Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tôm có vỏ mỏng, cơ thể có màu trắng đục hoặc đỏ nhạt, trên thân có những đốm nâu nhỏ li ti, phần cuối chạc đuôi thường có màu đỏ hồng hoặc xanh tím

Tôm có vỏ mỏng, cơ thể có màu trắng đục hoặc đỏ nhạt, trên thân có những đốm nâu nhỏ li ti, phần cuối chạc đuôi thường có màu đỏ hồng hoặc xanh tím

Tải bản đầy đủ - 0trang

(blastula) và phôi vị (gastula) đến khi nở. Thời gian hoàn tất khoảng 12 giờ, tuỳ

thuộc vào điều kiện nhiệt độ nước. trứng đẻ ra thường chìm xuống đáy, sau khi

trương nước sẽ nổi lơ lửng.

 Giai đoạn ấu trùng (Larvae):

Ấu trùng tôm thẻ trải qua các giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn gồm

nhiều giai đoạn phụ

Bảng 6:Các giai

đoạn

phát triển của ấu trùng

Giai đoạn

số giai

đoạn

Thời tôm

gian biển

Nauplius

6

1,5

Protozoa

3

3

Mysis

3

4-5

Post

1-15

6-15

Giai đoạn ấu trùng, tơm sống trơi nổi, giai đoạn post còn gọi là giai đoạn

tôm bột. cơ thể post trong suốt và có một dãi sắc tố chạy dài ở phần bụng từ

nhánh râu A1 đén cuối telson. Giai đoạn này đốt bụng thứ 6 tương đối dài hơn,

chiều dài Carapake. Carapake và post giao động từ 1,2- 2,2 mm.

 Giai đọan tơm giống (Juvernile):

Cơ thể trong suốt có một dãi chạy dài, ở phần bụng giống như ở giai

đoạn post, ở giữa giai đoạn giống cơ thể có màu nâu nhạt , chuỷ có 6 răng ở

mặt bên và hai bên ở mặt dưới. Cuối giai đoạn giống, cơ thể trở nên sậm đen có

7 răng ở mặt trên và 3 răng ở mặt dưới chuỷ. Tôm lúc này sử dụng chân ngực

và chân ngực để bơi theo dòng triều, chúng bắt đầu di chuyển vào các thuỷ vực

nước lợ để sinh sống và phát triển.

 Giai đoạn tiền trưởng thành:

Tôm lúc này hồn tồn trưởng thành về sinh dục. Tơm đực có tinh trùng

trong tinh nang tơm cái nhận túi tinh từ tôm đực sau khi giao vĩ. Giai đoạn này

tôm cái lớn nhanh hơn tôm đực. Đây là thời kỳ tôm từ các ao, đầm nuôi di cư

ra các bãi đẻ ngồi khơi, ở đó q trình giao vĩ bắt đầu xảy ra.

 Giai đoạn trưởng thành:

Tơm hồn tồn thành thục và tham gia sinh sản. giai đoạn này sự giao vĩ

lần hai và các lần kế tiếp có thể xảy ra.

2.5. Đặc điểm sinh trưởng

Tôm chân trắng lớn rất nhanh trong giai đoạn đầu, mỗi tuần có thể tăng

trưởng 3g với mật độ 100 con/m 2 tại Hawaii khơng kém gì tơm sú, sau khi đã

đạt được 20g tôm bắt đầu lớn chậm lại, khoảng 1g/tuần, tôm cái thường lớn

nhanh hơn tôm đực.



.2.6. Đặc điểm sinh sản

Cũng như các lồi tơm cùng họ Penaeid, tơm chân trắng cái ký thác hoặc

rải trứng ra thay vì mang trứng tới khi trứng nở. Tơm chân trắng có thelycum

mở, chỉ giao vĩ sau khi trứng đã chín hồn tồn, nghĩa là tơm này giao cấu giữa

hai thời kì thay vỏ.



Mùa vụ sinh sản: Khu vực có tơm phân bố tự nhiên,

quanh năm đều bắt được tôm mẹ mang trứng. Mùa sinh sản có sự chênh lệch

theo từng vùng khác nhau, thường là tháng 3-8 nhưng đẻ rộ nhất từ tháng 4-5.

 Giao vĩ: Tơm thẻ chân trắng là lồi thelycum hở, tơm đực và tơm cái tìm

nhau giao phối với nhau sau khi hồng hơn. Tơm đực phóng các chùm tinh tử

từ cơ quan giao cấu và dính vào đơi chân bò thứ ba của con cái. Trong tự nhiên

tỷ lệ giao phối tự nhiên có kết quả là khơng cao.

 Sức sinh sản: Tơm thẻ chân trắng có tốc độ tăng trưởng nhanh, thành thục

sớm, tơm cái có khối lượng khoảng 40-50g là có thể tham gia sinh sản.

Sức sinh sản thực tế là khoảng 10-25 vạn trứng/tôm mẹ.

Trong tự nhiên tơm mẹ thường đẻ nơi có độ sâu 70m, độ mặn 35% 0,

nhiệt độ khoảng 26-280C. Trứng nở ra Nauplius và trãi qua các giai đoạn biến

thái ấu trùng rồi chuyển dần di cư vào cửa sông cố độ mặn thấp, sau vài tháng

phát triển thành tôm con trưởng thành và bơi ra biển tiếp tục chu kỳ vòng đời

của họ tôm he.

3. Kĩ thuật nuôi tôm thẻ chân trắng:

3.1. Kĩ thuật thiết kế xây dựng cơng trình ao nuôi tôm thẻ chân trắng:

Kỹ thuật xây dựng hệ thống kênh cấp và thoát nước

Hệ thống kênh cấp nước được xây dựng dựa trên kết cấu của đất và chưa

được bê tơng hố. Trung bình cứ hai dãy ao có một kênh cấp nước, đầu và cuối

các dãy ao trong mỗi khu đều có kênh cấp và kênh thốt riêng biệt. Trong các

dãy ao thì các kênh cấp được sử dụng lam kênh thốt sau mỗi vụ ni.

Để tiếp tục cấp nước cho các vụ nuôi tiếp theo, trước khi vụ nuôi bắt đầu

các kênh náy thường được hút cạn sau đó dduwocj khử trùng bằng chlorine để

diệt tạp và mầm bệnh. Ở khu ni Đồng Hồ thì các bờ kênh được đắp cao và

chắc chắn để phục vụ vận chuyển và đi lại trong suốt q trình ni.



Kênh được thiết kế có chiều rộng đáy kênh 3 - 4m, còn chiều rộng mặt

kênh khoảng 6 - 7m hệ số mái bờ kênh là 1:1.5, trong mương nước cấp ở dãy

ao cũng hoàn toàn tương tự như kênh cấp nước bao bên ngồi khu ni, nhưng

mặt đáy mương cấp sâu hơn so với đáy ao bởi vì khi xả nước từ ao ra thì nước

trong ao sẽ chảy ra hết mương thoát (cấp) này. Để phục vụ thuận tiện cho việc

đi lại và cấp nước đi qua các kênh, đối diện với một ao cấp nước được thiết kế

một cầu nhá bắc ngang qua kênh.

- Cấp nước để cải tạo ao và cấp nước trước khi thả giống bằng cống

ngầm. Phần còn thiếu ta có thể bơm vào ao bằng hệ thống đường ống kín

đường kính 300mm.

- Mương tiêu thấp hơn đáy ao 20-30 cm để dễ thoát được hết nước trong

ao nuôi.

* Ưu và nhược điểm của hệ thống cấp thốt nước ở khu ni thủy sản

Đồng Hòa:

Ưu điểm:

-



Ít tốn diện tích khu ni.



-



Ít tốn chi phí cho việc xây dựng và bảo dưỡng.



-



Nguồn nước xa khu vực dân cư và không bị ô nhiễm bởi chất thải khu

công nghiệp.

Nhược điểm:



-



Làm dễ lây lang dịch bệnh trong khu nuôi.



-



Việc cấp thốt nước khơng được chủ động.

Kỹ thuật thiết kế ao nuôi







Ao nuôi: Kết cấu một ao nuôi như sau:



- Hình dạng ao ni:

+ Các ao ni có dạng hình vng hoặc hình chữ nhật, diện tích từ 0,5 –

1ha. Các góc của ao được bo tròn nhằm tránh chất thải tích tụ và tạo cho dòng

chảy lưu thơng được dễ dàng hơn đồng thời gom các chất thải vào giữa ao.

+ Độ sâu mực nước thiết kế: hn = 2,0 m.

+ Độ cao lưu không: ∆h = 0,5m.

+Mỗi ao đều có 1 ống xả và được thơng ra ngồi kênh thoát nước. Cống

xả được sử dụng là loại ống nhựa PVC đường kính khoảng 0.2m, chiều cao cho



mỗi ống cống là 2m. Cống được đặt nơi thấp nhất của đáy ao và ở bờ nằm sát

kênh thoát nhất để đảm bảo rút nhanh, tháo cạn ao. Dưới nền đáy nơi đặt cống

được bê tơng hố ( 0,5 x0,5m) tạo thành lỗ cống thơng với kênh thốt, tránh

hiện tương xói lở đất theo dòng chảy.

- Đáy ao:Đáy ao được san phẳng, được đầm nén chặt, có độ dốc nghiêng

về phía ống xả đáy một góc 15o.

- Bờ ao:

Bờ ao được đắp bằng đát từ đáy ao lên, cao hơn mức nước cao nhất

trong ao từ 0,3 - 0,5m để hạn chế nước mưa mang phèn và các chất hữu cơ lơ

lững chảy xuống ao đồng thời hạn chế nước tràn ra khỏi ao khi mưa xuống

hoặc thủy triều lên cao gây tác hại không tốt đến ao đang nuôi.

- Độ dốc mái bờ tùy thuộc vào tính chất của đất, trong khu ni Đồng

Hòa như đã trình bày ở phần trước, tính chất đất ở đây là thịt pha sét có độ

cứng lớn nên ít bị xói lở vì vậy người ta đã xây dựng độ dốc mái bờ có tỷ lệ là

1:1.5.

- Bờ ao được xây dựng có độ rộng khoảng 4 - 5m để thuận tiện cho quá

trình đi lại, xây dựng nhà ở, nhà kho, và các mục đích khác như để xây lắp

mạng điện lưới. Ngồi ra một số bờ ao cũng được dùng để đặt động cơ của máy

quạt nước

Phủ bạt bờ ao

Đất ao nuôi được cấu thành từ lớp đất ban đầu và các chất liệu cũng như

cặn bã tích tụ trong thời gian ni tơm. Khi chất lượng của đất ao khơng thích

hợp hay có xu hướng khơng thích hợp cho ni tơm thì việc dùng bạt để phủ

bờ ao sẽ giúp giảm bớt hay loại trừ ảnh hưởng của chất đất lên một môi trường

nước ao nuôi.Gia cố ao nuôi cần thiết trong các trường hợp sau:

+ Đất bị phèn.

+ Đất chứa nhiều vật chất hữa cơ (những vùng rừng ngập mặn, đất trong

các ao nuôi thâm canh lâu năm, tồn tại nhiều khí độc NH3, H2S,... trong ao).

+ Đất cát có độ thẩm lậu cao và bị chất thải xâm nhập vào nhiều.

Trong ni tơm cơng nghiệp thì việc phủ bạt bờ ao là điều rất cần tuy chi

phí gia cố cao (lót bạt HDPE cho một ao chi phí lên đến 20.000.000 đồng/ao

5000m2) với chi phí này thì mơ hình nuôi tôm bán thâm canh năng suất thấp

không thể thực hiện được, chỉ có thể áp dụng trong ni tơm thâm canh năng

suất cao mà thôi.

- Tại khu nuôi Đồng Hòa sử dụng 2 loại vật liệu gia cố bờ ao đó là:



+ Nhựa tổng hợp PE: ưu điểm của vật liệu này là chi phí thấp hơn so với

HDPE (12000đ/m2), ngăn chặn định hại đào hang, giảm sự rò rỉ của phèn, sự

thẩm lậu nước từ ao này qua ao khác, nhưng nhược điểm của nó là tuổi thọ

ngắn (có thể sử dụng 3 - 4 vụ) , khả năng ngăn cản sự thẩm lậu của nước, xì

phèn vào ao nuôi chưa được tốt lắm.

+ Nhựa cao cấp HDPE: nhược điểm là chi phí cao, nhưng ưu điểm của

nó là tuổi thọ cao (có thể sử dụng tới 5 - 6 vụ nuôi), ngăn chặn định hại, sự

thẩm lậu của nước và xì phèn một cách triệt để hơn.

Hiện tại trong khu ni Đồng Hòa thì chỉ có thấy lót bạt bờ ao chưa thấy

lót bạt ở đáy ao.

Cách lót bạt : đào đất xung quanh đường bờ ao có độ sâu khoảng 15 20cm và 25 - 30cm ở dưới mặt đáy, sau đó tiến hành trải bạt ra các bờ ao. Kích

thước chiều rộng của bạt lót bờ ao đã được đo trước tránh trường hợp chiều

rồng của bạt lót khơng trùng với bờ ao sẽ dần đến hao hụt và dư thừa trong q

trình lót. Khi đã trài ra xong thì tiến hành căng bạt cho đều sau đó tiến hành

dập mối bạt và chơn bạt lại. Ở những chỗ nối nhau giữa bạt lót với nhau thì ta

tiến hành dán mép lại thật kỹ. Khi lót bạt nên chú ý các mối nối ở gần các góc

nơi đường giao thơng chính để thuận tiên cho máy cày lên xuống ở vụ sau.

Hệ số mái bờ: (m)

h



Bờ

ao



b

Hình: Cấu tạo mái bờ

m = , với h=3m; b=2,5m. Vậy hệ số mái bờ của ao là m = 0,8

Kỹ thuật làm bạt chắn cua còng:

 Cắt bạt kích thước bề ngang từ 0,8 – 1 m, chiều dài bằng chu vi của ao

nuôi

 Đào một lớp đất sâu khoảng 10 – 15 cm quanh bờ ao

 Chặt các cọc gỗ dài từ 1 – 1,2 m, vót nhọn một đầu. sau đó dùng cọc này

đóng quanh bờ ao, các cọc cách nhau từ 2 – 3m

 Dùng dây cước loại cỡ lớn căng quanh ao buộc qua các cọc đã đóng trên

 Dùng có đệm cao su để tránh bạt bị gió mạnh bung ra, đong cố định bạt

vào cọc



 Sau đó chơn mép bạt phía dưới xuống đất

 Dùng kim may mép bạt phía trên vào dây cước sau cho bạt căng và

thẳng là được

3.1.6. Ao chứa- lắng:

+ Được sử dụng với mục đích chứa và lắng các chất hữu cơ, phù sa và

xử lý trước khi bổ sung nước vào ao nuôi

+ Ao chứa, lắng được sử dụng làm nơi tiêu diệt các mầm bệnh từ nguồn

nước vào trước khi cấp vào ao ni

+ Hình dạng và kết cấu giống với ao nuôi. Ao chứa- lắng được bố trí ở

đầu các bộ phận ni. Cứ mỗi dãy 8 ao thì có 3 ao được sử dụng làm ao chứa,

lắng. Cứ 2 ao nuôi kề nhau lại được bố trí một ao chứa, lắng. Tuy nhiên, trong

quá trình ni, phụ thuộc vào điều kiện chất đất, địa hình mà sắp xếp ao chứa,

lắng cho phù hợp.

3.1.7. Hệ thống cung cấp khí cho ao ni:

Trước kia, người ni thương sử dụng hệ thống sục khí để cung cấp khí

cho ao ni. Hệ thống sục khí được bố trí chạy dọc theo bờ ao. Hệ thống này

bao gồm các ống nhựa nhỏ nối với máy sục khí và đầu kia bỏ xuống ao. Tuy

nhiên hệ thống này phức tap và ảnh hưởng đến đi lại, vận chuyển.

- Một thời gian sau đó, người ni sử dụng hệ thống quạt chân vịt để

thay thế, nhưng hiệu quả vẫn chưa cao, lại tốn công suất lớn. Hiện nay, ở khu

nuôi Đồng Hồ, hệ thống máy quạt nước dạng lơng nhím, đã thay thế hồn tồn

quạt chân vịt trước đây. Nó cũng có chức năng tương tự so với máy sục khí

nhưng khả năng cung cấp dưỡng khí (khí oxy) cho ao nhiều hơn, khả năng dồn

các chất thải vào giữa ao tốt hơn và đặc biệt cách bố trí và vận hành chúng

cũng dễ dàng hơn.





Vai trò của quạt nước lơng nhím

- Giúp tăng cường oxy cho ao và làm cho các khí độc như NH 3, H2S,…



thốt ra ngồi khỏi ao.

- Xáo trộn nước từ tầng đáy lên tầng mặt để tiếp xúc với ánh sáng mặt

trời giúp phiêu sinh vật phát triển.



- Tạo dòng chảy của nước quanh ao làm gom chất lắng cặn bã, trứng và

ấu trùng của các loài địch hại vào giữa ao, tạo đường sạch sẽ cho tôm kiếm ăn

 So sánh giữa quạt cánh và quạt lơng nhím

Quạt lơng nhím

- Độ hòa tan oxy cao



Quạt lá

- Độ hòa tan oxy thấp



- Tốc độ dòng chảy cao



- Tốc độ dòng chảy thấp



- Số vòng quay nhiều lần/phút



- Số vòng quay ít lần /phút



- Dễ sửa chữa



- Khó



- Chi phí cao



- Chi phí thấp



- Tuổi thọ cao



- Tuổi thọ thấp



- Dễ vận chuyển



- Khó vận chuyển.



 Lưu ý khi sử dụng quạt nước

- Thường xuyên kiểm tra động cơ, dây curoa, hộp số, vị trí đặt quạt cho

đúng

- Yêu cầu tất cả các mô tơ và hộp số phải được che kín tránh mưa và nắng

- Khi thời tiết có gió mạnh yêu cầu tắt các quạt có hướng quay ngược chiều

gió

- Thường xuyên bảo hành hệ thống quạt như: thay dầu nhớt, căn chỉnh độ

ăn nước của quạt, bật quạt luân chuyển nhau để có thời gian nghỉ cho tất cả các

quạt giữ độ bền cho quạt, vệ sinh rong rêu bám trên cánh quạt

- Khi xảy ra mất điện lưới hoặc khi chuyển từ dùng điện máy phát sang

dùng điện lưới yêu cầu phải giảm tải để khởi động thay đổi hệ thống điện

- Tất cả các dây điện phải được chôn hay treo trên cao tránh hiện tượng để

dây điện nằm trên đường đi nguy hiểm cho người và phương tiện đi lại

Buộc cao các dây điện của các quạt nước tránh để dây điện tiếp xúc với

nước ao gây nguy hiểm cho ao nuôi tôm

Kỹ thuật lắp quạt nước









Dụng cụ



+ 4 chữ Y dài, có đệm cao su

+ 2 thanh sắt dài khoảng 7m,

d = 3,5cm .



+ 2 khung sắt (50cm x 50cm) có một lỗ để đặt 1 chữ Y dài và một khung

sắt có 2 lỗ để đặt 2 chữ Y dài.

+ 1 khung sắt lớn (75cm x 50cm) để đặt bệ máy động cơ và hộp giảm

tốc GT10.

+ 1 bệ máy (30cm x 50cm, sử dụng vật liệu là sắt tổng hợp

+ 1 ống nối để ráp cánh quạt

+ 1 thanh truyền hình chữ I ngắn dài khoảng 2m.

+ 1 trục hình chữ T ngắn khoảng 10cm.

+ 2 cánh quạt lơng nhím.

+ 1 động cơ điện 3 pha với cơng suất 2,2Kw - 1425 vòng/phút

+ 1 hộp giảm tốc GT10.

+ 1 dây cuzoa cỡ 47-48.

+ Dây cước, cọc để đóng khi cố định quạt.

+ 1 bè xốp (80cm x 60cm) và 3 bè xốp (50cm x 50cm), toàn bộ được

bọc bởi bạt

 Cách đặt và bố trí quạt nước trong ao

Vị trí đặt quạt nước vào khoảng 3 - 5m cách chân bờ, có thể thực hiện

đạt quạt nước hơi nghiêng sao cho dòng chảy hướng về phía bờ ao.

Nếu khoảng cách giữa máy quạt nước lớn hơn 50m, nên bổ sung thêm

máy quạt nước sau tháng thứ nhất. Nếu như khoảng cách giữa các máy quạt

nước là 50 - 70m thì nên bổ sung thêm một số máy ở gần phía giữa ao chứ

khơng đặt gần các máy quạt nước đang có, tức là đặt cách bờ khoảng 15 - 20m.

Nếu khoảng cách giữa các máy quạt nước từ 70 - 100m thì ta có thể đặt thêm

các máy quạt nước ở cùng hàng với các máy quạt nước hiện có và cách bờ

khoảng 3 - 5m.



- Quạt nước trong ao ni thường được bố trí theo kiểu được miêu tả

qua hình dưới đây:



Hình Bố trí quạt nước



- Tùy theo diện tích và điều kiện ao ni mà ta có thể bố trí thêm quạt

trong khi ni.

+ Về diện tích: Đối với các ao ni có diện tích 0,5 hì có thể bố trí 6 - 8

quạt nước theo cách bố trí theo hình vẽ dưới đây.

+ Về mật độ ao nuôi: Việc nuôi tôm với mật độ thưa như quảng canh cải

tiến, bán thâm canh và nuôi thâm canh với năng suất thấp thì nhu cầu quạt

nước khơng được chú trọng, diện tích rộng từ 1 - 2ha có thể tận dụng được

nguồn oxy xâm nhập ngồi tự nhiên vào. Nhưng đối với mơ hình ni tơm

thâm canh siêu cơng nghiệp với mật độ khá dày thì nhu cầu cần có quạt nước

trong khi ni là hết sức cần thiết, nếu khơng có quạt nước sẽ khơng đủ oxy để

tôm hô hấp, tôm sẽ thiếu oxy và sẽ gây nên hiện tượng nổi đầu. Do vậy, việc bố

trí thêm quạt nước là hết sức cần thiết. Thơng thường thì với mật độ ni ở

cơng ty cổ phần thủy sản BIM tại khu ni Đồng Hòa được bố trí quạt nước

theo mật độ ni và diện tích ao nuôi như sau:

Bảng Số lượng quạt nước cần trong ao ni theo diên tích và mật độ

ni



Diện tích ao ni (m2)

5000m2

8000m2



10000m2



Mật độ nuôi (con/m2)

120- 150



Số lượng quạt nước (cái)

4- 6



350- 500

120- 150



6- 8

5- 6



150- 350

120- 150



7- 8

5- 6



150- 350



7- 8



350- 500



8-10



3.1.8. Các trang thiết bị phục vụ sản xuất:

+ Hệ thống điện: điện lưới và điện máy phát

Điện lưới: là hệ thống dòng điện xoay chiều 3 pha với hệ thống các cột

điện được bố trí dày đặc ở bờ liên ao nằm giữa 2 dãy và ở bờ bao quanh mỗi khu

nuôi, được vận hành để đảm bảo sự hoạt động của hệ thống quạt, máy bơm, hệ

thống đèn chiếu sáng cho các ao và điện dùng cho sinh hoạt trong các lán của tổ

đội.

Điện máy phát: Toàn khu nuôi được lắp đặt 27 trạm máy phát công suất

lớn gồm 22 máy nhỏ 110 KVA và 5 máy lớn 300 KVA được vận hành bằng dầu

diezen nhằm hỗ trợ cho hệ thống điện lưới khi hệ thống điện lưới gặp phải sự

cố.

- Phao xốp : Làm bằng xốp loại 25 Kg/m3, kích thước 2.000 x 1000 x

200 mm, được bọc bằng bạt chống thấm và nẹp khung tre cho cứng. Phao xốp

thay cho thuyền để công nhân nuôi tôm thực hiện mọi thao tác kỹ thuật như

cho ăn, bón thuốc, hoá chất…Dùng phao xốp vừa rẻ tiền lại dễ thao tác, chỉ cần

kéo dây căng trên mặt ao nuôi là có thể đi khắp mặt ao, khơng phải mất thêm

người chèo thuyền.

- Sàng kiểm tra thức ăn : Để kiểm tra sự bắt mồi và sức khoẻ của tôm từ

đó quyết định khẩu phần ăn từng bữa của tơm. Khung sàng ăn dựoc làm bằng

Inox φ 7, hình tròn, kích thước 80 x 80cm. Bọc bằng lưới 169 mắt/cm 2 dùng

kiểm tra thức ăn từ số 1 trở xuống, lưới 40 mắt/cm 2 để kiểm tra thức ăn từ số 2

trở lên.



- Các dụng cụ mau hỏng rẻ tiền : Đèn ắc quy để bảo vệ và soi kiểm tra

sức khoẻ của tôm, vợt hớt bọt ao nuôi, căng dây để kéo phao, dây hoặc tre để

cố định máy quạt nước, xô, chậu, ca nhựa, bàn chải đánh sàng ăn, cuốc, xẻng,

chổi dễ, ủng, găng tay và áo mưa…

- Các dụng cụ thu hoạch : Lưới cước, chài cước, vợt xúc tôm, rổ nhựa,

cân đĩa, xe cải tiến, bạt lót khu vực cân tơm.

- Các hố chất: thuốc tím, Chlorine, Saponin, EDTA,…

- Các trang thiết bị hiện đại: máy múc, máy cày, ôtô. Và gồm các dụng

cụ khác như cánh quạt nước, khung sắt để lắp quạt, thức ăn cho tôm, vôi,

Zeolite, dây diện…Nếu chuẩn bị tốt khâu này đó cũng chính là góp một phần

thành cơng lớn trong khâu sản xuất sau này.





Làm cầu nhá xem tôm

Làm cầu nhá có thể làm và đóng xuống ao trước khi chưa cấp nước vào



trong ao hay sau khi đã cấp nước vào trong ao, nó phụ thuộc vào khối lượng

cơng việc trong khâu cải tạo.

+ Tác dụng

Dùng để tạo đường đi ra ao đặt nhá thăm tơm, nó phụ vụ trong việc theo

dõi tơm khoẻ hay tơm yếu, có lột vỏ dính hay khơng, tơm có chết nhá hay

khơng...., ngồi ra còn là nơi để làm điểm tựa đặt sàng ăn (xem tơm ăn no hay

ăn đói) từ đó đề ra giải pháp có nên thêm hay bớt đi khẩu phần thức ăn cho

tôm.

+ Vật liệu

- 3 cây gỗ đường kính khoảng 7 - 8cm, chiều dài khoảng 6 - 7m.

- 4 cây gỗ dường kính khoảng 6 - 7cm , chiều dài khoảng 2,5 - 3m.

- 18 cây nẹp để tạo thành các nất thang cho dễ đi.

- 1 cọc để đống giữ cố định cho cầu khỏi bị xê dịch.

- Đinh 5 + đinh 10 để đóng các nẹp cây vào 3 thanh gỗ.

- Dây cước để cố định cầu thay đinh nếu cần

+ Kỹ thuật đóng và vị trí đặt cầu nhá

- Đóng cầu nhá rất đơn giản. Hình dạng chiếc cầu nhá tương tự như một

các thang leo cây để nằm, có từng nất thang để bước lên đi cho dễ để khỏi bị

rơi ngã xuống ao.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tôm có vỏ mỏng, cơ thể có màu trắng đục hoặc đỏ nhạt, trên thân có những đốm nâu nhỏ li ti, phần cuối chạc đuôi thường có màu đỏ hồng hoặc xanh tím

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×