Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Đôí tượng và tổ chức nghiên cứu:

2 Đôí tượng và tổ chức nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ - 0trang

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



5.



6.

7.

8.



kiến chuyên gia để xây

dựng cơ sở lý luận về kỹ

năng làm việc nhóm, kỹ

năng làm việc nhóm của

học sinh độ tuổi trung học

phổ thơng và mối quan hệ

giữa các trò chơi vận động

trong hoạt động giáo dục

thể chất tới sự phát triển kỹ

năng làm việc nhóm.

Xây dựng mới một số

trò chơi vận động trong

hoạt động Giáo dục Thể

chất góp phần phát triển kỹ

năng làm việc nhóm cho

học sinh trung học phổ

thông.

Xin ý kiến đánh giá

của chuyên gia.

Thử nghiệm.

Đánh giá thử nghiệm.

Viết kết quả nghiên cứu.



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



11/2009



12/2009



1/2010

3/2010

4/2010



3/2010

4/2010

4/2010



9.



Trình thầy hướng dẫn.



4/2010



5/2010



10.



Chỉnh sửa đề tài lần cuối.



5/2010



5/2010



11.



Báo cáo đề tài.



Trang 32



5/2010



Trường ĐH Sư

phạm TP. Hồ Chí

Minh.

Trường ĐH Sư

phạm TP. Hồ Chí

Minh.



SVTH: LÂM THANH MINH



KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP



CHƯƠNG 4:



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



4.1 Mục tiêu 1:

Tìm hiểu cơ sở lý luận về kỹ năng làm việc nhóm, kỹ năng làm việc nhóm

của học sinh độ tuổi trung học phổ thông và mối quan hệ giữa các trò chơi vận động

trong hoạt động giáo dục thể chất tới sự phát triển kỹ năng làm việc nhóm.

4.1.1 Cơ sở lý luận về kỹ năng làm việc nhóm:

Nhóm khơng phải là một cơ chế, hay một tổ chức mang tính hình thức, một

thứ mốt nhất thời, một chương trình, mà là một cách làm việc, một sự thay đổi thói

quen bảo thủ trong suy nghĩ của con người. Nhóm làm thay đổi mối quan hệ giữa

người với người trong cơng việc.

Và làm việc theo nhóm là một xu thế rất phát triển và hiệu quả trong các

doanh nghiệp hiện nay, kỹ năng làm việc nhóm đã trở thành một trong những tố

chất quan trọng đối với tất cả những ai muốn thành công.

Trước hết, kỹ năng làm việc nhóm khơng phải là sự cơng lại hay sự kết hợp

một cách đơn giản bằng số đông, bằng sức mạnh trong q trình làm việc. Làm việc

nhóm đòi hỏi phải có sự đầu tư, phải có sự phối hợp một cách rất ăn ý hoặc phải có

sự tương tác đúng nghĩa dựa trên phương diện tâm lí giữa các cá nhân với nhau thực

hiện một mục tiêu chung.

Vì sao nhiều người nói chung và nhiều bạn trẻ nói riêng trong đó có các em

học sinh phổ thơng chưa có kỹ năng làm việc nhóm? Chính những thói quen xấu và

những suy nghĩ tiêu cực hay những thái độ “bi quan” đã trở thành những rào cản

không thể vượt qua. Nhiều bạn trẻ có cái tơi “q khổ” nên khơng dễ chấp nhận

người khác. Nhu cầu “tôi là số một” ln thường trực trong suy nghĩ của cá nhân thì

sao có thể chấp nhận người khác. Hơn nữa, thói quen chỉ nhìn thấy khuyết điểm

cũng là một thách thức khơng nhỏ làm cho nhiều kỹ năng làm việc nhóm trở nên xa

vời. Khi tâm lý không chịu nhau, không tôn trọng nhau hay thậm chí là khơng phục

nhauu thì sao có thể kề vai sát cánh một cách đúng nghĩa. Cá nhân trong nhóm roi

vào trạng thái “ngang ngang bằng bằng”, thủ lĩnh thì chưa được nhiều thành viên



Trang 33



SVTH: LÂM THANH MINH



KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



tơn trọng … từ đó những mâu thuẫn và những rối nhiễu nãy sinh rất nhẹ nhàng

nhưng khá sâu sắc…

Khi làm việc nhóm, khơng ai có vị trí “ngơi sao” một cách tuyệt đối ngay cả

thủ lĩnh. Nếu có thì vị trí ngơi sao này chỉ đóng vai trò tương đối và chính vị trí này

sẽ do tất cả hoặc đa số các thành viên trong nhóm thống nhất. Để làm việc nhóm

hiệu quả thì khơng thể đòi hỏi người thủ lĩnh phải hiểu nhân việc mà chắc chắn mỗi

nhân viên cần biết quan tâm đến chính bản thân mình. Khi đã trở thành một thành

viên của nhóm, khơng nên quan niệm rằng tôi chỉ làm theo sự phân công hay tôi chỉ

làm theo những giá trị mà tôi được thừa nhận. Tất cả mỗi thành viên đều có vai trò

và vị trí khác nhau trong nhóm, mỗi thành viên đều có trách nhiệm hướng đến cơng

việc chung cũng như sự thành cơng chung của nhóm chứ khơng phải vì người thủ

lĩnh hay chỉ vì bản thân mình…

Để có thể làm việc nhóm, bên cạnh những nỗ lực của từng cá nhân thì chắc

chắn rằng mỗi người đều phải thừa nhận rằng chúng ta vẫn có một nhà tổ chức hiệu

quả. Đầu tàu trong trường hợp này thực sự quan trọng. Người tổ chức phải làm sao

ngăn chặn được hiện tượng: “ngồi ỳ đồng ý” hay hiện tượng “đẽo cày giữa đường”.

Sự phối hợp và tương tác giữa các thành viên trong nhóm chỉ diễn ra một cách hiệu

quả khi mỗi người luôn ý thức rằng nhiệm vụ của tập thể là nhiệm vụ của cá nhân.

Sự gắn kết giữa các thành viên dựa trên mối quan hệ tinh thần đồng đội.

Khơng thể có kỹ năng làm việc nhóm nếu mỡi con người chúng ta chưa thể

loại bỏ tất cả những thói quen hay những cái nhìn chủ quan. Điều này đòi hỏi chúng

ta phải hiểu mình và hiểu người. Tinh thần biết chấp nhận người khác, biết sử dụng

người khác trong những hoàn cảnh khác nhau hay biết khơi gợi tối đa tiềm lực của

mỗi người là điều cực kì cần thiết. Khi điều đó xảy ra thì bản thân từng thành viên

đã nhận ra được sức mạnh của mình cũng như sức mạnh tổng hợp và đồng bộ của

nhóm được tận dụng và như vậy là mọi sự dễ dàng thành công khi phát huy được

tinh thần là việc nhóm …



Trang 34



SVTH: LÂM THANH MINH



KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



4.1.2 Vài nét về kỹ năng làm việc nhóm của học sinh độ tuổi trung

học phổ thơng:

Gia đình là 1 nhóm bao gồm các thành phần khác nhau về tuổi tác, tính cách,

chun mơn, giới tính …nhưng đều chia sẽ một mục đích chung là tình u gia

đình.

Từ gia đình, các em học sinh bước vào thế giới học đường, nơi đây cấu trúc

của đội nhóm mang một yếu tố mới, đó là cấu trúc xã hội thu nhỏ, tập hợp của tất cả

các cá nhân khác nhau, cùng chia sẽ một mục đích là học tập, đứng đầu là giáo viên

chủ nhiệm, kế đến là lớp trưởng. Vai trò của đội nhóm cũng phân định tương đối rõ

ràng, trách nhiệm của từng cán sự và thành viên trong lớp. Tuy nhiên hình thức đội

nhóm này rất lỏng lẻo và không gắn chặt mọi thành viên vào với nhau, khi các học

sinh khơng tham gia tích cực vào các hoạt động của lớp.

Thêm vào đó, hiện nay, những giờ học trên lớp hầu như học sinh rất ít thời

gian thảo luận trao đổi nhóm với nhau điều này là có nhiều ngun nhân. Ngun

nhân mà chúng tơi muốn nói tới là do các em chưa được trang bị những kỹ năng cần

thiết để làm việc theo nhóm. Tuy trên thực tế đã có một số trường học đã đưa

chương trình học rèn luyện những kỹ năng mềm cho học sinh xong hiệu quả cũng

chưa cao.

4.1.3 Cơ sở lý luận của phương pháp trò chơi vận động trong hoạt

động giáo dục thể chất nói chung và cho cho học sinh trung học

phổ thơng.

Phương pháp sử dụng trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục

thể chất có những đặc điểm sau:

Tổ chức theo chủ đề, hoạt động của những người chơi được tổ chức tương

ứng với chủ đề giả định hoặc có tính chất hình ảnh. Mỗi trò chơi càn đạt được mục

đích nhất định. Chủ đề chơi có thể lấy trực tiếp từ hiện thực xung quanh, phản ánh

các hoạt động thực dụng trong đời sống (thí dụ mô phỏng các động tác lao động,

sinh hoạt trong các trò chơi vận động đơn giản), hoặc có thể sang tác theo nhu cầu

giáo dục thể chất.



Trang 35



SVTH: LÂM THANH MINH



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



Phong phú về phương thức đạt mục đích và tính tổng hợp của hoạt động.

Khả năng đạt mục đích chơi thường khơng hạn chế ở một phương thức hành động.

Hầu như bao giờ cũng có nhiều cách để chiến thắng được luật chơi cho phép. Luật

chơi chỉ nêu những quy định về hành vi chứ không định trước một cách cứng nhắc

hành động cụ thể. Về nguyên tắc, hoạt động trò chơi trong q trình giáo dục thể

chất mang tính chất tổng hợp, tức là gồm nhiều hoạt động vận động khác nhau như

chạy, nhảy, ném, bắt … Đôi khi, trong phương pháp trò chơi cũng sử dụng các động

tác tương đối đồng nhất.

Do những đặc điểm và yêu cầu về tính tự lập, sang kiến nhanh trí và khéo léo

nên phương pháp trò chơi tạo ra cho người chơi điều kiện rộng rãi để giải quyết một

cách sáng tạo nhiệm vụ vận động. Thêm vào đó, sự thay đổi thường xuyên và bất

ngờ các tình huống trong tiến trình chơi buộc phải giải quyết các nhiệm vụ trong

thời gian ngắn và động viên đầy đủ các khả năng vận động.

Tạo nên quan hệ đua tranh căng thẳng giữa các cá nhân và giữa các nhóm

người với tính cảm xúc cao. Trong đa số các trò chơi, mặc dù chỉ là giả định nhưng

đều mang tính chất căng thẳng tâm lý ở mức khá cao. Trong trò chơi, những mối

quan hệ giữa các cá nhân và giữa các nhóm diễn ra tích cực. Các quan hệ này được

xây dựng vừa theo kiểu hợp tác (giữa những người cùng đội), vừa theo kiểu đua

tranh (giữa các đối thủ trong các trò chơi đối kháng, giữa hai người hay hai đội) với

những mâu thuẫn và xung đột nhất định. Điều đó tạo nên luồng cảm xúc cao và tác

động đến sự biểu hiện rõ nét các phẩm chất đạo đức cá nhân.

Chương trình hố hành động và định mức chính xác lượng vận động bị hạn

chế. Từ những điều trên ta thấy phương pháp trò pháp trò chơi khơng cho phép dự

tính trước một cách chặt chẻ vê cả thành phần động tác, lẫn mức độ ảnh hưởng của

chúng tới người tập.

Do những đặc điểm riêng của mình nên phương pháp trò chơi được sử dụng

trong q trình giáo dục thể chất khơng hẳn để giảng dạy ban đầu một động tác nào

đó hoặc để động tác có chọn lọc tới những khả năng riêng biệt, mà chủ yếu là nhằm

hoàn thiện một cách tổng hợp hoạt động vận động trong điều kiện phức tạp. Chủ

yếu, việc sử dụng phương pháp trò chơi cho phép hoàn thiện các năng lực và tố chất

Trang 36



SVTH: LÂM THANH MINH



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



như khéo léo, định hướng, độc lập, sáng kiến. Đối với những nhà chun mơn có

kinh nghiệm, phương pháp trò chơi rất có hiệu quả để giáo dục tinh thần tập thể,

đồng đội, đồng chí, ý thức tổ chức kỷ luật và nhiều phẩm chất đạo đức Mối quan hệ

giữa các trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất tới sự phát triển kỹ

năng làm việc nhóm khác.

4.1.4 Sự tác động của trò chơi vận động tới sự phát triển kỹ năng

làm việc nhóm.

Hiện nay, theo các nhà tâm lý học, để có thể bước vào một tập thể hoặc một

đội nhóm trong mơi trường làm việc, học sinh cần phải tích cực tham gia các hoạt

động văn hố văn nghệ, thể dục thể thao và các hoạt động ngoại khoá của trường,

lớp để rèn cho bản thân những kỹ năng cần thiết nhất để làm việc theo nhóm. Thêm

vào đó, hiện nay giờ học trên lớp học sinh rất ít thời gian thảo luận, trao đổi nhóm,

tự học, tổ chức và quản lý giờ tự học và đây cũng là một trong những nguyên nhân

làm cho học sinh thiếu các kỹ năng cần thiết để làm việc theo nhóm. Tuy trên thực

tế đã có một số trường học đã đưa chương trình học rèn luyện những kỹ năng mền

cho học sinh xong hiệu quả cũng chưa cao.

Thực tế cho thấy các trong các giờ giáo dục thể chất luôn là giờ học các em

học sinh thể hiện sự phân công tập luyện, thể hiện kỹ năng tự tổ chức và quản lý

dưới sự giám sát của giáo viên bộ mơn. Và đây chính là nơi tạo ra các tiền đề các

em học sự thể hiện sự tổ chức nhóm, quản lý nhóm, chinh phục thử thách.

Trong hoạt động giáo dục thể chất, trò chơi vận động ln tạo nên quan hệ

đua tranh căng thẳng giữa các học sinh và giữa các nhóm học sinh với tính cảm xúc

cao. Trong đa số các trò chơi, mặc dù chỉ là giả định nhưng đều mang tính chất căng

thẳng tâm lý ở mức khá cao làm nảy sinh tính sáng tạo, tính đồng đội và ý thức tự

chủ rất cao. Trong trò chơi, những mối quan hệ giữa các cá nhân và giữa các nhóm

diễn ra tích cực. Các quan hệ này được xây dựng vừa theo kiểu hợp tác (giữa những

người cùng đội), vừa theo kiểu đua tranh (giữa các đối thủ trong các trò chơi đối

kháng, giữa hai người hay hai đội) với những mâu thuẫn và xung đột nhất định.

Điều đó tạo nên luồng cảm xúc cao và tác động đến sự biểu hiện rõ nét các phẩm

chất đạo đức cá nhân.

Trang 37



SVTH: LÂM THANH MINH



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



Như chúng ta được biết làm việc nhóm khơng phải là sự cơng lại hay sự kết

hợp một cách đơn giản bằng số đông, bằng sức mạnh trong q trình làm việc. Làm

việc nhóm đòi hỏi phải có sự đầu tư, phải có sự phối hợp một cách rất ăn ý hoặc

phải có sự tương tác đúng nghĩa dựa trên phương diện tâm lí giữa các cá nhân với

nhau thực hiện một mục tiêu chung. Cũng như, trong hoạt động giáo dục thể chất,

trò chơi vận động luôn tạo nên quan hệ đua tranh căng thẳng tâm lý ở mức khá cao

làm nảy sinh tính sáng tạo, tính đồng đội và ý thức tự chủ rất cao.

Chính những yếu tố trên sẽ giúp cho học sinh hình thành được những kỹ

năng cần thiết khi việc theo nhóm.

Qua phân tích cơ sở lý luận về kỹ năng làm việc nhóm và mối quan hệ giữa

các trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất tới sự phát triển kỹ năng

làm việc nhóm, chúng tơi đi đến kết luận: giữa kỹ năng làm việc nhóm và trò chơi

vận động trong hoạt động giáo dục thế chất có những đặc điểm chung về cấu trúc

hoạt động, diễn biến tâm lý của người tham gia cũng như cách thức tổ chức thực

hiện.



4.2 Mục tiêu 2:

Xác định một số trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất góp

phần phát triển kỹ năng làm việc nhóm cho học sinh trung học phổ thông.

Để giải quyết nhiệm vụ này chúng tôi tiến hành các bước sau:

4.2.1 Bước 1: Hệ thống hóa các tài liệu chun mơn

Những trò chơi vận động mà người nghiên cứu đã lựa chọn được hệ thống

hóa từ các nguồn tài liệu về các trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất

dành cho lứa tuổi trung học phổ thông, một số tài liệu về nhóm và làm việc theo

nhóm. Việc lựa chọn đó là dựa trên tiêu chí về hiệu quả của làm việc nhóm, theo

tiến sĩ M.Ballot thuộc trung tâm tư vấn việc làm ở Massachuset, có 15 tiêu chuẩn để

đánh giá khả năng làm việc theo nhóm:



Trang 38



SVTH: LÂM THANH MINH



KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP

1.



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



Lòng tin: Bạn có tin tưởng vào khả năng hồn thành cơng việc của đồng

nghiệp khơng?



2.



Bình tĩnh: Trong thời gian vơ cùng gấp rút, bạn có khả năng giải quyết tình

huống một cách bình tĩnh khơng?



3.



Tơn trọng: Ý kiến của đồng nghiệp có được bạn quan tâm khơng? Bạn có

rút ra được những ý tưởng của bản thân từ những ý kiến đó?



4.



Hợp tác: Khả năng hoà nhập của bạn như thế nào với đồng nghiệp từ những

lĩnh vực, khả năng, thậm chí quốc tịch khác nhau?



5.



Tổ chức: Bàn làm việc của bạn có gọn gàng khơng? Bạn có làm việc theo kế

hoạch đã vạch?



6.



Khả năng làm việc dưới áp lực: Bạn có phát huy được tốt nhất khả năng

khi làm việc dưới áp lực khơng?



7.



Khả năng giao tiếp: Bạn thích tiếp xúc với nhiều người? Bạn luôn luôn thu

hút được sự chú ý của mọi người trong mọi câu chuyện.



8.



Khả năng kiểm sốt tình huống: Khi một tình huống ngồi dự kiến xảy ra,

bạn luôn luôn đưa ra được những bước cần thiết để giải quyết.



9.



Khả năng thuyết phục: Bạn có đưa ra được những lý lẽ thích hợp để bảo vệ

ý kiến của mình?



10. Lạc quan: Bạn có ln tin rằng mình có khả năng tìm ra giải pháp khi “bị

dồn đến chân tường”?

11. Trách nhiệm: Bạn luôn sẵn sàng tiên phong cho việc chung?

12. Kiên trì: Khi cơng việc đình trệ bạn sẽ cố gắng tiếp tục được bao lâu?

13. Quyết tâm: Bạn sẽ phản ứng như thế nào khi kết quả khơng được như mong

muốn? Từ bỏ hay tìm một hướng giải quyết khác.

14. Nhạy bén: Bạn có dự tính được những tình huống khác nhau có thể xảy ra

trong cơng việc? Bạn có khả năng giải quyết linh hoạt những tình huống đó

khơng?

Trang 39



SVTH: LÂM THANH MINH



KHỐ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



15. Lắng nghe: Bạn không ngắt lời đồng nghiệp khi họ đang muốn đưa ra ý

kiến? Bạn có ln khuyến khích mọi người đưa ra ý kiến của riêng mình?

Vậy bạn đã đạt đủ những tiêu chuẩn đó chưa?

Để phát huy được tối đa kỹ năng làm việc nhóm, bạn cũng nên tự trang bị

các kiến thức cơ bản về làm việc nhóm cho mình.



Các trò chơi sau:

1.



Chuyền bóng qua

đầu:



2.



Bóng qua hầm:



3.



Đan bóng:



4.



Đàn



vịt



nào



nhanh:



5.



Phá vây:



6.



Đội nào cò nhanh

hơn:



7.



Bóng chuyền sáu:



8.



Vượt sơng:



9.



Giăng lưới bắt cá:



4.2.2 Bước 2: Lập phiếu phỏng vấn

Để đảm bảo tính khách quan và độ tin cậy khi của các trò chơi vận động

trong hoạt động giáo dục thể chất đã lựa chọn chúng tôi tiến hành lập phiếu

phỏng vấn theo mẫu:

Phiếu phỏng vấn (phụ lục 1) sau khi lập xong được gửi tới các giảng viên,

giáo viên chun mơn có kinh nghiệm trong hoạt động giáo dục thể chất trường học

và hoạt động nhóm, để lựa chọn các trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể

chất có ảnh hưởng tốt tới sự phát triển kỹ năng làm việc nhóm của học sinh trung

học phổ thông. Tổng số phiếu phát ra là 21, thu về là 21. Sau đó tiến hành tính tỷ lệ

phần trăm(%). Mức độ sử dụng từng trò chơi, kết quả tính tốn được trình bày qua

bảng:



Trang 40



SVTH: LÂM THANH MINH



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



Bảng 1: Kết quả phỏng vấn (n=21)

Kết quả phỏng vấn

STT



Số phiếu tán



Số phiếu khơng tán



thành



thành



Trò chơi vận động

Số



lượng



Tỉ lệ (%)



Số

lượng



Tỉ lệ (%)



1.



Chuyền bóng qua đầu



15



71,43 %



6



28,57 %



2.



Bóng qua hầm



10



47,62 %



11



52,38 %



3.



Đan bóng



8



38,10 %



12



71,90 %



4.



Đàn vịt nào nhanh



13



61,90 %



8



30,10 %



5.



Phá vây



6



28,7 %



15



71,3 %



6.



Đội nào cò nhanh hơn



17



80,95 %



4



19,05 %



7.



Bóng chuyền sáu



19



90,48 %



2



9,52 %



8.



Vượt sông



6



28,57 %



15



71,43 %



9.



Giăng lưới bắt cá



10



47,62 %



11



52,38 %



Từ kết quả phỏng vấn trên, kết hợp với quá trình đánh giá các trò chơi trên

chúng tơi chọn có phiếu tán thành từ 60% trở lên để tiến hành thực nghiệm.

Như vậy những trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất mà chúng

tôi chọn dựa trên kết quả của Bảng 1 như sau:

1. Chuyền bóng qua đầu

2. Đàn vịt nào nhanh



3. Đội nào cò nhanh hơn

4. Bóng chuyền sáu



Trang 41



SVTH: LÂM THANH MINH



KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP



GVHD: Th.S PHAN THÀNH LỄ



4.3 Mục tiêu 3:

Đánh giá hiệu quả các trò chơi vận động trong hoạt động giáo dục thể chất đã

xác định.

4.3.1 Bước 1: Tiến hành soạn thảo phiếu điều tra

Tiến hành soạn thảo phiếu điều tra dựa trên 15 tiêu chí cụ thể của tiến sĩ

M.Ballot thuộc trung tâm tư vấn việc làm ở Massachuset để đánh giá khả năng làm

việc theo nhóm của nghiệm thể:

1. Lòng tin



8. Khả năng kiểm sốt tình

huống



2. Bình tĩnh

3. Tơn trọng



9. Khả năng thuyết phục



4. Hợp tác



10. Lạc quan



5. Tổ chức



11. Trách nhiệm



6. Khả năng làm việc dưới áp



12. Kiên trì



lực



13. Quyết tâm



7. Khả năng giao tiếp



14. Nhạy bén

15. Lắng nghe



Bảng điều tra có 30 câu hỏi với 5 mức độ trả lời (hoàn tồn khơng đúng,

khơng đúng, lưỡng lự, đúng, hồn tồn đúng) bao gồm:





15 câu tiêu cực: 3, 4, 6, 9, 12, 14, 15, 16, 18, 22, 23, 24, 25, 26, 30.

Điểm số được quy đổi từ các mức độ trả lời như sau:

– Hồn tồn khơng đúng: 5 điểm,

– Khơng đúng: 4 điểm,

– Lưỡng lự: 3 điểm,

– Đúng: 2 điểm,

– Hoàn tồn đúng: 1 điểm.







Trang 42



15 câu tích cực: 1, 2, 5, 7, 8, 10, 11, 13, 17, 19, 20, 21, 27, 28, 29.



SVTH: LÂM THANH MINH



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Đôí tượng và tổ chức nghiên cứu:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×