Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Quy mô các dự án FDI tăng trưởng đều qua các năm giai đoạn 2011- 2015, nhưng tốc độ tăng của các dự án lại không đồng đều. Thống kê số liệu về các dự án cấp mới trong tỉnh được thể hiện dưới bảng sau:

Quy mô các dự án FDI tăng trưởng đều qua các năm giai đoạn 2011- 2015, nhưng tốc độ tăng của các dự án lại không đồng đều. Thống kê số liệu về các dự án cấp mới trong tỉnh được thể hiện dưới bảng sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



2,52 tỷ đơla. Nguồn vốn này chủ yếu đầu tư vào các dự án ngồi khu cơng

nghiệp. Có thể nói 2011 là năm thu hút đầu tư nước ngoài vào địa bàn tỉnh lớn

nhất từ trước đến nay. Số lượng dự án và vốn đăng ký cấp mới năm 2011 tăng

vượt so với cùng kỳ năm 2010 (tăng 11 dự án và lượng vốn tăng trên 22 lần).

Lượng vốn cấp mới tăng như vậy là có sự đầu tư lớn của dự án: Cơng ty

TNHH điện lực Jaks Hải Dương của Malaysia với số vốn đăng ký 2,26 tỷ

USD, ngồi ra còn một số dự án: Công ty TNHH dệt Facific, với số vốn 423,4

triệu USD, dự án may Tinh Lợi, số vốn 120 triệu USD…

Tính đến năm 2014 tổng số dự án đầu tư vào tỉnh cao nhất trong giai đoạn

2010-2015. Năm 2014 trên địa bàn tỉnh cấp Giấy chứng nhận đầu tư cho 36

dự án, với tổng vốn đăng ký 395 triệu USD (17 dự án ngoài KCN số vốn 71,9

triệu USD, 18 dự án trong KCN vốn 323 triệu USD). Năm 2014 tình hình thu

hút đầu tư nước ngồi trên địa bàn tỉnh đã có phần sơi động và khởi sắc, tăng

cả về số lượng cũng như quy mô vốn đầu tư so với cùng kỳ 2013 (tăng 75%

về số lượng dự án và gấp 6,3 lần so với cùng kỳ năm 2013). So với năm 2013,

năm 2014 đã xuất hiện những dự án có quy mơ vốn khá như: Dự án Bệnh

Viện quốc tế Đại An VN-Canađa vốn đầu tư 225 triệu USD, dự án Giầy

Chung Jey 13 triệu USD, Dự án SD Global 19,5 triệu USD. Dự án công

nghiệp nặmg Mes-UBI 14 triệu USD, C.ty LEONG HUP FEEDMILL 27

triệu USD..



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



2.3.2. Tình hình thu hút vốn FDI theo đối tác

Bảng 5: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương theo đối tác đầu tư



ĐVT: Triệu USD, %

Đối tác



Tổng số

dự án



Tổng vốn Tỷ trọng vốn đầu

đầu tư

tư đăng kí (%)

(triệu USD)



Hồng Kông



6



170,2



66



Hàn Quốc



8



21,6



8,4



Anguilla



2



18



7



British Virgin Island



3



17,9



6,9



Anh



1



9,7



3,8



Nhật Bản



2



8,35



3,2



Samoa



1



6



2,3



Brunei



1



5



1,9



Trung Quốc



1



0,8



0,3



(Nguồn:Sở kế hoạch và đầu tư)

Năm 2015 có 9 quốc gia và vùng lãnh thổ đăng ký đầu tư tại địa bàn, đứng

đầu về vốn đầu tư Hồng Kông , vốn 170,2 triệu USD chiếm 66% vốn đầu tư

đăng ký cấp mới với tổng số 6 dự án, xếp thứ 2 về số lượng tổng dự án tập

trung vào ngành chế biến chế tạo, điện, dệt may. Xếp thứ 2 là Hàn Quốc với

số dự án nhiều nhất là 6 dự án với tổng số vốn đầu tư là 21,6 triệu USD, tập

trung chủ yếu là của 3 doanh nghiệp: công ty TNHH BELIEVE ZONE,công

ty TNHH SD GLOBAL Việt Nam, công ty TNHH chế xuất sợi thép DUSCO

VINA. Trung Quốc tuy là cường quốc đứng thứ 2 thế giới nhưng lượng vốn

và số lượng dự án FDI đổ vào Hải Dương chỉ đứng thứ 9 có 01 dự án, vốn 0,8

triệu USD chiếm 0,3% vốn đầu tư đăng ký.

Trong thời gian gần đây, các vấn đề được quan tâm chủ yếu của các đối tác

đã có sự khác nhau rõ rệt. Và cũng vì thế mà xu hướng đầu tư vào các ngành,



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



lĩnh vực cũng khác nhau. Nếu như các nhà đầu tư Nhật thường quan tâm tới

lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng lắp ráp, còn

các nhà đầu tư Hàn Quốc thường có nhu cầu đầu tư trong ngành cơng nghiệp

giải trí, kinh doanh bất động sản, cao ốc văn phòng và khu đơ thị hiện đại, nhà

đầu tư Đài Loan, Trung Quốc có xu hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực gia

công hàng may mặc, các nhà đầu tư Malaysia lại dành nhiều sự chú ý cho lĩnh

vực gia công các sản phẩm cơng nghiệp.

2.3.3. Tình hình thu hút vốn FDI theo lĩnh vực đầu tư

Bảng 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương theo lĩnh vực

đầu tư

ĐVT: Triệu USD, %

Tổng số

dự án



Tổng số vốn đầu

tư( triệu USD)



Tỉ trọng vốn

đầu tư (%)



Công nghiệp xây dựng



314



5306,9



83%



Dịch vụ



27



262,14



4,6%



Nông nghiệp



14



1,015



1,7%



Lĩnh vực khác



21



2075,2



10.70%



Lĩnh vực



(Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương)

Các dự án FDI trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng, bao gồm 314 dự án với tổng số vốn 5306,9 triệu USD, chiếm

83% về số lượng dự án và 93,7% về số vốn đăng ký. Các ngành nghề thu hút

như: sản xuất các sản phẩm điện và điện tử, lắp ráp ô tô, sản xuất xi măng, gia

cơng hàng dệt may, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí…Ngồi ra, 25 dự án cấp

mới trong năm 2015 với số vốn 257,5 triệu USD đều tập trung vào lĩnh vực

công nghiệp và xây dựng, ngành nghề chủ yếu là giày dép, linh kiện diện tử.

Lĩnh vực dịch vụ có 27 dự án với tổng số vốn 262,14 triệu USD, chiếm



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



11,2% về số lượng dự án và 4,6% về số lượng vốn đăng ký, bao gồm: xây

dựng hạ tầng KCN, giao thông vận tải, kinh doanh khách sạn, siêu thị...

Lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất do nhiều nguyên nhân như

rủi ro đầu tư cao, ảnh hưởng thời tiết, khó khăn khi thu mua nguyên liệu đầu

vào. Hiện có 14 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, với số vốn đăng

ký 93,1 triệu USD, chiếm 5,8% về số lượng dự án và 1,7% về số vốn đầu tư

đăng ký tại địa bàn. Các dự án thuộc lĩnh vực này có quy mô vốn nhỏ, nhà

đầu tư chủ yếu đến từ Đài Loan, Trung Quốc.

2.3.4. Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư

Theo số liệu từ Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến cuối tháng

12/2015, các nhà đầu tư nước ngoài đến từ 9 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu

tư vào Hải Dương dưới 3 hình thức. Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn

nước ngoài chiếm ưu thế cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký,

vượt trội hơn hẳn các hình thức đầu tư còn lại.

Bảng 7: Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư

ĐVT: Triệu USD, %



100% Vốn nước ngồi



Số dự

án

342



Tổng vốn đăng

kí (triệu USD)

6720,3



Tỉ trọng

vốn đăng

91



DN liên doanh



32



598,195



8,1



Hợp đồng BOT,

BT,BTO



2



6,64



0,09



Tổng



376



7385



100



Hình thức đầu tư



(Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương)



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Tính hết tháng 12/2015, toàn tỉnh đã thu hút được 376 dự án có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngồi (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới

trên 7.385 triệu USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện dưới 3 hình

thức: DN 100% vốn nước ngoài, DN liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh

doanh. Trong đó các dự án FDI được thực hiện chủ yếu dưới hình thức DN

100% vốn nước ngồi chiếm tới 91% tổng vốn đăng ký trong các hình thức

đầu tư.

Theo Cục Đầu tư nước ngồi, với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài,

quyền điều hành hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý

toàn bộ và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của dự án FDI. Điều này tạo tâm lý thoải mái, tự chủ, không chịu sự

ràng buộc cho nhà đầu tư. Đây là ưu điểm lớn để hình thức này ln chiếm ưu

thế trong cơ cấu vốn FDI của cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng

so với các hình thức đầu tư khác.

2.3.5. Những đóng góp của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh

Hải Dương

Tăng cường nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

Năm 2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt trên 135.000 tỷ

đồng, tăng gấp hơn 1,8 lần so với 5 năm trước. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp

nước ngồi đạt 33.213 tỷ đồng, tăng bình quân 5,4%/năm, chiếm tỷ trọng

24,6% trong tổng vốn đầu tư vào tỉnh. Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư do các

doanh nghiệp FDI mang lại chiếm tỷ trọng khơng nhỏ trong tổng vốn và có

vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hình 2: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2015

ĐVT:%

100

90

80

70

60



dịch vụ 

công nghiệp, xây dựng

nông, lâm nghiệp, thuỷ sản



50

40

30

20

10

0



2010



2011



2012



2013



2014



2015



(Nguồn: Tổng hợp từ http://www.haiduongdost.gov.vn/ - Sở khoa học và

công nghệ Hải Dương)

Thực tiễn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương cho thấy 95% tổng số

công ty đầu tư tập trung vào lĩnh vực cơng nghiệp, do đó có tác dụng rất lớn

đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hải Dương theo hướng cơng

nghiệp hóa. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hải Dương khá tích cực,

đặc biệt các dự án đầu tư nước ngồi đã góp phần từng bước hồn thiện và

nâng cao điều kiện về hạ tầng, dịch vụ khu công nghiệp. Trong tỷ trọng cơ

cấu kinh tế tỉnh Hải Dương, nông nghiệp năm 2010 chiếm 23% đã giảm

xuống còn 15,6% vào năm 2015. Lĩnh vực công nghiệp và xây dựng tăng từ

45,3% lên 52,5% tính đến cuối năm 2015. Riêng lĩnh vực dịch vụ vẫn duy trì

ở mức ổn định quanh mức 31%.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Góp phần phát triển khoa học - cơng nghệ, nâng cao trình độ quản lý

Các doanh nghiệp FDI đã triệt để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật từ

khâu sản xuất đến khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm, xử lý phế thải. Thông

qua việc áp dụng khoa học kỹ thuật cơng nghệ và trình độ quản lý tiên tiến mà

sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng cao. Có thể nói FDI đã góp phần

quan trọng trong việc thúc đẩy lĩnh vực khoa học - công nghệ của Hải Dương

không ngừng phát triển. Hiện nay, Hải Dương có trên 15.000 cán bộ kỹ thuật

và cơng nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Khu vực FDI được đánh giá là kênh chuyển giao, lan tỏa cơng nghệ quan

trọng, góp phần nâng cao trình độ cơng nghệ của nền kinh tế nói chung và đối

với Hải Dương nói riêng. Tuy nhiên, cũng như cả nước, đóng góp lớn nhất

của FDI đối với tỉnh chính là tạo việc làm và vốn, còn tốc độ lan tỏa cơng

nghệ vẫn chưa được như mong muốn.

Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng lao

động

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi hàng năm tạo cơng ăn việc

làm cho hàng chục nghìn lao động của tỉnh. Trong vòng 3 năm, số lao động có

việc làm khu vực này đã tăng từ 25.000 lao động (năm 2013) lên 60.000 lao

động (năm 2015). Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các

doanh nghiệp, các lao động đã từng bước hình thành tác phong lao động cơng

nghiệp, có kỷ luật lao động, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến,

nâng cao thu nhập, giảm bớt các tệ nạn xã hội.

Đóng góp vào nguồn thu ngân sách

Tuy nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn được miễn giảm thuế

nhưng bước đầu các dự án đầu tư FDI đã đóng góp một phần vào ngân sách

của tỉnh. Số nộp ngân sách năm 2015 đạt 450 tỷ đồng, tăng 6 lần so với năm

2011 là 76 tỷ đổng. Số nộp ngân sách giai đoạn 2011 – 2015 ước đạt 1.310 tỷ

đổng, vượt xa so với kế hoạch đề ra (175 tỷ đồng).

Tóm lại, tuy các doanh nghiệp FDI tại Hải Dương đang trong thời kỳ xây

dựng, song đã góp phần vốn đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội, tạo điều

kiện áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ và công nghệ tiên tiến,



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



góp phần vào giải quyết việc làm cho người lao động, mở rộng sản xuất, tăng

thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và có tác dụng tích cực trong việc

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH và phát triển đơ thị.

Những đóng góp trên tuy chưa lớn so với nhu cầu, nhưng có thể nói đây là

những thành cơng mà FDI đem lại cho Hải Dương.

2.3.6. Những hạn chế của việc thu hút FDI vào tỉnh Hải Dương

Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực FDI còn có những hạn chế, tồn

tại như hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao, giá trị gia

tăng tạo ra tại tỉnh và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút

đầu tư nước ngoài theo ngành, đối tác còn hạn chế; mục tiêu thu hút công

nghệ, chuyển giao công nghệ chưa đạt yêu cầu; hiệu ứng lan tỏa của khu vực

đầu tư nước ngoài sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế …

Về quản lý quy hoạch các khu công nghiệp và tạo mặt bằng cho dự án :

Việc quy hoạch và xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp còn

chậm, việc quy hoạch ngay từ đầu khơng dự báo chính xác dẫn đến nhiều dự

án phải đầu tư ngồi khu cơng nghiệp. Bên cạnh đó có một số KCN cơ sở hạ

tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chưa có các đường gom xung quanh KCN.

Các dự án đầu tư vào các cụm công nghiệp địa phương gặp nhiều khó khăn

như cơ sở hạ tầng dẫn đến một số dự án FDI đã đăng ký nhiều năm nhưng

không thể đi vào hoạt động được. Các cụm công nghiệp mới chỉ khai thác quỹ

đất ở mặt tiền, phía bên trong đất còn nhiều do khơng có đường vòa thuận tiện

nên tỷ lệ lấp đầy chưa cao. Thêm vào đó việc giải phóng mặt bằng còn chậm

so với tiến độ dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã có giấy phép đầu tư, được chấp

thuận về mặt bằng được thuê để triển khai dự án nhiều năm nhưng chưa thể

có mặt bằng để xây dựng.

Vấn đề thu hút và duy trì sự phát triển của các doanh nghiệp FDI

Thứ nhất,chưa có sự chọn lọc dự án đầu tư. Quá trình thu hút đầu tư thời

gian qua mới chủ yếu thu hút số lượng và lấp đầy diện tích đất cho thuê, đã đi



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



đến nguy cơ ngày càng đón nhận các dự án vốn đầu tư, hoặc các dự án chiếm

đất lớn nhưng mục tiêu đầu tư chưa được khuyến khích.

Thứ hai, vấn đề bảo vệ môi trường chưa được chú trọng dẫn đến nguy cơ ô

nhiễm môi trường ngày càng lan rộng ra nhiều khu vực trong địa bàn tỉnh.

Thứ ba, các dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI chưa tương xứng

như: dịch vụ thuê nhà ở, ăn uống đi lại, dịch vụ tư vấn tài chính, khoa học

cơng nghệ, các dịch vụ vui chơi giải trí khác

Thứ tư, thiếu nguồn nhân lực đáp ứng cho các dự án FDI. Hiện nay các dự

án FDI ở Hải Dương thu hút một lượng lớn nguồn nhân lực có chun mơn và

tay nghề. Tuy nhiên Hải Dương mới cung ứng được một phần nhu cầu về lao

động có tay nghề, còn về lao động có chun mơn cao thì hầu như khơng

cung cấp được.

Thứ năm, việc tổ chức xúc tiến đầu tư chưa chuyên nghiệp dẫn đến hiệu

quả đạt được chưa cao.

Hạn chế của chính quyền trong việc quản lý dự án sau khi đã chấp

thuận và việc thực hiện cơ chế chính sách

Chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các sở, ngành của tỉnh và chính

quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện các thủ tục

hành chính được nhanh chóng. Ở một vài nơi chưa thực sự nghiêm túc trong

việc thực hiện các chủ trương, chinh sách thu hút đầu tư của tỉnh, thậm chí

còn gây khó khăn cho các nhà đầu tư, nhất là trong cơng tác giải phóng mặt

bằng, làm cho các dự án chậm triển khai. Ngoài ra, việc thẩm định cơng nghệ

của các dự án còn dựa trên tiêu thức, chỉ số đã lỗi thời dẫn đến một số dự án

khi đi vào thực hiện có tác động tiêu cực như ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng

tới các dự án khác.

Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các cơ

chế, các chính sách, cơ chế tương đối hợp lý, Hải Dương bước đầu đã có

những thành cơng nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đàu

tư. Nhưng để tiếp tục thu hút và duy trì sự phát triển của các doanh nghiệp

FDI, chính quyền tỉnh phải có các chiến lược dài hạn, phải có tầm nhìn, và



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



phải có các giải pháp đồng bộ để Hải Dương là địa phương có sự hấp dẫn với

các nhà đầu tư.

2.4. Đánh giá môi trường đầu tư của Hải Dương đối với hoạt động thu

hút vốn FDI

2.4.1. Phân tích thực trạng mơi trường tác động đến hoạt động thu hút

FDI thông qua chỉ số PCI.

Bảng 8 : Chỉ số pci tổng hợp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015

ĐVT: điểm

Chênh

Tỉnh Hải Dương



2011



2012



2013



2014



2015



lệch

2015 ss

2014



PCI tổng hợp

Thứ hạng trong

vùng

Thứ hạng trong cả

nước



58,41



56,29



56,37 58,63



6



6



8



35



33



41



58,37



-0,26



6



9



-3



31



34



-3



(Nguồn: http://www.pcivietnam.org/)

Với lần công bố Báo cáo PCI 2015 vừa qua, nhìn tổng thể, chất lượng điều

hành của tỉnh trong năm vừa qua chưa có nhiều đột phá so với năm 2014 thậm

chí còn giảm từ 58,63 (năm 2014) xuống 58,37 (năm 2015). Kéo theo đó là sự

sụt giảm trong thứ hạng có sự sụt giảm về thứ hạng trong vùng ĐBSH (khơng

tính 2 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội và Hải Phòng) và cả nước,

từ hạng 6 trong vùng giảm xuống hạng 8 năm 2013 so với các tỉnh khác trong

vùng. Đặc biệt so với cả nước, năm 2013 giảm 8 bậc và giảm 3 bậc vào năm



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Quy mô các dự án FDI tăng trưởng đều qua các năm giai đoạn 2011- 2015, nhưng tốc độ tăng của các dự án lại không đồng đều. Thống kê số liệu về các dự án cấp mới trong tỉnh được thể hiện dưới bảng sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×