng hơn nữa có thể tiến hành lột bạt phủ bờ ao, rải

vôi Dolomite (1,5-2 tấn/0,5 ha) kết hợp rải phân lân 10kg/0,5 ha.

 Hiện tượng tôm nổi đầu

- Nguyên nhân

- Do thiếu oxy: Thường phát sinh vào ban đêm (18 - 19h) hoặc sáng sớm

(5 - 7h). Bởi vì khi từ ban ngày chuyển sang ban đêm thì ban ngày tảo quang

hợp làm cho pH tăng nhưng vào ban đêm tảo lại chuyển sang cơ chế hô hấp lấy

khí oxy và thải ra khí CO2 khí CO2 tạo ra nhiều làm cho pH trong môi trường

nước giảm đột ngột kết hợp với một lượng oxy bị mất. Do vậy, dẫn đến tôm

thiếu oxy để hô hấp đồng thời tôm bị stress bởi pH giảm đột ngột đãn đến tôm

sẽ bị nỗi đầu. Trường hợp này thường gặp khi có sự kết hợp với quạt nước

trong ao bị hỏng nên khơng cung cấp được khí oxy đầy đủ cho tôm hô hấp



- Do thiếu thức ăn: Trong trường hợp này, tôm sẽ quây tụ thành đàn lại

làm cho khu vực này thiếu oxy cục bộ dẫn đến tôm bị nổi đầu.

- Do trúng độc: Tôm cũng di chuyển thành đàn trên mặt ao và tầng nước

giữa. Chất ô nhiễm dưới đáy ao quá nhiều do hiện tượng tảo trong ao bị rớt, các

vi sinh vật sẽ phân huỷ phân giải xác tảo và các hợp chất hữu cơ trong nước sẽ

tạo nên, CO2, khí nitơ-amơniăc và sun-phua-hiđrơ sẽ làm cho tôm thiếu oxy và

kết hợp với trúng độc bởi khí độc. Bởi vì chỉ cần một lượng nhỏ NH 3 và H2S có

trong ao cũng làm cho tơm bị ngộ độc và có thể dẫn đến làm cho tôm chết hàng

loạt nếu không kịp thời xử lý.

- Cách xử lý.

- Trong trường hợp tôm bị thiếu oxy bởi do tảo hô hấp, stress bởi pH và

do bị trúng độc thì:

Trước hết phải tiến hành tạt oxy hạt để cung cấp khí oxy tức thời cho tơm

và kết hợp với việc đánh Dolomite để nâng pH trong ao, lượng vôi thông

thường sử dụng để đánh khi tôm bị nổi đầu là 1 - 1,5 Dolomite/5000m 2. Đồng

thời trong quá trình đó cần xem lại quạt nước nếu quạt nước trong ao bị hỏng

phải tiến hành sửa gấp và cho chạy hết cơng suất để quạt nước cung cấp khí

oxy trong ao đồng thời sực khí để cho các khí độc trong ao thốt khỏi ra ngồi

ao ni.

- Đối với trường hợp tôm bị nổi đầu do thiếu thức ăn thì phải tiến hành

cho tơm ăn gấp. Trong trường hợp tơm nổi đầu do bị trúng độc thì tơm thương

có xu hướng là bỏ ăn nếu cung cấp thức ăn sẽ tạo nên sự ơ nhiễm mới. Vì vậy

khi gặp trường hợp này ta tiến hành ngừng cho tôm ăn, chỉ cho ăn khi nào tơm

phục hồi hồn tồn thì mới tiến hành cho ăn.

 Một số bệnh thường gặp trong q trình ni tại khu ni thuỷ sản

Đồng Hồ.

 Bệnh về mang và phụ bộ

- Nguyên nhân

+ Do môi trường nước ao ni xấu nhiều khí độc (NH 3, H2S, NO2,…) và

các kim loại nặng (Fe, Cu, Zn,…).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tỷ lệ sống, mức tăng trưởng của tôm

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×