Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các cơ chế, các chính sách, cơ chế tương đối hợp lý, Hải Dương bước đầu đã có những thành công nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đàu tư. Nhưng để tiếp tục thu hút và d

Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các cơ chế, các chính sách, cơ chế tương đối hợp lý, Hải Dương bước đầu đã có những thành công nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đàu tư. Nhưng để tiếp tục thu hút và d

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



phải có các giải pháp đồng bộ để Hải Dương là địa phương có sự hấp dẫn với

các nhà đầu tư.

2.4. Đánh giá môi trường đầu tư của Hải Dương đối với hoạt động thu

hút vốn FDI

2.4.1. Phân tích thực trạng mơi trường tác động đến hoạt động thu hút

FDI thông qua chỉ số PCI.

Bảng 8 : Chỉ số pci tổng hợp tỉnh Hải Dương giai đoạn 2011-2015

ĐVT: điểm

Chênh

Tỉnh Hải Dương



2011



2012



2013



2014



2015



lệch

2015 ss

2014



PCI tổng hợp

Thứ hạng trong

vùng

Thứ hạng trong cả

nước



58,41



56,29



56,37 58,63



6



6



8



35



33



41



58,37



-0,26



6



9



-3



31



34



-3



(Nguồn: http://www.pcivietnam.org/)

Với lần công bố Báo cáo PCI 2015 vừa qua, nhìn tổng thể, chất lượng điều

hành của tỉnh trong năm vừa qua chưa có nhiều đột phá so với năm 2014 thậm

chí còn giảm từ 58,63 (năm 2014) xuống 58,37 (năm 2015). Kéo theo đó là sự

sụt giảm trong thứ hạng có sự sụt giảm về thứ hạng trong vùng ĐBSH (khơng

tính 2 thành phố trực thuộc trung ương là Hà Nội và Hải Phòng) và cả nước,

từ hạng 6 trong vùng giảm xuống hạng 8 năm 2013 so với các tỉnh khác trong

vùng. Đặc biệt so với cả nước, năm 2013 giảm 8 bậc và giảm 3 bậc vào năm



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



2015. Điều này cho thấy trong khi nhiều cơ hội còn ở dạng tiềm năng thì thách

thức đã thực sự hiện hữu.

Ở cấp độ địa phương, tỉnh Hải Dương tuy đã có nhiều chính sách thiết thực

như tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp. Chỉ số

năng lực cạnh tranh cấp tỉnh cũng đã ghi nhận những thành công bước đầu về

chất lượng cải cách thủ tục hành chính cũng như các tiêu chí đánh giá, tuy

nhiên thực tế cho thấy rằng cuộc đua tranh thu hút đầu tư ở các tỉnh ngày càng

diễn ra gay gắt. Điều này cũng đồng nghĩa thúc đẩy các địa phương trong đó

có Hải Dương cần thay đổi nhanh hơn. Năm 2014 theo đánh giá của Phòng

cơng nghiệp và Thương mại Việt Nam (VCCI) tỉnh Hải Dương xếp thứ 31/65

tỉnh, thành phố trong cả nước. Tuy nhiên, năm 2015 đã giảm 3 bậc xuống vị

trí 34. Điều này đang rất cần tỉnh, và các sở, ngành liên quan căn cứ vào 10

tiêu chí cạnh tranh cấp tỉnh của VCCI để tiếp tục tạo lập môi trường thuận lợi

nhằm thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước đến hoạt động kinh doanh.

Nguyên nhân khách quan được đánh giá là do khủng hoảng và suy thối

kinh tế tồn cầu đã tác động trực tiếp đến các nhà đầu tư dẫn đến việc giảm số

lượng dự án đầu tư mới vào Hải Dương. Quan trọng hơn cả là yếu tố chủ

quan từ phía tỉnh, khi những thủ tục hành chính nói chung còn chưa thơng

thống, thời gian giải quyết còn chậm, nhất là thủ tục trong đền bù giải phóng

mặt bằng, giao đất cho nhà đầu tư; chất lượng hạ tầng kỹ thuật, chất lượng

nguồn lao động nói chung còn chưa đáp ứng được u cầu; quản lý doanh

nghiệp một số lĩnh vực còn hạn chế, chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho

doanh nghiệp, một số khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp chưa được giải

quyết kịp thời.

Cụ thể hơn, trong 10 chỉ số cấu thành PCI năm 2015, so với năm 2014, Hải

Dương có đến 6 chỉ số giảm điểm ( Chỉ số gia nhập thị trường, tiếp cận đât

đai, chi phí khơng chính thức, Hỗ trợ doanh nghiệp, thiết chế pháp lí, cạnh



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



tranh bình đẳng) trong khi chỉ có 4 chỉ số tăng điểm và mức tăng không đáng

kể.

Bảng 9: Chỉ số PCI tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010- 2015

ĐVT: điểm



CHỈ SỐ



NĂM NĂM NĂM NĂM NĂM

2010 2011 2012 2013 2014





M

2015



Gia nhập thị trường



6.51



8.26



8.26



7.82



8.35



8.26



Tiếp cận đất đai



5.94



6.06



5.98



6.93



5.53



5.15



Tính minh bạch



5.37



4.97



5.09



4.64



5.83



6.1



Chi phí thời gian



6.68



7.13



6.27



5.95



6.39



6.75



Chi phí khơng chính

thức



6.24



7.46



6.83



6.23



5.28



5.22



Tính năng động



5.06



4.85



4.25



4.9



4.3



4.75



Hỗ trợ doanh nghiệp



6.22



4.3



4.26



5.54



5.78



5.27



Đào tạo lao động



5.27



4.44



5.33



5.61



6.18



6.29



Thiết chế pháp lý



4.62



5.23



3.18



6.61



5.8



5.77



Cạnh tranh bình đẳng



N/A



N/A



N/A



4.93



5.19



4.98



PCI



57.51



58.41



56.29



56.37



58.63



58.37



(Nguồn: http://www.pcivietnam.org/hai-duong)

Chỉ số tiếp cận đất đai (5,15 điểm)Theo báo cáo của sở kế hoạch đầu tư

tỉnh Hải Dương, chi phí thuê đất ở Hải Dương như sau: đối với đất trong các

KCN giá thuê đất có cơ sở hạ tầng 55 - 65 USD/m 2 tùy từng vị trí cho 47 - 50



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



năm, điều kiện và phương thức thanh toán theo thỏa thuận giữa nhà đầu tư với

công ty phát triển hạ tầng KCN, Phí bảo dưỡng kết cấu hạ tầng 0,3

USD/m2/năm. Đối với đất ngoài KCN, giá thuê đất của các dự án nằm ven

tỉnh lộ khoảng 0,15 - 0,2 USD/m2/năm, Giá thuê đất của các dự án nằm ven

quốc lộ khoảng 0,2 - 0,4 USD/m2/năm. So sánh với giá thuê đất của Vĩnh

Phúc với mức 80 - 100 USD/m2/50 năm, của Bắc Ninh với mức 60 - 70

USD/m2/49 năm tuỳ từng vị trí lơ đất, có thể thấy giá th đất ở Hải Dương

hấp dẫn các nhà đầu tư hơn.

Hình 3: Biểu đồ chỉ số thành phần của Hải Dương



(Nguồn: http://www.pcivietnam.org/hai-duong)

Chỉ số Tính năng động có điểm số thấp nhất (4,75) phản ánh khả năng hỗ trợ

và áp dụng những chính sách của Trung ương theo hướng có lợi cho doanh

nghiệp còn chậm. Ngun nhân do Tính năng động và sáng tạo trong việc giải

quyết các vấn đề mới phát sinh của tỉnh chưa thực sự hữu hiệu và có những

sáng kiến hay ở cấp tỉnh nhưng chưa được thực thi tốt ở các Sở, ngành

Trong tổng số 10 chỉ số có đến 06 chỉ số giảm điểm nhưng 02 chỉ số quan

trọng tăng điểm là Tính minh bạch (tăng 0,27 điểm từ 5,83 lên 6,1, tăng 3 bậc



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



xếp hạng trong vùng cũng như trong cả nước) và Đào tạo lao động (tăng 0,11

điểm từ 6,18 lên 6,29) đã góp phần quan trọng vào việc nâng hạng chung của

tỉnh năm 2015 vừa qua.

Chỉ tiêu Đào tạo lao động tăng hạng là do tỉnh đã không ngừng nỗ lực nâng

cao chất lượng nguồn nhân lực. Tính đến 12/2015, tồn tỉnh có 13 trung tâm

GDTX (12 trung tâm GDTX cấp huyện và 1 trung tâm GDTX tỉnh), 8 Trung

tâm Kĩ thuật tổng hợp - Hướng nghiệp - Dạy nghề cấp huyện (7 công lập và 1

tư thục), 265 trung tâm học tập cộng đồng xã, phường, thị trấn, Khối trường

chuyên nghiệp hiện có 12 trường, trong đó 4 trường trung cấp chuyên nghiệp,

4 trường cao đẳng và 4 trường đại học với quy mô khoảng 40.000 học sinh,

sinh viên. Các trường, trung tâm này với nhiệm vụ đào tạo nhân lực đa ngành

nghề như: nơng, lâm, ngư nghiệp, cơng nghiệp, tài chính kế tốn, văn hóa, xã

hội, ngoại ngữ, cơng nghệ thơng tin, dịch vụ.... Tuy nhiên tiêu chí đào tạo vẫn

chỉ đạt mức độ trung bình là do trình độ của người lao động còn chưa cao.

Nhiều DN đầu tư nước ngồi gặp rất nhiều khó khăn trong q trình tuyển

dụng nhân công lành nghề, nhân công kĩ thuật cao ngay cả đối với những

người đã có bằng cấp. Q trình đào tạo mới cũng như đào tạo lại trước khi

làm việc từ lâu đã được coi như một thủ tục mà các DN phải chấp nhận. Không

chỉ thiếu nguồn nhân lực về nhân công trực tiếp sản xuất, nguồn nhân lực cơng

nhân lành nghề, kỹ sư có trình độ quản lý, kỹ thuật viên, vị trí quản lý cũng rất

thiếu và yếu. Điều này làm tăng chi phí đầu tư của DN, làm giảm tính cạnh tranh

trong thu hút các nhà đầu tư nước ngoài của tỉnh Hải Dương.

Dịch vụ hỗ trợ DN của tỉnh chỉ đạt mức trung bình và giảm 0,51 ( từ 5,78

xuống 5,27). Mặc dù tỉnh đã đạt được một số kết quả tích cực như hỗ trợ cho

87 lượt DN tỉnh nhà tham gia trưng bày sản phẩm, quảng bá, giới thiệu

thương hiệu tại các hội chợ quy mô quốc gia và khu vực, thực hiện tư vấn,

hướng dẫn cơng tác quản lý sở hữu trí tuệ được cho 492 lượt DN, cá nhân đến

tìm hiểu các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ. Hỗ trợ cung cấp thông tin, tra



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



cứu sơ bộ về nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp cho 410 lượt DN, đơn vị trước

khi thực hiện các thủ tục nộp đơn đăng ký bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp,

hỗ trợ kinh phí đăng ký bảo hộ quyền sở hữu cơng nghiệp cho 208 nhãn hiệu

và 24 kiểu dáng công nghiệp của 220 tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh, tổ

chức 24 khoá đào tạo cho trên 1.800 đối tượng là cán bộ quản lý, kế toán

trưởng của các DN nhỏ và vừa về kiến thức khởi sự DN, nghiệp vụ kế toán,

kỹ năng giao tiếp, kiến thức marketing và chứng chỉ đấu thầu. Tuy nhiên dịch

vụ hỗ trợ DN của tỉnh chưa được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao do

các thông tin mà các nhà đầu tư tìm kiếm trên các website của tỉnh chưa được

cập nhật nhanh chóng, kịp thời. Các thơng tin chỉ được hiển thị theo hai ngôn

ngữ là tiếng Việt và tiếng Anh, trong khi đó phần lớn các nhà đầu tư tại Hải

Dương đến từ các quốc gia Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,

Malaysia.

Qua kết quả xếp hạng PCI giai đoạn 2010 - 2015 cho thấy tuy chưa có sự

đột phá mạnh mẽ trong thứ hạng nhưng tỉnh cũng đã có được một số kết quả

nhất định trong cải thiện môi trường đầu tư thời gian qua, gợi mở trọng tâm

đổi mới hoạt động trong thời gian tiếp theo.

2.4.2. Hạn chế của môi trường đầu tư tỉnh Hải Dương

Dựa trên những tìm hiểu về thực trạng mơi trường đầu tư tỉnh Hải Dương

cùng báo cáo năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI, có thể nhận thấy những hạn

chế chính của môi trường đầu tư đối với việc thu hút vốn FDI như sau:

Thứ nhất, hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật chủ yếu còn thiếu đồng bộ. Kết

cấu mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh chưa hợp lý dẫn đến phân bố dự án

đầu tư không đồng đều theo địa bàn, không thuận lợi cho công tác bố trí

nguồn lao động, nguồn nguyên liệu và đặc biệt là việc xử lý ô nhiễm môi

trường. Các điểm kết nối giao thông giữa các KCN và đường quốc lộ còn



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



nhiều bất cập. Hệ thống thoát nước chưa đáp ứng được yêu cầu. Còn thiếu hệ

thống xử lý nước thải trong KCN, CCN.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực chưa cao. Chính sách thu hút lao động

chất lượng cao làm việc tại tỉnh chưa hấp dẫn. Công tác đào tạo nghề chưa

đáp ứng được yêu cầu của thị trường lao động, mới chỉ tập trung đào tạo đại

trà, ngắn hạn, chưa đủ điều kiện đào tạo lực lượng lao động có chun mơn

kỹ thuật cao.

Thứ ba, quản lý Nhà nước về đầu tư còn hạn chế trong cả khâu chuẩn bị

đầu tư và quản lý sau cấp giấy chứng nhận đầu tư. Cơng tác quy hoạch còn

yếu, từ chất lượng quy hoạch đến việc quản lý và triển khai thực hiện quy

hoạch. Chất lượng thẩm định chưa cao. Việc rà soát, lựa chọn chấp thuận

những dự án đầu tư khả thi, phù hợp với từng lĩnh vực, từng địa phương, hạn

chế tối đa việc đầu cơ dự án... còn những khiếm khuyết.

Thứ tư, công tác tuyên truyền, phối hợp triển khai thực hiện ở một số

dự án chưa tốt, thiếu đồng bộ và nhất qn, khơng có sự vào cuộc đầy đủ

của các cấp, các ngành nên dự án thường bị ách tắc ngay từ khâu giải phóng

mặt bằng. Cải cách hành chính, nhất là thủ tục hành chính trong lĩnh vực đầu

tư chuyển biến còn chậm. Thực hiện mơ hình “một cửa” ở một số lĩnh vực

còn vướng mắc. Công tác quản lý các dự án sau chấp thuận đầu tư còn lỏng

lẻo, chưa rõ trách nhiệm giữa các cấp, các ngành.

Thứ năm, chất lượng các dịch vụ hỗ trợ đầu tư chưa đáp ứng được yêu cầu.

Công tác phối hợp trong giải quyết khó khăn, vướng mắc của nhà đầu tư trong

quá trình thực hiện dự án chưa thực sự tốt. Một số cơ chế, chính sách khuyến

khích đầu tư tính khả thi chưa cao, khơng phù hợp với thực tiễn, trình tự, thủ

tục, cơ chế thực hiện thiếu cụ thể nên không phát huy được tác dụng.

2.5. Nguyên nhân của các hạn chế

Những hạn chế, yếu kém nêu trên xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Tuy

nhiên, có một số nguyên nhân chính như sau:

Nguyên nhân khách quan



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Thứ nhất, cơ chế chính sách trong lĩnh vực đầu tư, đất đai còn có điểm

chồng chéo, chậm được ban hành, chưa đề cập giải quyết đến nhiều vấn đề

thực tiễn phát sinh, gây khó khăn cho các nhà đầu tư trong quá trình thực hiện

đầu tư và các cơ quan Nhà nước trong giải quyết các thủ tục đầu tư.

Thứ hai, khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế thế giới làm giảm đáng

kể các luồng vốn đầu tư vào nước ta nói chung và tỉnh ta nói riêng, tác động

không thuận lợi tới hoạt động sản xuất kinh doanh.

Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, một số chính sách xã hội hố đầu tư chậm được triển khai. Cơng

tác tổ chức xúc tiến đầu tư chưa tốt. Công tác tổ chức thực hiện đầu tư còn

nhiều yếu kém, nhất là việc kiểm tra giám sát thực hiện.

Thứ hai, cải cách hành chính thực hiện chưa nghiêm ở một số cơ quan, địa

phương. Việc kiểm tra, giám sát, xử lý sai phạm trong thực hiện qui định về

cải cách thủ tục hành chính chưa được làm thường xuyên, kiên quyết. Ý thức

trách nhiệm của một bộ phận cán bộ, công chức trong thực thi công vụ thấp.

Trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị trong chỉ đạo thực hiện cải

cách hành chính thể hiện chưa rõ và chưa được phát huy đầy đủ.

Thứ ba, công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về đầu tư còn chậm,

chưa xử lý nghiêm, giải quyết chưa dứt điểm, dẫn đến tình trạng lãng phí đất

đai, thu hồi dự án theo qui định còn ít và chưa đủ mạnh, mang tính hơ hào,

nhiều trường hợp được hợp thức hố thơng qua sang nhượng dự án. Hiệu quả

công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật tới nhân dân chưa cao dẫn tới một

bộ phận người dân chưa hiểu rõ pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật thấp

gây khó khăn trong cơng tác giải phóng mặt bằng.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HỒN THIỆN MÔI TRƯỜNG ĐẦU TƯ

NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT FDI VÀO TỈNH HẢI DƯƠNG

3.1. Bối cảnh thu hút FDI giai đoạn 2010-2020

Giai đoạn 2010 - 2020 là giai đoạn tiếp tục thực hiện bước hội nhập sâu

rộng với thế giới. Việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài của tỉnh Hải

Dương sẽ có những cơ hội và thách thức mới.

3.1.1. Cơ hội

Thứ nhất, trong giai đoạn tới xu thế hội nhập và mở cửa tiếp tục diễn ra

mạnh mẽ. Khu vực Châu Á - Thái Bình Dương vẫn là khu vực phát triển năng

động, hợp tác ASEAN với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu.

Nhiều cam kết đa phương và song phương theo lộ trình gia nhập tổ chức

thương mại thế giới (WTO) có hiệu lực, đặc biệt khi Việt Nam là tham gia Hiệp

định đối tác xuyên Thái BÌnh Dương( TPP) vào năm 2016 sẽ tạo cơ hội để

Việt Nam nói chung, tỉnh ta nói riêng mở rộng hợp tác thu hút đầu tư từ các

nước bên ngoài.

Thứ hai, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó

có hệ thống luật pháp, các cơ chế, chính sách của Nhà nước đang được xây

dựng ngày càng hoàn thiện, minh bạch sẽ tạo mơi trường lành mạnh khuyến

khích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh.

Thứ ba, những kết quả đạt được cùng những kinh nghiệm rút ra trong công

tác thu hút đầu tư của tỉnh trong những năm qua là tiền đề quan trọng để tiếp

tục phát huy trong giai đoạn 2016 - 2020. Kết cấu hạ tầng của nhiều lĩnh vực

như: các CCN, KCN, trục giao thông lớn, các khu đô thị, điểm du lịch trên địa

bàn tỉnh đang dần được hoàn thiện, một số cơng trình giao thơng quan trọng

của quốc gia, có tính liên vùng sẽ được đầu tư xây dựng mở ra cơ hội mới

trong thu hút đầu tư vào địa bàn tỉnh.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



3.1.2. Thách thức

Thứ nhất, cạnh tranh với các tỉnh như Hưng Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang,

Vĩnh Phúc trong việc thu hút FDI ngày càng tăng.

Hiện nay, tỉnh Hưng Yên đang có chiến lược xây dựng các KCN mới bám

trục Quốc lộ 5, xây dựng các KCN phụ trợ và một số khu đô thị mới nhằm

phục vụ cho các KCN. Tỉnh Bắc Ninh cũng đã có các KCN ở huyện Quế Võ,

Từ Sơn bám theo trục Quốc lộ 18, và 1B rất thuận lợi cho các nhà đầu tư.

Chính quyền tỉnh còn quy hoạch, xây dựng các khu đơ thị mới tại Từ Sơn

nhằm tạo ra việc cung cấp các dịch vụ cho các KCN.

Như vậy với vị trí thuận lợi cùng với các chính sách hợp lý của chính

quyền tỉnh Bắc Ninh, Hưng Yên tạo ra sự cạnh tranh trực tiếp với Hải Dương

hiện nay và trong thời gian tới. Điều này đòi hỏi phải có những định hướng

đúng, có những giải pháp tích cực trên cơ sở khai thác các lợi thế của tỉnh để

thu hút các nhà đầu tư.

Thứ hai, cạnh tranh giữa các địa phương trong việc thu hút lao động bao

gồm cả lao động phổ thơng và lao động có chun mơn kỹ thuật cao.

Là tỉnh nằm trong tam giác phát triển kinh tế trọng điểm của phía Bắc,

cung lao động tại chỗ cũng dần dần không đáp ứng được nhu cầu, đặc biệt

người lao động có trình độ chun mơn cao thường bị các trung tâm kinh tế

lớn như Hà Nội, Hải Phòng thu hút, nguồn lao động nhập cư cũng trở lên ít đi

do các địa phương cũng đang thực hiện công nghiệp hoá.

Thứ ba, do những ảnh hưởng ngày càng lớn hơn của các trung tâm kinh tế

lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh nên Hải Dương chỉ có lợi thế lớn

trong thu hút đầu tư phát triển nhà máy sản xuất cơng nghiệp mà ít có lợi thế

phát triển các loại hình thương mại và dịch vụ.

Trong năm 2016 mục tiêu đặt ra trong việc thu hút FDI là: vốn đầu tư 400

triệu USD ( trong đó cấp mởi là 200 triệu USD, vốn tăng thêm 200 triệu

USD), vốn đầu tư ước đạt 230 triệu USD. Tương ứng doanh thu ước đạt 4.100

triệu USD, nộp ngân sách Nhà nước 150 triệu USD.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các cơ chế, các chính sách, cơ chế tương đối hợp lý, Hải Dương bước đầu đã có những thành công nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đàu tư. Nhưng để tiếp tục thu hút và d

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×