Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Giai đoạn 2: Khi đã ráp ổn định quạt, đóng cống xong, tiến hành cấp thêm nước 1,6 -1,8m bằng máy bơm 290m3/h, để tiến hành quá trình xử lý nước.

- Giai đoạn 2: Khi đã ráp ổn định quạt, đóng cống xong, tiến hành cấp thêm nước 1,6 -1,8m bằng máy bơm 290m3/h, để tiến hành quá trình xử lý nước.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khi Chlorine hòa đều ao ta tiến hành tắt hết quạt, 2 ngày sau mới bật trở

lại.

Trong quá trình xử lý, ta cho quạt nước chạy liên tục nhằm phân tán

nước đều trong ao làm hòa tan các chất xử lý trong ao nhằm phát huy tác dụng

tốt nhất của hóa chất xử lý, làm bay hơi các khí độc trong ao.

Chú ý: Sau khi xử lí Chlorine A khử trùng nước, mọi dụng cụ như vợt,

cây múc nước đo pH, gáo, bè xốp,...phải sử dụng riêng cho từng ao. Ở cầu nhá

phải có bồn sát khuẩn thuốc tím(KMnO 4) 200ppm: một bồn nhúng ủng, một

bồn rửa tay và một bồn nước ao đó để rửa lại tay. Tóm lại phải có sự cách ly

riêng cho mỗi ao, mọi sự qua lại giữa các ao phải được khử trùng cẩn thận bằng

thuốc tím. Cần phải sử dụng ủng cao su khi ra ao.

- Xử lý khoáng chất: Để thả được tôm yêu cầu pH từ 7,5-8, kiềm

>60mg/l

Sau khi đánh chlorin 2 -3 ngày ta tiến hành bật hết quạt đánh khoáng

chất nâng pH và kiềm.

+ Nâng pH: Đối với ao có pH thấp <5 thì nâng pH bằng vơi CaO với liều

lượng khoảng 0,5-1 tấn/5000m2 đến khi pH gần 7 thì ngưng và tiến hành nâng

kiềm.

+ Nâng kiềm: Nước ở khu ni có độ kiềm rất thấp, có thể là bằng 0 nên

cần phải đánh vôi để nâng kiềm.



Nâng kiềm bằng Dolomite, Canxi (CaCO 3): tỷ lệ Ca/ Mg lý tưởng trong

ni tơm là 1/3 do đó để đánh Dolomite và Canxi sao cho hợp lý ta nên kiểm

tra tỷ lệ này thường xuyên để đánh tỷ lệ Canxi và Dolomite sao cho hiệu quả.

Đầu tiên chúng ta tiến hành đánh vôi Dolomite để nâng kiềm, thường tiến hành

vào lúc 18h-20h, để đạt hiệu quả tốt nhất. Lượng Dolomite thường sử dụng

khoảng 2 -2,5 tấn/5000m2. Tiến hành dùng test đo độ kiềm để kiểm tra ngay

sau đó hoặc vào sáng sớm hôm sau. Khi độ kiềm đạt ( khoảng 40-50mg/l ), nếu

khơng thấy biến đổi nữa thì ta tiến hành kết hợp đánh Soda với Dolomite hoặc

Canxi, liều lượng 200kg NaHCO3/5000m2, kết hợp với 1tấn Dolomite. Soda

thường chỉ đạt hiệu quả tốt nhất từ 20-22h.

- Diệt cá tạp: Khi ta xử lý chlorine A cá cũng chết tuy nhiên không chết

hồn tồn. Nếu kiểm tra phát hiện ao nào còn có cá ta xử lý Saponin để diệt cá

với liều lượng là 15ppm.

Cách xử lý:

Để đánh saponin hiệu quả tốt nhất yêu cầu ao xử lý phải có pH >7, ngâm

Saponin ít nhất 16 giờ trước khi đánh và đánh vào lúc trời có nắng trong suốt khi



đánh. Và sau khi đánh ta phải bật hết quạt và quạt liên tục để bay hết bọt Saponin.

Thường thì sau khi đánh Saponin hơn một tuần thì mới có thể thả được tôm.

Chú ý: Qua hôm sau cá sẽ chết nổi lên ta phải dùng vợt vớt đem đi chôn

để tránh ôi nhiễm nước ao nuôi.

- Ngăn ngừa địch hại

Việc tiêu diệt định hại và các tác nhân gây bệnh là một yếu tố không thể

thiếu trong khâu sản xuất bởi những lý do như sau:

- Định hại vào ao nuôi tôm nếu không được tiêu diệt chúng sẽ là đối

tượng nguy hiểm cho tôm là đối tượng ăn tôm

- Thức ăn của tôn khi cho ăn một phần chúng sẽ sử dụng. Do vậy, làm

cho tôm thiếu thức ăn làm tôm chận lớn và làm tiêu hao nhiều thức ăn không

cần thiết (FCR sẽ cao).

- Một số định hại là nguy cơ của những mầm bệnh tiềm ẩn, khhi gặp

điều kiện chúng sẽ làm bùm phát làm cho tôm bị bệnh dẫn đến ảnh hưởng tình

hình sức khỏe cho tơm, ảnh hưởng đến chất lượng, kết quả thu hoạch sau này,...

- Với những lý do trên trong cơ sở này thì khâu này rất được chú trọng.

Có thể ngăn chặn định hại và tiêu diệt mầm bệnh vào trong ao nuôi bằng nhiều

hóa chất khác nhau nhưng trong cơ sở này chỉ có 2 chất thường được sử dụng

+ Hóa chất dùng sát trùng tiêu diệt mầm bệnh là Ca(OCl)2

- Gây màu nước chuẩn bị thả tôm:

+ Việc gây màu nước cho ao ni là rất cần thiết, màu nước thích hợp sẽ

giúp tôm sinh trưởng và phát triển tốt. Màu nước làm che khuất nền đáy và

ngăn cản sự phát triển của các lồi tảo đáy có hại giúp tơm ít bị sốc. Màu nước

liên quan đến số lượng và thành phần các loại tảo có trong ao mà chính tảo sẽ

là nguồn cung cấp oxy cho ao vào ban ngày và hấp thụ đạm, lân từ các chất

thải trong ao và làm giảm sự biến động của nhiệt độ nước. Dựa vào màu nước

thì ta có thể đành giá được chất lượng nước tốt hay xấu

+ Thường thì vùng đất này ta không cần dùng các sản phẩm gây màu

thường dùng như bột đậu nành hay bột cá... mà chỉ cần dùng vôi và men EM.

Mặt khác khi đánh Saponin cũng là một cách kích thích tảo phát triển.

Cách gây màu nước:

+ Đánh super canxi vào buổi trưa mục đích của việc đánh vơi vào buổi

trưa là để tăng pH kích thích tảo phát triển.

+ Đánh Zeolite vào buổi sáng. Bởi vì trong thành phần nước biển có một

lượng tảo silic rất lớn để tảo silic phát triển cần phải có yếu tố silic, trong đó thì



trong thành phần của Zeolite có chứa nguyên tố silic do vậy việc bón Zeolite sẽ

kích thích tảo phát triển.

+ Sang ngày hơm sau khi việc bón vơi và Zeolite xong thì qua sáng ngày

hôm sau ta tiến hành tạt EM xuống khắp ao với liều lượng là 200 lít/0.5ha đồng

thời chạy máy quạt nước cho EM trộn đều khắp ao. Sau 1 - 2 ngày xử lý như

vậy thì ta tiến hành thả tơm, sau khi thả tơm thì trong q trình cho ăn một

phần thức ăn tôm không sử dụng hết do vậy đó là nguồn dinh dưỡng để tảo

phát triển. Sau 4 - 5 ngày sau khi thả tơm thì thấy màu nước lên rất đẹp (màu

xanh đọt chuối non

3.2.4. Kĩ thuật chọn giống và thả giống:



Kĩ thuật đánh giá chất lượng giống tôm thẻ chân trắng:

Sự thành bại của vụ nuôi phụ thuộc rất nhiều vào con giống. Tôm giống

tốt khi nuôi sẽ cho tỷ lệ sống cao, tăng trưởng nhanh, kháng bệnh tốt.

- Phương pháp cảm quan: quan sát bằng mắt hình dạng bên ngồi của

tơm giống. Tơm giống chất lượng tốt là tôm:

+ Dựa vào hoạt động của tôm: tôm khỏe mạnh khi bơi cơ thể thẳng,

phản ứng nhanh với các tác động bên ngoài, hoạt động bơi lội nhanh nhẹn, khi

tạo dòng chảy thì tơm bơi ngược dòng, nếu là tơm yếu thì sẽ bị cuốn vào giữa

chậu.

+ Kích cỡ giống, hình dạng: Nên chọn đàn tơm cùng tuổi, có kích cỡ

đồng đều, có thịt đầy vỏ, ruột tôm đầy thức ăn, tạo thành một đường màu nâu

nằm dọc theo sống lưng tôm. Tôm không bị dị tật, đầy đủ các vây vi phần phụ,

đốt bụng dài, đi xòe, 2 đơi râu khép về phía trước.

+ Màu sắc: nên chọn những con có màu sắc sáng bóng, cơ thịt tơm

khơng có màu đục trắng, khơng có chất bẩn, sinh vật bám vào.

Bảng Một số tiêu chuẩn ngoại hình đánh giá chất lượng

giống tơm

Tiêu chuẩn

Tơm khỏe

Màu sắc

Nâu, nâu xám

Ăn

Ăn nhiều, ruột nhiều thức ăn

Vỏ

Bóng, sạch, trong

Kích thước

Đều con, P15 dài 12 - 14 mm

Chân đi

Cân, xòe rộng không bị sứt

a. Kĩ thuật chọn giống:



Tôm yếu

Hồng, hơi đỏ

Ăn ít hay không ăn

Bầm

Không đều

Không cân, bị sứt



- Giống được lấy từ 2 nguồn là Công ty sản xuất giống CP và trung tâm

sản xuất giống tại đảo Phú Quốc ( Công ty BIM ). Giống đã qua kiểm dịch tại

chi cục Thú Y bảo vệ nguồn lợi Thủy sản, cỡ giống từ Post8 -Post12

- Sau khi giống được chuyển đến khu ni thì giống sẽ được đưa vào

gièo, ni dưỡng để thuần về các yếu tố môi trường trong một vài ngày sau đó

tiến hành loại bỏ những con yếu bằng cách tạo dòng chảy, giảm thức ăn. Lúc

này những con yếu sẽ tập trung ở giữa rồi chìm, ta dùng ống hút ra. Phần còn

lại là tơm khỏe.

- Trong khu ni Đơng Hồ do việc chuẩn bị tốt các yếu tố môi trường

như định hại, mầm bệnh và quản lý tốt các yếu tố môi trường như: pH, O 2,

NH3, H2S,....Do vậy tại đây người ta thường nuôi tôm thịt từ post 8 - post 10

hay post 10 - post 14, điều này còn phụ thuộc vào nguồn giống sản xuất từ Phú

Quốc vận chuyển về khu nuôi.

- Trong điều kiện thực tế tại khu ni Đồng Hồ việc lựa chọn con giống

chưa thật sự khoa học chẳng hạn như: không loại bỏ tôm yếu mà vẫn thả ni,

kích cỡ tơm giống thì khơng đồng đều nhau ,... nhưng dù là sai theo lý thuyết

nhưng nó đúng trong điều kiện thực tế. Bởi vì, đây là hình thức nuôi siêu công

nghiệp với mật độ thả nuôi khá dày, con giống tự sản xuất nên nguồn con giống

rất dồi dào. Do vậy việc thả nuôi tại nơi đây người ta chỉ quan tâm đến mật độ

còn lại sau này sau khi thả giống có đủ để ni hết vụ ni ni hay khơng mà

thơi. Vì vậy, người ta thường thả với mật độ khá cao để trừ hao, nếu tỷ lệ sống

cao thì người ta tiến hành san tơm qua ao khác để nuôi. Do vậy mà người ta

không quan tâm đến việc phải loại bỏ tôm yếu trước khi thả ni và cũng

chẳng cần quan tâm đến kích cở tơm có đồng đều hay khơng, nếu kích cỡ trong

q trình ni khơng đồng đều dẫn đến hiện tượng phân đàn thì người ta đã có

biện pháp xử lý.

b. Kỹ thuật vận chuyển:

Tôm được vận chuyển bằng cách: Dùng túi nhựa đổ vào đó 10-15 lít nước,

đóng 3 cống post cho vào túi, sau đó bơm oxy khoảng nửa túi, dùng dây thun

quấn chặt, rửa qua túi bằng thuốc tím sau đó vận chuyển lên xe và chở tới ao

thả; Mỗi túi chứa khoảng 15000 postlarva.

c. Thuần hố tơm giống sau khi vận chuyển về khu nuôi



- Sau quá trình vận chuyển đường dài từ cớ sở sản xuất về, tơm đã có dấu

hiệu bị stress, và yếu dần. Vì vậy chúng ta cần tiến hành thuần hồ giống ngay

sau đó.

- Giống được đưa về sẽ được thuần hố từ 1 - 2 ngày với điều kiện môi

trường ở khu ni, cụ thể là thuần hố về độ mặn, nhiệt độ và pH nước để tơm

thích ứng dần dần với điều kiện môi trường tại cở sở nhằm giảm tỷ lệ chết

trong q trình thả ni.

- Các bước xử lý và tiến hành trong q trình thuần hóa như sau:

+ Khi xe đông lạnh chở về đến khu nuôi cần cử một số người để bốc tôm

từ xe xuống trại thuần hóa

+ Sát trùng tay, chân kỷ bằng thuốc tím. Nếu những người nào mang ủng

mang bao găng cao su thì càng tốt

+ Chuẩn bị 2 bể nước với dung tích từ 150 - 200 lít. Trong đó một bể

nước sạch khơng pha hóa chất và một bể nước pha thuốc tím + chlorine với

nồng độ vừa phải để sát trùng bọc chứa tôm.

Phân chia người để tiến hành thuần hố giống. Chúng ta có thể tiến hành

cùng lúc các bước sau để đảm bảo hiệu quả tốt nhất:

- Mở thùng xốp chứa bọc tôm giống

- Lấy các bọc tơm giống ra cho vào bể chứa thuốc tím

- Rửa sạch bọc bằng bể nước sạch

- Mở bọc nilon và cho tôm vào chậu chứa một phần nước của bể, sau đó

tiến hành cho tơm ra ngồi bể thuần hố.

- Sau khi làm xong thì tiến hành rửa sạch trại và thu dọn kỷ các vật liệu,

túi nilơng ra ngồi cho gọn gàng.

- Trong q trình thuần hố ta tiến hành cho tôm ăn, thức ăn cho tôm post

trong quá trình thuần hố có thể là trứng Artemia đã được ấp nở ra Nauplius

hay có thể cho ăn thức ăn tổng hợp kích cỡ thức ăn Hi-po7700 hoặc thức ăn

VANNAMEI NO 0 để đảm bảo sự sống cho tôm post trong q trình thuần

hố.



- Tơm được thuần hố trong bể composite,có hệ thống dây sục khí được

bố trí trong bể để đáp ứng nhu cầu ôxy cho tôm hô hấp. Mỗi bể composite như

thế có thể thuần hố khoảng 500.000 - 600.000 con tôm post.

d. Thu hoạch tôm post

- Rút nước ở bể composite qua lưới thay nước, khi trong bể còn 20 30cm thì dừng lại. Dùng nước này để vào các tùi nilon cỡ lớn, để sẵn để chứa

post.

- Dùng vợt, vớt postlarvae ra chậu nhựa có 1 - 2 vòi sục khí.

- Chuẩn bị 6 - 10 bát lớn cùng kích cỡ có màu trắng.

- Dùng chén ăn cơm đếm post làm mẫu, mỗi mẫu đếm từ 1.000 - 2.000

con, đếm đủ số lượng cho toàn bộ tơm vào 1 trong 10 bát nói trên, đổ nước

thêm vào gần đầy tơ, các tơ còn lại đổ lượng nước bằng nước ở tô mẫu. Phương

pháp đếm tôm phổ biến và tiện lợi nhất là phương pháp so màu.

- Dùng vợt nhỏ ly uống rượu vớt tôm cho vào 9 tơ còn lại cho đến khi

quan sát thấy mật độ bằng mật độ tôm ở mẫu là được.

- Để lại tơ mẫu, đỗ tất cả tơ còn lại vào trong túi nilông vận chuyển. Số

lượng trong túi nilông được tính dựa vào số lượng tơm đổ vào và số lượng tôm

đếm được trong tô mẫu. Cứ tiếp tục làm như thế đến khi nào đủ số lượng tơm

thì thơi.

e. Kỹ thuật đóng túi

Khuân đóng túi gồm các bước sau:

- Cho vào mỗi túi từ 8 - 10 lít nước sạch, lấy từ bể ở trên

- Cho tôm vào túi đến khi đủ mật độ thì đóng oxy.

- Khi nạp oxy nên nạp vừa căng toàn bộ túi vận chuyển, sau đó vặn dây

thừng đầu túi và bể gập lại, dùng dây cao su buộc chặt lại miệng túi để oxy

khơng đi ra ngồi.

- Khi đóng túi oxy khơng được hút thuốc phòng nổ gây tai nạn, khi buộc

miệng túi yêu cầu buộc chặt nhưng đảm bảo phải mở dễ dàng. Tất cả các túi

sau khi đóng oxy xong được xếp trong bóng râm, ở nơi thống mát để chờ vận

chuyển.

f. Vận chuyển con giông từ trại thuần về ao ni



Cách vận chuyển và các bước làm cũng hồn tồn tương tự như vận

chuyển con giống từ nơi sản xuất con giống về khu nuôi. Nhưng cách vận

chuyển này đơn giản hơn so với vận chuyển con giống từ nơi sản xuất tôm

giống về nơi nuôi, bởi những lý do như sau:

+ Nơi vận chuyển con giống về ao nuôi gần hơn so với vận chuyển từ nơi

sản xuất giống về khu nuôi. Nên không cần phải bổ sung than hoạt tính, thức ăn

hay hạ nhiệt độ

+ Cách vận chuyển cũng khá đơn giản xe vận chuyển là dùng xe ôtô,

không cần phải làm hạ nhiệt độ túi nilông chứa tôm.

+ Trước khi cho túi tôm lên xe, phải đảm bảo thùng xe sạch, không chứa

các vật làm hỏng túi chứa tôm. Tốt nhất là trải bạt lên thùng, sau đó dùng thuốc

tím tạt đều khắp thùng xe. Sau khi cho túi tôm đủ thùng xe, tiếp tục tạt thêm

một lần thuốc tím nữa.

+ Q trình vận chuyển tơm giống phải thực hiện vào buổi chiều mát 17h

hoặc 4-5h sáng để đảm bảo việc thả giống đúng thời điểm.







g. Thả giống: (01/03/2012)

Thời điểm và mùa vụ thả giống:



Ở khu nuôi Đồng Hoà, do nhận điều kiên thuận lợi của tự nhiên nên thả

giống thường được tiến hành quanh suốt tất cả các tháng trong năm khi có đầy

đủ nguồn giống.

Thời gian thả giống 7 giờ sáng. Kiểm tra kỹ lưỡng thông số môi trường

trước khi thả tôm để so sánh môi trường giữa nơi trại giống và ao nuôi khác

biệt như thế nào để có cách thuần hợp lý tránh tôm bị stress tối đa. Mật độ thả

giống từ 220 con/m2. Trước khi thả giống phải chuẩn bị đầy đủ các bước sau:

+ Bè xốp để xuống ao thả tôm

+ Thả nhá ở cầu nhá.

+ Làm chỗ thuần tôm: dùng cây cột thành khung thả nổi ở cạnh trên gió

khi khử trùng túi tôm xong ta thả túi tôm xuống khung tháo miệng túi mà quấn

lại thả nổi trong khung và tạt nước từ từ vào để thuần nhiệt độ và độ mặn. Tùy

sự chênh lệch thông số môi trường giữa trại giống và ao thả mà ta có thời gian

thuần khác nhau từ 15-30 phút.

Bảng . Các thông số môi trường trước khi thả.



Ao

11F



pH

Sáng

7,5



Chiều

7,8



Kiềm



Màu nước



> 60



Xanh nhạt



Bảng: Một số thơng tin về ao ni.

Ao



Diện tích



Mật độ



Ngày thả



Nguồn giống



11F



5000 m2



220 con/m2



01/03/2012



Phú Quốc







Nhận xét :

+ Các thông số môi trường khá thuận lợi cho việc thả tôm.

+ Mật độ khá cao

+ Kiềm còn thấp nên cần tăng cường lượng vơi vào ban đêm

Kỹ thuật thả giống



Tôm giống sau khi chuyển về tại ao, tiến hành chuyển túi xuống ao, nơi

đặt khung thả tôm. Các túi chứa tôm được mở miệng theo kiểu gấp cuộn cho

đến khi sát mép nước trong túi. Sau đó dùng ca tạt nước từ từ vào trong túi,

cương độ tạt nước nhanh dần. Khoảng 10-15phút, tiến hành cho tôm ra khỏi

túi. Dùng 1 tay nắm miệng túi lại, tay kia nắm dưới đáy túi dốc ngược túi chứa

tôm lên. Tha miệng túi cho tôm ra từ từ.

Sau khi thả tôm xong phải thu gom túi nilon lại, kiểm tra xem tình hình

tơm ở gần nơi thả.

3.2.5. Kĩ thuật quản lí chăm sóc:

a. Kĩ thuật quản lý mơi trường ao nuôi:

Tôm thẻ chân trắng sống trong môi trường nước vì vậy bệnh tật phát

sinh trong q trình ni có quan hệ mật thiết với chất lượng mơi trường nước

tốt hay xấu. Do đó duy trì chất lượng nước và ổn định trong suốt chu kì ni

trong ao được xem là một trong những yếu tố then chốt để phát triển bền vững

ni trồng thủy sản. Vì thế, các biện pháp kĩ thuật nhằm cải tạo chất lượng

nước ao nuôi là một khâu kĩ thuật hết sức quan trọng. Kĩ thuật quản lí các yếu

tố mơi trường là sự kết hợp hài hòa giữa 3 biện pháp chính, mỗi phương pháp

có tác dụng bổ trợ cho nhau và nếu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho các yêu tố

môi trường luôn đạt được sự ổn định tạo điều kiện cho tơm sinh trưởng và phát

triển bình thường. Ba biện pháp chính dó là:

- Quản lí bằng phương pháp cơ học: sử dụng máy quat nước, thay

nước...



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Giai đoạn 2: Khi đã ráp ổn định quạt, đóng cống xong, tiến hành cấp thêm nước 1,6 -1,8m bằng máy bơm 290m3/h, để tiến hành quá trình xử lý nước.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×