Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
(Nguồn:Sở kế hoạch và đầu tư)

(Nguồn:Sở kế hoạch và đầu tư)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



lĩnh vực cũng khác nhau. Nếu như các nhà đầu tư Nhật thường quan tâm tới

lĩnh vực sản xuất linh kiện điện tử, máy móc, thiết bị, phụ tùng lắp ráp, còn

các nhà đầu tư Hàn Quốc thường có nhu cầu đầu tư trong ngành cơng nghiệp

giải trí, kinh doanh bất động sản, cao ốc văn phòng và khu đơ thị hiện đại, nhà

đầu tư Đài Loan, Trung Quốc có xu hướng tập trung đầu tư vào lĩnh vực gia

công hàng may mặc, các nhà đầu tư Malaysia lại dành nhiều sự chú ý cho lĩnh

vực gia cơng các sản phẩm cơng nghiệp.

2.3.3. Tình hình thu hút vốn FDI theo lĩnh vực đầu tư

Bảng 6: Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại tỉnh Hải Dương theo lĩnh vực

đầu tư

ĐVT: Triệu USD, %

Tổng số

dự án



Tổng số vốn đầu

tư( triệu USD)



Tỉ trọng vốn

đầu tư (%)



Công nghiệp xây dựng



314



5306,9



83%



Dịch vụ



27



262,14



4,6%



Nông nghiệp



14



1,015



1,7%



Lĩnh vực khác



21



2075,2



10.70%



Lĩnh vực



(Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương)

Các dự án FDI trên địa bàn tỉnh tập trung chủ yếu vào lĩnh vực công nghiệp

và xây dựng, bao gồm 314 dự án với tổng số vốn 5306,9 triệu USD, chiếm

83% về số lượng dự án và 93,7% về số vốn đăng ký. Các ngành nghề thu hút

như: sản xuất các sản phẩm điện và điện tử, lắp ráp ô tô, sản xuất xi măng, gia

cơng hàng dệt may, cơ khí chế tạo, thiết bị cơ khí…Ngồi ra, 25 dự án cấp

mới trong năm 2015 với số vốn 257,5 triệu USD đều tập trung vào lĩnh vực

công nghiệp và xây dựng, ngành nghề chủ yếu là giày dép, linh kiện diện tử.

Lĩnh vực dịch vụ có 27 dự án với tổng số vốn 262,14 triệu USD, chiếm



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



11,2% về số lượng dự án và 4,6% về số lượng vốn đăng ký, bao gồm: xây

dựng hạ tầng KCN, giao thông vận tải, kinh doanh khách sạn, siêu thị...

Lĩnh vực nông nghiệp chiếm tỷ trọng thấp nhất do nhiều nguyên nhân như

rủi ro đầu tư cao, ảnh hưởng thời tiết, khó khăn khi thu mua nguyên liệu đầu

vào. Hiện có 14 dự án FDI đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, với số vốn đăng

ký 93,1 triệu USD, chiếm 5,8% về số lượng dự án và 1,7% về số vốn đầu tư

đăng ký tại địa bàn. Các dự án thuộc lĩnh vực này có quy mơ vốn nhỏ, nhà

đầu tư chủ yếu đến từ Đài Loan, Trung Quốc.

2.3.4. Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư

Theo số liệu từ Sở kế hoạch và đầu tư tỉnh Hải Dương, tính đến cuối tháng

12/2015, các nhà đầu tư nước ngoài đến từ 9 quốc gia và vùng lãnh thổ đã đầu

tư vào Hải Dương dưới 3 hình thức. Trong đó, hình thức đầu tư 100% vốn

nước ngồi chiếm ưu thế cả về số lượng dự án lẫn tổng vốn đầu tư đăng ký,

vượt trội hơn hẳn các hình thức đầu tư còn lại.

Bảng 7: Tình hình thu hút vốn FDI theo hình thức đầu tư

ĐVT: Triệu USD, %



100% Vốn nước ngồi



Số dự

án

342



Tổng vốn đăng

kí (triệu USD)

6720,3



Tỉ trọng

vốn đăng

91



DN liên doanh



32



598,195



8,1



Hợp đồng BOT,

BT,BTO



2



6,64



0,09



Tổng



376



7385



100



Hình thức đầu tư



(Nguồn: Sở kế hoạch và Đầu tư Hải Dương)



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Tính hết tháng 12/2015, tồn tỉnh đã thu hút được 376 dự án có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngồi (FDI) còn hiệu lực với tổng vốn đầu tư đăng ký lên tới

trên 7.385 triệu USD. Đầu tư trực tiếp nước ngoài được thể hiện dưới 3 hình

thức: DN 100% vốn nước ngồi, DN liên doanh, hợp đồng hợp tác kinh

doanh. Trong đó các dự án FDI được thực hiện chủ yếu dưới hình thức DN

100% vốn nước ngoài chiếm tới 91% tổng vốn đăng ký trong các hình thức

đầu tư.

Theo Cục Đầu tư nước ngồi, với hình thức đầu tư 100% vốn nước ngồi,

quyền điều hành hoàn toàn thuộc về chủ đầu tư nước ngoài trực tiếp quản lý

toàn bộ và chịu trách nhiệm hoàn toàn về kết quả hoạt động sản xuất kinh

doanh của dự án FDI. Điều này tạo tâm lý thoải mái, tự chủ, không chịu sự

ràng buộc cho nhà đầu tư. Đây là ưu điểm lớn để hình thức này luôn chiếm ưu

thế trong cơ cấu vốn FDI của cả nước nói chung và tỉnh Hải Dương nói riêng

so với các hình thức đầu tư khác.

2.3.5. Những đóng góp của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội tỉnh

Hải Dương

Tăng cường nguồn vốn cho phát triển kinh tế - xã hội

Năm 2015, tổng vốn đầu tư toàn xã hội trên địa bàn tỉnh đạt trên 135.000 tỷ

đồng, tăng gấp hơn 1,8 lần so với 5 năm trước. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp

nước ngồi đạt 33.213 tỷ đồng, tăng bình quân 5,4%/năm, chiếm tỷ trọng

24,6% trong tổng vốn đầu tư vào tỉnh. Nhìn chung, nguồn vốn đầu tư do các

doanh nghiệp FDI mang lại chiếm tỷ trọng khơng nhỏ trong tổng vốn và có

vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội của toàn tỉnh.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hình 2: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế tỉnh Hải Dương giai đoạn 2010-2015

ĐVT:%

100

90

80

70

60



dịch vụ 

công nghiệp, xây dựng

nông, lâm nghiệp, thuỷ sản



50

40

30

20

10

0



2010



2011



2012



2013



2014



2015



(Nguồn: Tổng hợp từ http://www.haiduongdost.gov.vn/ - Sở khoa học và

công nghệ Hải Dương)

Thực tiễn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Hải Dương cho thấy 95% tổng số

công ty đầu tư tập trung vào lĩnh vực cơng nghiệp, do đó có tác dụng rất lớn

đối với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Hải Dương theo hướng cơng

nghiệp hóa. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hải Dương khá tích cực,

đặc biệt các dự án đầu tư nước ngồi đã góp phần từng bước hoàn thiện và

nâng cao điều kiện về hạ tầng, dịch vụ khu công nghiệp. Trong tỷ trọng cơ

cấu kinh tế tỉnh Hải Dương, nông nghiệp năm 2010 chiếm 23% đã giảm

xuống còn 15,6% vào năm 2015. Lĩnh vực cơng nghiệp và xây dựng tăng từ

45,3% lên 52,5% tính đến cuối năm 2015. Riêng lĩnh vực dịch vụ vẫn duy trì

ở mức ổn định quanh mức 31%.



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



Góp phần phát triển khoa học - cơng nghệ, nâng cao trình độ quản lý

Các doanh nghiệp FDI đã triệt để áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật từ

khâu sản xuất đến khâu kiểm tra chất lượng sản phẩm, xử lý phế thải. Thông

qua việc áp dụng khoa học kỹ thuật cơng nghệ và trình độ quản lý tiên tiến mà

sản phẩm làm ra ngày càng có chất lượng cao. Có thể nói FDI đã góp phần

quan trọng trong việc thúc đẩy lĩnh vực khoa học - công nghệ của Hải Dương

khơng ngừng phát triển. Hiện nay, Hải Dương có trên 15.000 cán bộ kỹ thuật

và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi.

Khu vực FDI được đánh giá là kênh chuyển giao, lan tỏa cơng nghệ quan

trọng, góp phần nâng cao trình độ cơng nghệ của nền kinh tế nói chung và đối

với Hải Dương nói riêng. Tuy nhiên, cũng như cả nước, đóng góp lớn nhất

của FDI đối với tỉnh chính là tạo việc làm và vốn, còn tốc độ lan tỏa cơng

nghệ vẫn chưa được như mong muốn.

Góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao chất lượng lao

động

Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngồi hàng năm tạo cơng ăn việc

làm cho hàng chục nghìn lao động của tỉnh. Trong vòng 3 năm, số lao động có

việc làm khu vực này đã tăng từ 25.000 lao động (năm 2013) lên 60.000 lao

động (năm 2015). Thông qua sự tham gia trực tiếp vào hoạt động của các

doanh nghiệp, các lao động đã từng bước hình thành tác phong lao động cơng

nghiệp, có kỷ luật lao động, học hỏi được các phương thức lao động tiên tiến,

nâng cao thu nhập, giảm bớt các tệ nạn xã hội.

Đóng góp vào nguồn thu ngân sách

Tuy nhiều doanh nghiệp vẫn đang trong giai đoạn được miễn giảm thuế

nhưng bước đầu các dự án đầu tư FDI đã đóng góp một phần vào ngân sách

của tỉnh. Số nộp ngân sách năm 2015 đạt 450 tỷ đồng, tăng 6 lần so với năm

2011 là 76 tỷ đổng. Số nộp ngân sách giai đoạn 2011 – 2015 ước đạt 1.310 tỷ

đổng, vượt xa so với kế hoạch đề ra (175 tỷ đồng).

Tóm lại, tuy các doanh nghiệp FDI tại Hải Dương đang trong thời kỳ xây

dựng, song đã góp phần vốn đáng kể cho sự phát triển kinh tế xã hội, tạo điều

kiện áp dụng tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ và công nghệ tiên tiến,



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



góp phần vào giải quyết việc làm cho người lao động, mở rộng sản xuất, tăng

thêm nguồn thu cho ngân sách nhà nước và có tác dụng tích cực trong việc

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH - HĐH và phát triển đơ thị.

Những đóng góp trên tuy chưa lớn so với nhu cầu, nhưng có thể nói đây là

những thành cơng mà FDI đem lại cho Hải Dương.

2.3.6. Những hạn chế của việc thu hút FDI vào tỉnh Hải Dương

Bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực FDI còn có những hạn chế, tồn

tại như hiệu quả tổng thể nguồn vốn đầu tư nước ngoài chưa cao, giá trị gia

tăng tạo ra tại tỉnh và khả năng tham gia chuỗi giá trị thấp, định hướng thu hút

đầu tư nước ngoài theo ngành, đối tác còn hạn chế; mục tiêu thu hút cơng

nghệ, chuyển giao công nghệ chưa đạt yêu cầu; hiệu ứng lan tỏa của khu vực

đầu tư nước ngoài sang khu vực khác của nền kinh tế còn hạn chế …

Về quản lý quy hoạch các khu công nghiệp và tạo mặt bằng cho dự án :

Việc quy hoạch và xây dựng các khu cơng nghiệp, cụm cơng nghiệp còn

chậm, việc quy hoạch ngay từ đầu khơng dự báo chính xác dẫn đến nhiều dự

án phải đầu tư ngồi khu cơng nghiệp. Bên cạnh đó có một số KCN cơ sở hạ

tầng chưa đáp ứng được yêu cầu chưa có các đường gom xung quanh KCN.

Các dự án đầu tư vào các cụm cơng nghiệp địa phương gặp nhiều khó khăn

như cơ sở hạ tầng dẫn đến một số dự án FDI đã đăng ký nhiều năm nhưng

không thể đi vào hoạt động được. Các cụm công nghiệp mới chỉ khai thác quỹ

đất ở mặt tiền, phía bên trong đất còn nhiều do khơng có đường vòa thuận tiện

nên tỷ lệ lấp đầy chưa cao. Thêm vào đó việc giải phóng mặt bằng còn chậm

so với tiến độ dẫn đến nhiều doanh nghiệp đã có giấy phép đầu tư, được chấp

thuận về mặt bằng được thuê để triển khai dự án nhiều năm nhưng chưa thể

có mặt bằng để xây dựng.

Vấn đề thu hút và duy trì sự phát triển của các doanh nghiệp FDI

Thứ nhất,chưa có sự chọn lọc dự án đầu tư. Quá trình thu hút đầu tư thời

gian qua mới chủ yếu thu hút số lượng và lấp đầy diện tích đất cho thuê, đã đi



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Học Viện Tài Chính



Luận Văn Tốt Nghiệp



đến nguy cơ ngày càng đón nhận các dự án vốn đầu tư, hoặc các dự án chiếm

đất lớn nhưng mục tiêu đầu tư chưa được khuyến khích.

Thứ hai, vấn đề bảo vệ mơi trường chưa được chú trọng dẫn đến nguy cơ ô

nhiễm môi trường ngày càng lan rộng ra nhiều khu vực trong địa bàn tỉnh.

Thứ ba, các dịch vụ phục vụ cho các doanh nghiệp FDI chưa tương xứng

như: dịch vụ thuê nhà ở, ăn uống đi lại, dịch vụ tư vấn tài chính, khoa học

cơng nghệ, các dịch vụ vui chơi giải trí khác

Thứ tư, thiếu nguồn nhân lực đáp ứng cho các dự án FDI. Hiện nay các dự

án FDI ở Hải Dương thu hút một lượng lớn nguồn nhân lực có chun mơn và

tay nghề. Tuy nhiên Hải Dương mới cung ứng được một phần nhu cầu về lao

động có tay nghề, còn về lao động có chun mơn cao thì hầu như khơng

cung cấp được.

Thứ năm, việc tổ chức xúc tiến đầu tư chưa chuyên nghiệp dẫn đến hiệu

quả đạt được chưa cao.

Hạn chế của chính quyền trong việc quản lý dự án sau khi đã chấp

thuận và việc thực hiện cơ chế chính sách

Chưa có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các sở, ngành của tỉnh và chính

quyền các cấp tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư thực hiện các thủ tục

hành chính được nhanh chóng. Ở một vài nơi chưa thực sự nghiêm túc trong

việc thực hiện các chủ trương, chinh sách thu hút đầu tư của tỉnh, thậm chí

còn gây khó khăn cho các nhà đầu tư, nhất là trong công tác giải phóng mặt

bằng, làm cho các dự án chậm triển khai. Ngồi ra, việc thẩm định cơng nghệ

của các dự án còn dựa trên tiêu thức, chỉ số đã lỗi thời dẫn đến một số dự án

khi đi vào thực hiện có tác động tiêu cực như ơ nhiễm mơi trường, ảnh hưởng

tới các dự án khác.

Tóm lại trong thời gian qua, với sự năng động của chính quyền tỉnh, các cơ

chế, các chính sách, cơ chế tương đối hợp lý, Hải Dương bước đầu đã có

những thành cơng nhất định trong việc thu hút các doanh nghiệp FDI vào đàu

tư. Nhưng để tiếp tục thu hút và duy trì sự phát triển của các doanh nghiệp

FDI, chính quyền tỉnh phải có các chiến lược dài hạn, phải có tầm nhìn, và



SV: Nguyễn Thị Thảo



Lớp: CQ50/08.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

(Nguồn:Sở kế hoạch và đầu tư)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×