Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



lợi thế để thu hút đầu tư và ngày càng có nhiều nhà đầu tư trong và ngồi

nước đến tìm hiểu cơ hội đầu tư, kinh doanh tại Thái Nguyên.

2.1.1.Đặc điểm điều kiện tự nhiên

Vị trí địa lý kinh tế: Thái Nguyên nằm 20020’ đến 22025’ vĩ độ Bắc;

105025’ đến 106016’ kinh độ Đông. Thái Nguyên là cửa ngõ giao lưu kinh tế

xã hội giữa vùng trung du miền núi với vùng đồng bằng Bắc Bộ: phía bắc tiếp

giáp với tỉnh Bắc Kạn, phía tây giáp với các tỉnh Vĩnh Phúc, Tun Quang,

phía đơng giáp với các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và phía nam tiếp giáp với

thủ đơ Hà Nội. Với vị trí rất thuận lợi về giao thơng tỉnh Thái Ngun trung

bình cách sân bay quốc tế Nội Bài 50 km, cách biên giới Trung Quốc 200 km,

cách trung tâm Hà Nội 75 km và cảng Hải Phòng 200 km. Thái Nguyên còn

là điểm nút giao lưu thơng qua hệ thống đường bộ, đường sắt, đường sơng

hình rẻ quạt kết nối với các tỉnh thành.Vị trí địa lý của tỉnh đã tạo điều kiện

thuận lợi trong việc mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh, thành phố trong

vùng, trong cả nước cũng như với nước ngoài trong thời kỳ hội nhập và phát

triển kinh tế.

Đất đai: Tỉnh Thái Nguyên có tổng diện tích là 356.282 ha. Cơ cấu đất

đai gồm các loại sau:

Đất núi chiếm 48,4% diện tích tự nhiên, có độ cao trên 200 m, hình

thành do sự phong hóa trên các đá Macma, đá biến chất và trầm tích. Đất núi

thích hợp cho việc phát triển lâm nghiệp, trồng rừng đầu nguồn, rừng phòng

hộ, rừng kinh doanh nhưng cũng thích hợp để trồng cây ăn quả, một phần cây

lương thực cho nhân dân vùng cao.

Đất đồi chiếm 31,4% diện tích tự nhiên chủ yếu hình thành trên cát

kết, bột kết phiến sét và một phần phù sa cổ kiến tạo. Đây là vùng đất xen

giữa nông và lâm nghiệp. Đất đồi tại một số vùng như Đại Từ, Phú Lương... ở

Nguyễn Thị Huyền Trang



21



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



từ độ cao 150 m đến 200 m có độ dốc từ 50 đến 200 phù hợp đối với cây công

nghiệp và cây ăn quả lâu năm, đặc biệt là cây chè (đặc sản của Thái Nguyên)

Đất ruộng chiếm 12,4% diện tích đất tự nhiên, trong đó một phần phân

bố dọc theo các con suối, rải rác, không tập trung, chịu sự tác động lớn của

chế độ thủy văn khắc nghiệt (lũ, hạn hán...) khó khăn cho việc canh tác.

Trong tổng quỹ đất 356.282 ha, đất đã sử dụng là 246.513 ha (chiếm

69,22% diện tích đất tự nhiên) và đất chưa sử dụng là 109.669 ha (chiếm

30,78% diện tích tự nhiên). Trong đất chưa sử dụng có 1.714 ha đất có khả

năng sản xuất nơng nghiệp và 41.250 ha đất có khả năng sản xuất lâm nghiệp.

Địa hình: Địa hình Thái Nguyên không phức tạp lắm so với các tỉnh

trung du, miền núi khác, chủ yếu là đồi núi thấp, chạy theo hướng Bắc Nam,

thấp dần từ Bắc xuống Nam, thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp và xây

dựng các cơng trình cơng nghiệp.

Cấu trúc vùng núi phía Bắc chủ yếu là đa phong hóa mạnh, tạo thành

nhiều hang động và thung lũng nhỏ.Phía Tây Nam có dãy Tam Đảo với đỉnh

cao nhất 1.590m, các vách núi dựng đứng và kéo dài theo hướng Tây Bắc Đơng Nam. Ngồi dãy núi trên còn có dãy Ngân sơn bắt đầu từ Bắc Kạn chạy

theo hướng Đông Bắc, Tây Nam đến Võ Nhai và dãy núi Bắc Sơn chạy theo

hướng Tây Bắc, Đông Nam. Cả ba dãy núi Tam Đảo, Ngân Sơn, Bắc Sơn đều

là những dãy núi cao che chắn gió mùa đơng bắc.

Khí hậu: Khí hậu chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng

10 và mùa khô từ tháng 10 đến tháng 5. Lượng mưa trung bình hàng năm

khoảng 2.000 đến 2.500 mm; cao nhất vào tháng 8 và thấp nhất vào tháng 1.

Nhiệt độ chênh lệch giữa tháng nóng nhất (tháng 6: 28,9 0C) với tháng

lạnh nhất (tháng 1: 15,20C) là 13,70C. Tổng số giờ nắng trong năm dao động

từ 1.300 đến 1.750 giờ và phân phối tương đối đều cho các tháng trong năm.

Nguyễn Thị Huyền Trang



22



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



Nhìn chung, khí hậu tỉnh Thái Ngun thuận lợi cho phát triển ngành nông,

lâm nghiệp.

2.1.2.Đặc điểm điều kiện kinh tế-xã hội

2.1.2.1.Nguồn Nhân lực

Trong 5 năm (2011-2015), tình hình dân số và lao động của tỉnh Thái

Nguyên có những chuyển biến đáng kể, đến 31/12/2015 dân số tồn tỉnh là

1.156 nghìn người, mật độ dân số là 324 người/km 2; trong đó dân số khu

vực nơng thơn là 751,4 nghìn người (chiếm 65%); tốc độ tăng dân số trung

bình hàng năm khoảng 1,1% tức là mỗi năm tăng thêm khoảng 12.716 người.

Số liệu điều tra mức sống dân cư trong thời gian qua cho thấy tỷ lệ hộ

nghèo đã giảm từ mức 16,69% vào năm 2011 xuống còn 10.80% vào năm

2015; tỷ lệ đơ thị hố tăng từ 22% năm 2011 lên 35% năm 2015. Đời sống

nhân dân được cải thiện và nâng cao, thu nhập bình quân trên đầu người

khoảng 46,4 triệu đồng/người/năm 2015.

Về trình độ, Thái Ngun hiện có 7 trường Đại học thuộc Đại học Thái

Nguyên. Ngoài ra, còn có 15 trường Cao đẳng,Trung học chun nghiệp và

dạy nghề đáp ứng yêu cầu về cán bộ khoa học kỹ thuật và công nhân lành

nghề không chỉ riêng cho tỉnh mà còn cung cấp cho cả các tỉnh khác. Mặt

khác, dân số trong độ tuổi lao động khoảng 768.700 thanh niên bước vào tuổi

lao động; trong đó, lao động trong ngành nông nghiệp là 467.403 người. Đây

là một lợi thế lớn cho tỉnh trong việc đảm bảo nguồn lao động cho việc phát

triển nông nghiệp, nông thôn cũng như kinh tế-xã hội của cả tỉnh.

2.1.2.2.Cơ sở hạ tầng

Giao thông vận tải:



Nguyễn Thị Huyền Trang



23



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



Hiện trạng tình hình giao thơng vận tải của tỉnh tương đối phát triển với

các tuyến đường bộ, đường sắt, đường thủy.

Đường bộ: Tổng chiều dài Đường bộ của Tỉnh là 2.753 km. Thái

Nguyên hiện có 3 tuyến quốc lộ đi qua là Quốc lộ 3, Quốc lộ 1B, Quốc lộ 37

cùng với hệ thống đường tỉnh lộ, huyện lộ là mạch máu quan trọng nối Thái

Nguyên với các tỉnh xung quanh.

Đường sắt: Hệ thống đường sắt từ Thái Nguyên đi các tỉnh khá thuận

tiện. Thái Nguyên có 2 tuyến đường sắt Quán Triều-Hà Nội và tuyến KépLưu Xá. Hệ thống Đường sắt của tỉnh Thái Nguyên đảm bảo phục vụ vận

chuyển hành khách và hàng hóa với các tỉnh trong cả nước.

Đường thuỷ: Thái Nguyên có 2 tuyến Đường sơng chính là: Đa Phúc Hải Phòng dài 161 km. Đa Phúc - Hòn Gai dài 211 km.

Bưu chính viễn thơng:

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có chi nhành của tất cả các nhà cung cấp dịch

vụ bưu chính viễn thơng trong cả nước, phủ sóng hầu hết các xã trên địa bàn

tỉnh. Với mạng truyền dẫn vững chắc bằng thiết bị vi ba, tổng đài điện tử - kỹ

thuật số đảm bảo đáp ứng được thông tin liên lạc trong tồn quốc và quốc tế.

Tài chính - ngân hàng

Tính đến nay, trên đại bản tỉnh Thái Nguyên đã có tương đối đầy đủ chi

nhánh của hầu hết các ngân hàng, tổ chức tài chính, tín dụng lớn trong nước

với đủ các loại hình như: Ngân hàng Nhà Nước, Ngân hàng thương mại cổ

phần, chi nhánh bảo hiểm tiền gửi,...

Giáo dục- đào tạo:

Tỉnh Thái Nguyên được coi là một trung tâm đào tạo nguồn nhân lực

lớn thứ 3 sau Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh.



Nguyễn Thị Huyền Trang



24



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



Với 7 trường Đại học: Trường Đại học Sư phạm, Trường Đại học

Nông lâm, Trường Đại học Y dược, Trường Đại học Kỹ thuật Công

nghiệp, Trường Đại học Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học

Khoa học, Trường Đại học Công nghệ thông tin và truyền thông.

Với 15 trường cao đẳng khác như: Cao đẳng kinh tế - tài chính Thái

Nguyên, Cao đẳng thương mại - du lịch Thái Nguyên, Cao đẳng công nghiệp

Thái Nguyên, Cao đẳng Y tế Thái Nguyên, Cao đẳng sư phạm Thái Nguyên,

Trường Đại học Công nghệ giao thông vận tải, Trường Cao đẳng cơ khí luyện

kim, Cao đẳng văn hóa nghệ thuật Việt Bắc, Cao đẳng cơng nghiệp Việt-Đức,

Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp,….

Cơ sở giáo dục bậc cao đẳng nghề và trung cấp khác như: Trung tâm

quốc phòng, trung tâm học liệu, trung tâm dạy nghề,…

Du lịch-khách sạn

Với lợi thế có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên như Hồ Núi Cốc,

hang Phượng Hoàng, các di tích lịch sử như: An tồn khu Việt Bắc - ATK, có

rừng Khn Mánh và di tích khảo cổ học thời kỳ đồ đá cũ ở huyện Võ Nhai.

Bên cạnh đó, còn có các di tích kiến trúc nghệ thuật chùa chiền, đình, đền tại

nhiều địa phương trong tỉnh như: Khu Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt

Nam, Đền Đuổm, chùa Hang, chùa Phủ Liễn, đền Xương Rồng, đền Đội Cấn.

Hiện nay, Thái Nguyên đang triển khai quy hoạch khu du lịch hang Phượng

Hoàng, suối Mỏ Gà, Hồ Suối Lạnh... và cả hệ thống khách sạn chất lượng

cao gần đạt tiêu chuẩn quốc tế. Năm 2007, Thái Nguyên đã tổ chức rất thành

công năm du lịch quốc gia hướng về cội nguồn chiến khu Việt Bắc thu hút

hàng triệu khách du lịch đến thăm trong đó có nhiều khách nước ngoài.

Y tế



Nguyễn Thị Huyền Trang



25



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



Là một trung tâm y tế của vùng Đông Bắc với 1 Bệnh viên Đa khoa

trung ương, 9 Bệnh viện cấp tỉnh và 14 Trung tâm y tế cấp huyện.

2.1.2.3.Một số chỉ tiêu kinh tế-xã hội của tỉnh

Trong 5 năm qua, kinh tế tăng trưởng bình quân hằng năm của Thái

Nguyên ước đạt 13,1%, cao hơn 7,28% so với mức bình quân chung của cả

nước.

Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp - xây

dựng, GDP bình quân đầu người năm 2015 ước đạt 46,4 triệu đồng, tăng gấp

2,6 lần so với năm 2010. Thu ngân sách nhà nước trong cân đối (không bao

gồm thu cấp quyền sử dụng đất) năm 2015 đạt 6.200 tỷ đồng, gấp 3,33 lần so

với năm 2010.

Công nghiệp có bước phát triển vượt bậc, giá trị sản xuất cơng nghiệp

tăng trưởng bình qn 70,8%/năm; năm 2015 tăng gấp 14,5 lần so với năm

2010.Nhiều khu, cụm công nghiệp mới được hình thành. Các ngành cơng

nghiệp phụ trợ bước đầu phát triển. Dịch vụ phát triển cả về quy mô và loại

hình, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 7,7%/năm; giá trị xuất khẩu ước đạt

17,5 tỷ USD, tăng gấp 177 lần so với năm 2010. Năng lực cạnh tranh và thu

hút đầu tư đạt kết quả quan trọng.

Tổng vốn đầu tư thực hiện ước đạt 160 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 4,5 lần

so với giai đoạn 2006 - 2010. Nông, lâm nghiệp, thuỷ sản ổn định và phát

triển; giá trị sản xuất bình quân tăng 6,2%/năm; cơ cấu kinh tế nông nghiệp

tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn ni.Chương trình

xây dựng nơng thơn mới được triển khai tích cực, tồn tỉnh đã có 42 xã đạt

chuẩn nông thôn mới, bằng 29,4% số xã. Công tác quy hoạch, xây dựng kết

cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, phát triển đô thị được tăng cường đầu tư, nhất là



Nguyễn Thị Huyền Trang



26



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



về hạ tầng giao thơng; hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn được cải thiện

đáng kể; hạ tầng thuỷ lợi và cơng trình cấp nước sinh hoạt được đảm bảo.

2.1.3.Sự cần thiết phải quản lí, sử dụng nguồn vốn ODA

trong lĩnh vực nông nghiệpvà phát triển nơng thơn tại

tỉnh Thái Ngun

Thái Ngun có nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, nông thôn:

khoảng 65% dân số sống ở vùng nơng thơn, đất đai, khí hậu và điều kiện tự

nhiên rất phù hợp với phát triển sản xuất nông - lâm nghiệp, nhất là trồng cây

công nghiệp (chè, lạc), cây ăn quả, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc, gia

cầm.

Hiện nay, Nông Nghiệp tỉnh Thái Nguyên đang chuyển dịch cơ cấu

theo hướng sản xuất hàng hoá tập trung, hình thành các vùng chuyên canh,

trang trại hướng vào các loại cây, con có sản lượng và giá trị kinh tế cao đã

được hình thành như vùng chè, lợn, gà, trâu bò và rừng nguyên liệu. Sản

lượng lương thực có hạt bình qn đầu người trong tồn tỉnh liên tục tăng qua

các năm.

Liên hoan Trà quốc tế lần thứ nhất - Thái Nguyên, Việt Nam năm 2011

đã khẳng định tiềm năng và triển vọng của cây chè và sản phẩm trà của Thái

Nguyên. Sản xuất chè ngày càng phát triển theo hướng nâng cao chất lượng,

đa dạng hoá sản phẩm, đảm bảo tiêu chuẩn vệ sinh thực phẩm, áp dụng quy

trình sản xuất chế biến chè an tồn, mở rộng diện tích chè thương phẩm, đồng

thời xây dựng và phát triển thương hiệu, xúc tiến thương mại để mở rộng thị

trường.

Chính vì vậy, phát triển nơng nghiệp nơng thơn đóng vai trò quan trọng,

góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo công ăn việc làm, nâng cao đời sống, đổi

mới nơng thơn, góp phần phát triển kinh tế-xã hội của cả tỉnh.



Nguyễn Thị Huyền Trang



27



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



Nguồn vốn quan trọng để phát triển nơng nghiệp nông thôn phải kể đến

là ODA.Trong những năm qua, nguồn vốn đã mang lại nhiều lợi ích to lớn:

xây dựng đường giao thông nông thôn, phát triển giáo dục -y tế nông thôn ,

đời sống nhân dân được cải thiện, xóa đói giảm nghèo, bảo vệ mơi trường

nơng thơn,…

Tuy nhiên, việc quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA trong thời gian qua

ở tỉnh Thái Nguyên còn nhiều bất cập cần giải quyết.Việc quản lí và sử dụng

ODA hiệu quả là cần thiết để chúng ta tiếp tục nhận được sự ủng hộ của các

nhà tài trợ để phát triển nông nghiệp, nông thôn cũng như phát triển kinh tếxã hội của tỉnh.

2.2.Tình hình quản lí và sử dụng nguồn vốn ODA tại tỉnh Thái Nguyên

Trong các chiến lược ổn định và phát triển kinh tế xã hội của cả nước

thì nguồn vốn ODA ln được xác định là nguồn vốn quan trọng. Thực tế

gần 20 năm qua tình hình thu hút ODA đã giúp bổ sung vào nguồn ngân sách

của Chính phủ nói chung và của tỉnh nói riêng, tiếp thu được những công

nghệ tiên tiến và kinh nghiệm quản lý hiện đại để phát triển hạ tầng cơ sở

kinh tế, xã hội, từ đó giúp thu hút nhiều hơn nguồn vốn ODA vào Thái

Ngun.

2.2.1. Tình hình quản lí và sử dụng ODA từ năm 2011 đến năm 2015

Thái Nguyên nhận thức được rằng cam kết ODA mới chỉ là sự ủng hộ

về mặt chính trị của cộng đồng quốc tế các nhà tài trợ dành cho tỉnh, để các

cam kết này thực sự có ý nghĩa thì tỉnh cần chú trọng đến việc giải ngân

nguồn vốn này, đóng góp vào q trình phát triển kinh tế - xã hội trong tỉnh,

thực hiện xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, cải thiện hệ thống cơ sở hạ

tầng, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội và môi



Nguyễn Thị Huyền Trang



28



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



trường. Với số vốn ODA ký kết, tình hình thực hiện và giải ngân các chương

trình, dự án ODA ở Thái Nguyên từ năm 2011-2015 như sau:

Bảng 2.1: Tình hình giải ngân nguồn vốn ODA tại tỉnh Thái Nguyên

giai đoạn 2011– 2015

Đơn vị: tỷ đồng



Năm



ODA kí kết



ODA giải ngân



Tỉ lệ ODA giải ngân



thực tế



thực tế so với kí kết



2011



560,622



252,280



45%



2012



719,739



358,083



50%



2013



715,600



383,332



54%



2014



1020,240



160,247



16%



2015



1157,736



238,970



21%



Tổng cộng



4173,937



1392,912



33%



Nguồn: Sở Kế Hoạch Và Đầu Tư Thái Nguyên

Từ bảng trên ta thấy, từ năm 2011 đến năm 2015, tổng vốn ODA mà

tỉnh Thái Nguyên ký kết thực hiện tại tỉnh là 4173,937 tỷ đồng. Nhìn chung,

số vốn ODA kí kết có xu hướng tăng và trong 2 năm gần đây có xu hướng

tăng mạnh. Từ năm 2011 đến năm 2015, tỉnh đã giải ngân được 1392,912 tỷ

đồng đạt 33% so với số vốn kí kết được. Đây cũng là một con số tương đối

thấp so với tình hình giải ngân nguồn vốn ODA của cả nước.

Khối lượng giải ngân nguồn vốn ODA không đồng đều qua các

năm.Từ năm 2011 đến năm 2013, nguồn vốn ODA giải ngân có xu hướng

tăng từ 252,280 tỷ đồng (năm 2011) lên 383,332 tỷ đồng (năm 2013); từ năm

2014 đến 2015, nguồn vốn ODA giải ngân có xu hướng giảm và có vẻ chững

Nguyễn Thị Huyền Trang



29



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



lại. Điều đáng nói là trong khi khối lượng nguồn vốn ODA kí kết đầu tư có

xu hướng tăng thì khối lượng ODA giải ngân lại không tăng tương ứng làm

cho tỉ lệ ODA giải ngân thực tế so với kí kết vẫn ở mức thấp (33%). Khối

lượng ODA giải ngân chủ yếu tập trung vào một số dự án lớn:

Dự án thốt nước và xử lí nước thải-Thành Phố Thái Nguyên: từ năm

2011 đến năm 2015,dự án đã giải ngân được 364,641 tỷ đồng. Một số cơng

trình hạng mục của dự án đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, cơng tác nghiệm

thu và quyết tốn được triển khai song song, các Ban quản lý dự án đã tích

cực triển khai các thủ tục phê duyệt mời thầu, đấu thầu, đảm bảo kịp tiến độ

dự án.

Dự án đường Phúc Lương-Minh Tiến huyện Đại từ: từ năm 2011 đến

năm 2015, dự án đã giải ngân được 243,120 tỷ đồng. Dự án đã cải thiện tuyến

đường giao thông Phúc Lương-Minh Tiến, phục vụ nhu cầu vận chuyển, đi lại

của người dân, góp phần cải thiện cơ sở hạ tầng huyện Đại Từ.



2.2.2.Tình hình quản lí và sử dụng ODA theo ngành, lĩnh vực

Tổng vốn ODA kí kết tương đối lớn là 4173,937 tỷ đồng. Nguồn vốn

ODA phân bổ vào các lĩnh vực nhìn chung phù hợp với xu hướng, định hướng

thu hút ODA của nước ta trong thời gian qua. Hiện nay, Thái Nguyên đang

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng cơng nghiệp hóa nên nguồn vốn ODA

chủ yếu tập trung vào các dự án nhằm phát triển cơ sở hạ tầng. Lĩnh vực thoát

cấp nước và xử lý nước thải thu hút được 1213,878 tỷ đồng. Lĩnh vực năng

lượng và công nghiệp thu hút được 974,628 tỷ đồng. Hai lĩnh vực này thu hút

được lượng vốn khá lớn. Đó là do, tỉnh Thái Nguyên có cơ sở hạ tầng còn

chưa phát triển nên định hướng vận động nguồn vốn ODA của tỉnh tập trung

Nguyễn Thị Huyền Trang



30



CQ50/08.02



Luận văn tốt nghiệp



Học Viện Tài Chính



vào phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là giao thơng và hệ thống cấp thốt

nước, để tạo tiền đề, cơ sở phát triển các ngành kinh tế khác và thu hút đầu tư.

Lĩnh vực giao thông là lĩnh vực cũng thu hút được lượng vốn lớn (895,949 tỷ

đồng) do Thái Nguyên là tỉnh có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng.

Lĩnh vực nông nghiệp và phát triển nông thôn thu hút được 469,412 tỷ đồng.

Đây là con số chưa cao nhưng do Thái Nguyên có đến hơn 65% dân số sống

dựa vào nông nghiệp, do đó đây cũng là lĩnh vực ưu tiên phát triển. Y tế và

các lĩnh vực khác thu hút ODA còn nhiều hạn chế, song phần nào cho chúng

ta thấy được nỗ lực vận động ODA từ các nhà tài trợ của tỉnh.



Bảng 2.2: Tình hình giải ngân nguồn vốn ODA theo ngành, lĩnh vực

từ năm 2011đến năm 2015

Đơn vị: tỷ đồng



Ngành, lĩnh vực



Vốn ODA



Vốn ODA



Tỉ lệ giải ngân



kí kết



giải ngân



so với kí kết



Thốt, cấp nước và xử lí nước

thải

NN&PTNT



Nguyễn Thị Huyền Trang



1213,878



606,939



50%



469,412



187,765



40%



31



CQ50/08.02



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠI TỈNH THÁI NGUYÊN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×