Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. Mối quan hệ giữa hai học thuyết.

III. Mối quan hệ giữa hai học thuyết.

Tải bản đầy đủ - 0trang

bậc của Maslow được nhiều nhà quản lý sử dụng làm công cụ hướng dẫn trong

việc tạo động lực cho người lao động.

Tuy vậy học thuyết của Maslow vẫn còn một số hạn chế. Học thuyết này chỉ

đúng với các nước Phương tây còn đối với một số nước khác do quan điểm

truyền thống nên việc nhận thức về nhu cầu sẽ thay đổi. Điều này đòi hỏi nhà

quản lý cần phải biết được nhu cầu nào cần thoả mãn trước, nhu cầu nào thoả

mãn sau và tìm các biện pháp để đáp ứng được những nhu cầu đó một cách hợp

lý nhất.

Còn với học thuyết Frederic Herzberg Qua nghiên cứu cho thấy bên cạnh

các lợi ích về vật chất như tiền lương, tiền thưởng còn có một loạt các yếu tố

khác tạo động lực lao động như sự thăng tiến, bản thân cơng việc, thành tích,

trách nhiệm tất cả đều có tác động trực tiếp đến động lực lao động. Khi người

lao động cảm nhận được vị trí cơng việc của mình, trách nhiệm của mình đối

với tổ chức và cảm thấy mình được tơn trọng họ sẽ có trách nhiệm hơn với cơng

việc làm việc nhiệt tình hăng say và hiệu quả hơn.

Câu 2: Liên hệ thực tiễn tại cơ quan đang công tác.

1. Giới thiệu về cơ quan nơi tôi công tác:

Tôi đang công tác tại Quận Hải An, một quận mới được thành lập hơn 9

năm theo Nghị định số 106/NĐ-CP ngày 20/12/2012 của Chính phủ trên cơ sở

điều chỉnh địa giới hành chính 5 xã của huyện An Hải (cũ) gồm Nam Hải, Tràng

Cát, Đằng Hải, Đằng Lâm, Đông Hải và phường Cát Bi thuộc quận Ngơ Quyền

với diện tích 10.492ha; dân số gần 80.000 người. Quận Hải An là khu vực phát

triển mở rộng đơ thị trung tâm thành phố Hải Phòng về phía Đông Nam; là quận

duy nhất của thành phố hội tụ đầy đủ các loại hình giao thơng như: cảng biển,

cảng hàng không Cát Bi, đường sắt, đường bộ, đường sông... Với những đặc

điểm tự nhiên, giao thông thuận lợi, Hải An có điều kiện thuận lợi cho việc xây

dựng phát triển đô thị mới hiện đại, đồng bộ, là trọng điểm xây dựng và phát

triển cảng biển; công nghiệp, thương mại; du lịch, dịch vụ và khai thác kinh tế

biển. Đồng thời là vị trí chiến lược về an ninh quốc phòng phía Đơng Nam của



thành phố. Là quận mới được thành lập, bên cạnh những thuận lợi, Quận còn

gặp khơng ít những khó khăn: về cơ sở vật chất bước đầu còn thiếu thốn; phải

thuê mượn trụ sở làm việc, đời sống kinh tế, dân trí nhìn chung còn thấp so với

các quận khác trong nội thành; đội ngũ cán bộ được điều động từ nhiều nơi;

nhiều địa phương đơn vị trong thành phố, hầu hết là các cán bộ trẻ tuy có trình

độ, nhiệt tình song còn thiếu về kinh nghiệm thực tiễn công tác. Nhiều yếu tố đó

ảnh hưởng đến cơng tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ

chính trị của đơn vị. Cùng với những thuận lợi và khó khăn chung của quận thì

phòng Lao động Thương binh và xã hội quận, nơi tơi đang cơng tác có những

thuận lợi, khó khăn riêng; cụ thể:

- Phòng Lao động TB&XH được thành lập theo Nghị định số 14/NĐ-CP

năm 2008 của Chính phủ trên cơ sở chia tách phòng Nội vụ – Lao động

TB&XH thành phòng Nội vụ và phòng Lao động TB&XH và có bổ sung thêm

chức năng nhiệm vụ về cơng tác trẻ em, cơng tác bình đẳng giới từ UBDSGĐ

và trẻ em và Hội phụ nữ quận về phòng Lao động TB&XH.

- Phòng có chức năng, nhiệm vụ:

+ Là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận, tham mưu giúp UBND

quận thực hiện chức năng quản lý nhà nước về lĩnh vực lao động việc làm,

người có cơng và xã hội, thực hiện một số nhiệm vụ quyền hạn theo sự ủy

quyền của UBND cấp quận và theo quy định của pháp luật.

+ Phòng Lao động TB&XH có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản

riêng, chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND cấp

quận; đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn kiểm tra, thanh tra về chuyên môn,

nghiệp vụ của Sở Lao động TB&XH thành phố.

+ Phòng có nhiệm vụ tham mưu giúp UBND quận thực hiện chức năng

quản lý nhà nước về các lĩnh vực lao động việc làm, dạy nghề, tiền lương, tiền

công, BHXH, BHTN, an tồn lao động; chính sách người có cơng, bảo trợ xã



hội, bảo vệ giáo dục và chăm sóc trẻ em; phòng chống tệ nạn xã hội, bình đẳng

giới.

* Về cơ cấu tổ chức: Phòng gồm 12 cán bộ cơng chức. Trong đó có 01

trưởng phòng, 2 phó trưởng phòng và 9 cán bộ công chức; chia tách nghiệp vụ

chuyên môn thành các bộ phận: Bộ phận chính sách người có công; Bộ phận

bảo trợ xã hội; bộ phận tệ nạn xã hội; bộ phận bảo vệ chăm sóc trẻ em và bình

đẳng giới; bộ phận kế tốn- thủ quỹ.

*Thuận lợi: - Phòng được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, tạo điều kiện của

ngành dọc cấp trên, của Quận ủy-UBND quận; sự phối hợp chặt chẽ có hiệu quả

của các địa phương, phòng ban đơn vị. Tập thể phòng đồn kết, nhất trí cao

- Đội ngũ cán bộ trẻ, có trình độ năng lực, nhiệt tình

- Có sự phân cơng, phân nhiệm rõ người, rõ việc và chức năng nhiệm vụ

của từng bộ phận trong cơ quan.

* Khó khăn và những tồn tại hạn chế trong việc tạo động lực làm việc

trong đơn vị:

- Lĩnh vực Phòng phụ trách rất rộng, khối lượng công việc rất nhiều, số

lượng đối tượng phòng quản lý lớn, khoảng trên 30.000 người.

- Cán bộ cơng tác tại phòng hầu hết còn trẻ, trình độ 100% từ cao đẳng,

đại học trở lên. Song kinh nghiệm thực tiễn công tác chưa nhiều, một số chuyên

môn đào tạo so với cơng việc còn chưa thật phù hợp (ví dụ về kinh tế, quản trị

doanh nghiệp...) làm cơng tác xã hội thì gặp rất nhiều khó khăn nên phải đào

tạo, đào tạo lại cho phù hợp với công việc được giao và nhiệm vụ của đơn vị

nên một số mảng công việc ở một vài cán bộ trong đơn vị chất lượng cơng việc

còn hạn chế, dẫn đến sự hứng thú trong công việc, sự tâm huyết của các cán bộ

cũng chưa cao. Đối với những cán bộ này thì họ cần có một sự liên kết cộng sự

để giải quyết công việc và nhiệm vụ cũng được hoàn thiện để phù hợp; đáp ứng

được yêu cầu nhiệm vụ được giao.



- Do thực hiện sự luân chuyển cán bộ theo quy định nên trong cơ quan có

những người cũ chuyển đi và một số cán bộ mới chuyển về do đó bước đầu có

sự phân biệt người “mới”, người “cũ” cục bộ nhất định. với những trường hợp

như này cấu tạo cho họ một môi trường vui vẻ, thân thiện để họ sớm được hòa

nhập, thích ứng với môi trường công tác mới. Do vậy nhu cầu của họ cần có sự

liên kết và chấp nhận. Vì vậy người lãnh đạo quản lý cần quan tâm gần gũi, chia

sẻ giúp đỡ nhân viên mới.

- Do hạn chế về định biên nên một số cán bộ của phòng đã công tác lâu

năm nhưng chưa được tuyển dụng và chỉ hợp đồng ngắn hạn nên lương cũng

không được điều chỉnh nên rất thấp, đời sống khó khăn điều này cũng có tác

động đến động lực và chất lượng cơng việc. Với những trường hợp này họ cần

được thỏa mãn về nhu cầu sinh học( vật chất) và nhu cầu được tơn trọng nên

người lãnh đạo, quản lý cần có giải pháp để tác động thích hợp.

- Do khủng hoảng kinh tế làm ăn thua lỗ nên có những cán bộ rơi vào tình

trạng nợ lần nên chịu sức ép về kinh tế từ gia đình và xã hội dẫn đến không yên

tâm học tập, công tác... Trong trường hợp này động cơ làm việc của họ cần có

sự ổn định cuộc sống về sự an toàn trước sức ép về kinh tế từ phía gia đình và

xã hội. Do vậy cần có sự động viên, tư vấn họ cách giải quyết, tháo gỡ những

khó khăn vướng mắc mà họ đang gặp phải.

Câu 3: Giải pháp cần cải thiện những tiêu cực trên.

Để khắc phục những tiêu cực như trên đã trình bày có thể có nhiều phương

pháp, cách làm khác nhau. Nhưng theo quan điểm cá nhân em thì cần tập trung

làm tốt một số nhiệm vụ, giải pháp đó là:

- Cần xây dựng một tập thể đoàn kết, nhất trí nhưng khơng xi chiều song

cần gắn với việc thực hiện tốt công tác đấu tranh phê và tự phê bình trên tinh

thần thẳng thắn, trách nhiệm, cầu thị.

- Thực hiện tốt quy chế dân chủ trong hoạt động của cơ quan đơn vị, tạo

môi trường làm việc thật vui vẻ, cởi mở, đoàn kết hỗ trợ lẫn nhau.



- Quan tâm chăm lo đời sống vật chất, cũng như tinh thần đối với cán bộ

công chức trong đơn vị. Đặc biệt là cần lắng nghe tâm tư nguyện vọng và những

thuận lợi, khó khăn của cán bộ nhân viên trong đơn vị để có sự chia sẻ, giúp đỡ

cũng như để đưa ra những quyết định quản lý cho phù hợp, hiệu quả.

- Không ngừng quan tâm, đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chất lượng, đội ngũ

về trình độ chuyên mơn cũng như trình độ lý luận chính trị, tin học, ngoại ngữ...

để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

- Cần làm tốt công tác quy hoạch, đào ạo, sử dụng cán bộ đảm bảo đúng

người đúng việc, phát huy năng lực, sở trường của mỗi cá nhân.

- Làm tốt công tác khen thưởng, kỷ luật đảm bảo công bằng khách quan,

vơ tư, người có thành tích thực sự được khen thưởng động viên; người vi phạm

thì phải bị nhắc nhở; xử lý nghiêm minh. Nhưng cần chỉ cho họ thấy cái sai để

sửa chữa, rút kinh nghiệm và tạo cơ hội cho họ để khắc phục những tồn tại đó.

- Cần tạo mọi điều kiện thuận lợi và phát huy vai trò của từng tổ chức như

Đồn thanh niên; Cơng đoàn, phụ nữ. Trong hoạt động của đơn vị nhằm tạo sức

mạnh tổng thể của đơn vị, tạo khí thế trong hoạt động của cơ quan để thực hiện

tốt nhiệm vj chính trị của đơn vị.

- Cần xây dựng một hệ thống các nội quy, quy chế thật khách quan, dân

chủ, khoa học trong hoạt động của cơ quan đơn vị trên cơ sở đó mọi người phải

thực hiện nghiêm. Song cần phải có sự quản lí, kiểm tra, giám sát thực hiện.

- Tranh thủ sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp trên; nhất là các vấn đề phức tạp

khó khăn, tồn tại để có biện pháp giải quyết cho phù hợp hiệu quả.



The edn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. Mối quan hệ giữa hai học thuyết.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×