Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
BÀI 2: QUAN SÁT NẤM MEN

BÀI 2: QUAN SÁT NẤM MEN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mục đích: theo dõi sự sinh trưởng của vi sinh vật trong các q trình lên

men thực hiện trên mơi trường lỏng

Cấu tạo buồng đếm:

- Buồng đếm là một phiến kính dày, với bề mặt hình chữ nhật

- Trên bề mặt buồng đếm, có đục 4 rãnh song song với chiều rộng và

chia bề mặt thành 3 khoang chính A, B và C. Chiều cao của hai

khoang A, C là như nhau. Khoang giữa B thấp hơn hai khoang bên A

và C một đoạn h. Giá trị h được gọi là chiều cao của buồng đếm

- Khoang B được chia tiếp thành 2 khoang nhỏ B1 và B2 nhờ một rãnh

đục song song với chiều dài của bề mặt buồng đếm.

- Trên mỗi khoang nhỏ, người ta kẻ một lưới đếm gồm nhiều ơ lớn hình

vng hoặc hình chữ nhật. Một ô lớn được chia tiếp thành các ô nhỏ

hơn

- Buồng điếm có kèm theo lá kính để đậy. Lá kính có bề mặt hình vng

và rất phẳng

3. CÁCH TIẾN HÀNH

3.1.

Quan sát nấm men sống và chết

- Cho vài giọt canh trường nấm men Saccharomyces cerevisae và một

giọt thuốc nhuộm xanh methylene (đã pha lỗng 10 lần) lên phiến

kính, nhẹ nhàng trộn đều, đậy lá kính lại để yên trong 2-3 phút rồi

đem quan sát: tế bào chết bắt màu xanh còn tế bào sống khơng

màu.

- Muốn tính tỷ lệ tế bào sống chết, ta đếm số tế bào chết và tổng số tế

bào chung (sống và chết) trên 5 kính trường rồi suy ra phần trăm tế

bào sống chết. Nếu nấm men đang ở giai đoạn sinh trưởng, lượng tế

bào chết không quá 2-4%.

3.2.

Quan sát lượng nấm men nảy chồi:

- Cho một giọt canh trường nấm men và một giọt NaOH hoặc H2SO4

10% lên phiến kính trộn đều, đậy lá kính lại, đặt lên kính hiển vi

quan sát. Đếm số tế bào chung và số tế bào đang nảy chồi rồi suy ra

phần trăm.

- Tế bào được xem là đang nảy chồi, tức là những tế bào có tế bào con

bé hơn hoặc bằng ½ tế bào mẹ, nếu tế bào con lớn hơn ½ tế bào mẹ

thì phải tính hai tế bào.

3.3.

Quan sát tỷ lệ sống chết:

Trong bài thí nghiệm này, ta dùng xanh metylen để nhuộm màu, phân

biệt tế bào sống và tế bào chết.

Cơ sở của việc nhuộm màu nấm men.

- Thuốc nhuộm đi qua màng tế bào chết dễ hơn tế bào sống.

- Nguyên sinh chất tế bào chết dễ bắt màu.

Cách tiến hành:

- Chuẩn bị xanh metylen (pha loãng 10 lần) để nhuộm màu.

- Pha loãng mẫu đến độ pha loãng 10-2.

- Làm tiêu bản.

- Nhuộm màu trước khi ép lamen mỏng lên lam kính.

9



-



Chờ khoảng 1-2 phút đủ thời gian để màu thấm vào tế bào nấm men.

Đem tiêu bản đi quan sát dưới kính hiển vi tại 5 điểm khác nhau.

3.4.

Đánh giá nhiễm vi sinh vật của canh trường:

- Trong khi thực hiện thí nghiệm 1 và 2, quan sát xem canh trường có

bị nhiễm VSV lạ hay khơng.

3.5.

Đếm tế bào nấm men trong 1ml canh trường (dùng buồng

đếm Thomas):

Cách tiến hành:

- Tiệt trùng buồng đếm bằng cách ngâm trong cồn 70o

- Pha loãng mẫu với độ pha loãng 10-2.

- Đậy lá kính lên trên buồng đếm và nhỏ mẫu vào khe hẹp phía trên

buồng đếm, dùng giấy thấm, sau đó tiến hành quan sát bằng kính

hiển vi, đếm tổng số tế bào trong 10 ô vuông lớn của buồng đếm.

Cấu tạo buồng đếm Thomas:

- Buồng đếm là một phiến kính dày, với bề mặt hình chữ nhật. Trên bề

mặt buồng đếm, có đục bốn rãnh song song với chiều rộng và chia bề

mặt thành 3 khoang chính A, B và C. Chiều cao của 2 khoang A và C

là như nhau. Khoang giữa B thấp hơn 2 khoang A và C một đoạn h.

Giá trị h được coi là chiều cao buồng đếm. Khoang B được chia tiếp

thành 2 khoảng nhỏ B1 và B2 nhờ một rảnh đục song song với chiều

dài của bề mặt buồng đếm. Trên mỗi khoang nhỏ, người ta có kẽ một

lưới đếm gồm nhiều ơ lớn hình vng hoặc hình chữ nhật. Một số ơ lớn

được chia tiếp thành các ơ nhỏ hơn. Buồng đếm có kèm theo lá kính

để đậy. Lá kính có bề mặt hình vng và rất phẳng. Chiều cao của

KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM

3.6.

Quan sát tỉ lệ nảy chồi

Bảng 2-1: Tỉ lệ nảy chồi của nấm men

Vùng

Nảy chồi

Tổng nấm

% nảy chồi

1



6



27



22,2%



2



8



31



25,8%



3



6



36



16,7%



4



3



29



10,3%



5



10



26



38,5%



10



Hình 2-4: Sự sinh trưởng nấm men dưới kính hiển vi.

*Nhận xét: Tỉ lệ nảy chồi trung bình của nấm men này là 18,6%. Như vậy,

loại nấm men này đang trong giai đoạn sinh trưởng.

3.7.



Quan sát tỉ lệ sống chết của nấm men

Bảng 2-2: Tỉ lệ sống và chết của nấm men

Vùng



Số tế bào

chết



Tổng số

tế bào



% tế

bào

sống



% tế

bào

chết



1



25



138



81,9%



18,1%



2



24



140



82,8%



17,1%



3



16



130



87,7%



12,3%



4



21



128



83,6%



16,4%



5



18



125



85,6%



14,4%



Tỉ lệ tế bào chết là khoảng 15,6%.



11



Hình 2-5: Nhuộm xanh nấm men bằng metylen

3.8.

Đánh giá canh trường:

Tỷ lệ nảy chồi nằm trong khoảng cho phép (18,6%), chứng tỏ nấm men

đang trong giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên khơng thích hợp để lên men vì

tỷ lệ nảy chồi thích hợp cho q trình lên men là 70-80%.



Khả năng tìm thấy tế bào chết trong mẫu rất thấp, chỉ khoảng 15,6%. Sau

khi nhuộm thì tế bào bị nhuộm xanh tồn bộ còn tế bào sống chỉ viền xanh

ngồi.

Đếm tế bào nấm men trong 1mL canh trường:

Cơng thức:

3.9.



Trong đó: A- số tế bào trung bình của buồng đếm.

h- chiều cao buồng đếm (mm), có giá trị 0.1 mm

S- diện tích một ơ đếm mm2), có giá trị (1/250) mm2

F- hệ số pha lỗng của mẫu trước khi đếm.



12



Hình 2-6: Nấm men trên buồng đếm Thomas



Vùng



Số nấm men



1



36



2



21



3



19



4



11



5



22



6



12



7



32



8



22



9



25



10



18



= 54,5. 105

Nhận xét: Đếm buồng đếm cho kết quả đếm không chính xác do có thể

đếm bị trùng hay bỏ sót.

Ưu điểm: nhanh chóng, đơn giản.

Nhược điểm:

- Khơng phân biệt được tế bào sống và tế bào chết.

- Chỉ thích hợp với tế bào có kích thược lớn (nấm men, nấm mốc).

- Khó đạt độ chính xác cao.

- Khơng thích hợp trong huyền phù hay mật độ thấp.

13



ỨNG DỤNG CỦA NẤM MEN:

Nấm men bánh mì: Saccharomyces cerevisiae được sử dụng nhằm tạo ra

CO2 làm nở cấu trúc khối bột đồng thời tạo ra các cấu tử tạo hương trong

quá trình trao đổi chất của nó.

4.



-



Hình 2-7: Ứng dụng của nấm men trong sản xuất bánh mì



Ứng dụng trong sản xuất đồ uống có cồn:

- Saccharomyces cerevisiae kết hợp với vi khuẩn butyric tạo ra hương

thơm mạnh và đặc trưng trong sản xuất rượu Rum.

- Saccharomyces carlbergeois lên men bia – kiểu lên men chìm thường

để sản xuất bia có độ cồn thấp và bia vàng. Sử dụng nấm men chìm

để sản xuất bia sẽ tốn thời gian hơn nhưng bia thu được trong hơn

đống thời nấm men dễ lọc và dễ thu hồi để sử dụng hơn.



-



Lên men rượu vang: saccharomyces cerevisiae sinh ra enzyme

invectara có khử đường saccaroza thành fructoza và glucoza, vì vậy,

trong q trình lên men, ta có thể bổ sung loại đường này vào dung

dịch quả và hàm lượng rượu được tạo thành bình thường đối với

những nòi của men này chỉ đạt khoảng 8- 10 % thể tích.



14



Rượu vang

Ứng dụng trong nước mắm, nước chấm, nước tương, tương ớt

- Chiết xuất nấm men khi sản xuất nước mắm nước chấm sẽ tăng

thêm vị Umami mà không cần sử dụng thêm MSG và I+G, bổ sung

thêm đạm (1% chiết xuất nấm men tăng thêm 1 độ đạm), khử vị

chát của muối, khử mùi khó chịu của cá, làm tròn vị của nước mắm

nước tương

5. NHẬT KÝ THÍ NGHIỆM

Ngày 11/09/2018

12h45

Cô Phượng hướng dẫn sử dụng micropipetre và buồng đếm

Thomas

13h05

Cơ Ái cho cả lớp xem hình ảnh thực tế, hướng dẫn thí

nghiệm

13h15

Bắt đầu thí nghiệm

14h15

Cả nhóm quan sát và đánh giá canh trường nấm men bằng

kính hiển vi

14h25

Tiến hành cho thuốc nhộm

14h30

Cả nhóm đếm số tế bào nấm men mẫu đậm đặc

15h

Cả nhóm đếm số tế bào nấm men mẫu pha lỗng 1/10

16h30

Kết thúc thí nghiệm và ra về



15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

BÀI 2: QUAN SÁT NẤM MEN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×