Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN (KHÔNG TRÌNH BÀY)

CƠ SỞ LÝ LUẬN (KHÔNG TRÌNH BÀY)

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.2. Thực trạng rác thải sinh hoạt của chợ Đại Từ, Đại Kim, Hoàng Mai,

Hà Nội.

2.2.1 Nguồn phát sinh rác thải

Chợ Đại Từ là một chợ không lớn lắm nhưng lại rất nhộn nhịp vì đây là

khu vực đơng dân cư do tập trung nhiều khu chung cư, bên cạnh đó còn có

lượng khá lớn sinh viên trường Đại học Thăng Long. Chính vì vậy mà mức độ

tiêu dùng hàng hóa ở đây cũng khá mạnh.

Hằng ngày, từ sáng sớm đến chiều tối, toàn bộ tuyến phố Đại Từ

(phường Đại Kim, quận Hồng Mai) đã biến thành một chợ cóc đông đúc, ồn

ào và ô nhiễm. Chợ họp đông nhất vào giờ cao điểm nên các phương tiện qua

lại tuyến phố này rất khó khăn. Từ 6h, những người bán hoa quả bằng xe thồ,

quang gánh đã đứng kín hai bên lề đường. Nhiều hàng bán quà sáng, thực

phẩm tươi sống kê bàn ghế, căng dù bạt trên hè, tràn xuống cả lòng lề đường.

Trong khi đó, chợ Đại Từ cũng nằm cạnh tuyến phố này nhưng từ lâu đã quá

tải. Đường vào chợ luôn chật như nêm cối, khiến nhiều người ngại phải chen

lấn, gửi xe đã mua bán ngay trên đường, càng tạo điều kiện thuận lợi cho các

hàng quán chiếm phố làm chợ.

Cuối ngày, một lượng rác thải khổng lồ từ chợ chính và chợ cóc được

tập kết ngay đầu phố. Hàng chục xe rác đầy ắp không được vận chuyển hết

trong ngày bốc mùi hôi thối nồng nặc, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng

cho khu dân cư và làm mất mỹ quan khu vực cửa ngõ vào Khu đô thị mới Đại

Kim - Định Công.

Nguồn phát sinh rác thải trên địa bàn Chợ chủ yếu từ sinh hoạt buôn

bán của các các hộ bán rau, trái cây, cá thịt là chủ yếu, ngoài ra rác thải còn

phát sinh từ hộ gia đình, các qn ăn. Rác thải từ nguồn này chủ yếu là chất



4



hữu cơ dễ phân huỷ như thức ăn thừa, rau củ, quả bị hỏng…v.v. ngồi ra còn

một lượng lớn các loại bao bì, túi nilon.



Hộ gia đình



Quán ăn



Bán cá, thịt



Bán rau



Rác thải



Cửa hàng tạp

phẩm



Bán hoa quả



Người đi chợ



Kinh doanh

dịch vụ



Hình 2.1 Sơ đồ nguồn phát sinh chất thải

Bảng 2.1. Tỷ trọng phát sinh rác thải trên địa bàn Chợ Đại Từ

T

T

1

2

3

4

5



Nguồn

RTSH hộ gia đình

Rác thải từ cửa hàng rau và hoa quả

Rác thải từ các quán ăn, dịch vụ

công cộng...

Rác thải từ cửa hàng thịt, cá, tạp phẩm.

Tổng



Khối lượng

(tấn/ngày)

0,25

0,43

0,21



Tỷ lệ (%)

21,93%

37,72%

18,42%



0,25

21,93%

1,14

100,0%

( Nguồn:Ban quản lý Chợ)



Từ bảng trên cho thấy: Rác thải cửa hàng rau và hoa quả chiếm tỷ lệ

lớn nhất (37,72%). Rác thải từ quán ăn và dịch vụ là ít nhất (18,42%) do đây

chủ yếu là chủ yếu là giấy, bao bì…

Theo kết quả điều tra, bình quân, các hộ buôn bán của chợ Đại Từ thải

lượng rác 2,5 kg/hộ/ngày. Đó là chưa kể một lượng lớn rác thải sinh hoạt phát

sinh từ những ngày nghỉ cuối tuần hay những ngày lễ hội thì khối lượng rác



5



thải phát sinh lại tăng lên, nếu lượng rác này không được thu gom thường

xuyên sẽ gây ra ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan và ảnh hưởng tới sức khỏe

người dân.

2.2.2 Thành phần rác thải

Theo kết quả điều tra, rác thải sinh hoạt trên địa bàn Chợ Đại Từ chủ

yếu là chất hữu cơ, tỷ lệ này chiếm khoảng 65% bao gồm: vỏ rau củ, hoa quả

thối; tỷ lệ chất thải phi hữu cơ là 35% bao gồm chủ yếu túi nilon, vỏ hến, vỏ

trai, giấy, giẻ vụn, các loại vỏ hộp…được thể hiện ở bảng 2.2 dưới đây:

Bảng 2.2. Thành phần rác thải tại chợ Đại Từ

TT

1

2

3

4

5

6



Thành phần rác

Chất hữu cơ

Giấy, giẻ rách

Nhựa, cao su, bao nilon

Kim loại, vỏ đồ hộp

Thuỷ tinh, mảnh vụn

Đất cát, xỉ than,và các tạp chất khác



Tỷ lệ

65%

12%

5%

3%

5%

10%



Qua bảng cho thấy tỷ lệ chất hữu cơ cao nhất (65%) do ở đây chủ yếu

là các hộ gia đình kinh doanh, buôn bán, phong phú với nhiều loại hàng hóa

chủ yếu là thực phẩm. Khơng có hoạt động chăn nuôi nên thực phẩm, thức ăn

thừa không được tận dụng mà thải bỏ toàn bộ. Do vậy tỷ lệ chất hữu cơ trong

rác thải ở đây là rất cao chủ yếu là chất hữu cơ dễ phân hủy sinh học, còn

thành phần chất vơ cơ khơng đáng kể chủ yếu là túi nilon, đất cát. bụi đường.

2.3. Thực trạng thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt tại Chợ Đại Từ

2.3.1. Thực trạng thu gom rác thải tại khu vực chợ Đại Từ

Chợ Đại Từ là một khu chợ buôn bán hàng ngày nên việc thu gom và

xử lý rác vẫn đang là một vấn đề cần đặt ra để các tổ chức quản lý trong khu

vực. Hàng ngày các hộ buôn bán thuộc phạm vi chợ Đại Từ phải trả chi phí

cho việc thu gom rác thải từ việc bn bán của mình. Vì vấn đề quản lý tại



6



khu vực chợ Đại Từ chưa có cơ quan nào đứng ra quản lý nên việc thu gom

và quản lý rác thải trong khu vực chợ còn khá phức tạp, công việc thu gom

rác thải tại chợ được một cá nhân đứng ra nhận thầu và đóng thuế với cơ quan

chức năng. các hộ buôn bán trong khu vực chợ Đại Từ mỗi ngày phải đóng

phí chợ và phí xả thải với người nhận thầu, với mức phí là 1000 đồng/ngày.

Các hộ buôn bán trong khu vực chợ hầu hết là những người bn bán nhỏ lẻ

và khơng có đang ký giấy phép kinh doanh nên việc quản lý từ cơ quan chức

năng là hồn tồn khơng có, việc bn bán nhỏ lẻ như vậy nên khi phát sinh

ra chất thải họ cũng chỉ để ngay dưới chân hay bên cạnh chỗ bày bán của

mình mà thơi, việc khơng có ý thức về quản lý rác thải càng thể hiện rõ hơn,

với địa hình của chợ sát hồ nên mỗi khi có cơn mưa nặng hạt nào rớt xuống là

các hộ buôn bán tha hồ mà đùn đẩy đống rác thải ngay dưới chân vào dòng

nước để cuốn xuống hồ, không cần biết khối lượng rác thải này sẽ ảnh hưởng

tới môi trường như thế nào, miễn là chỗ buôn bán của họ sạch sẽ là được rồi,

những hộ trên đầu dốc thì qt ra để cho dòng nước cuốn đi, rác chảy tới hộ

nào thì họ lấy chổi hoặc chân đẩy ra cho rác chảy theo dòng nước, và điểm

tập kết rác là các rãnh, cống và hồ.

Những ngày bình thường thì tại khu vực chợ Đại Từ vẫn được đội quản

lý mơi trường quận Hồng Mai qt dọn, việc quét dọn thường được diễn ra

vào khoảng 3-4h sáng, vì vậy tới cuối ngày rác thải tại khu vực chợ khá nhiều

rác dồn đóng tạo nên một mùi hơi tanh nồng nặc, rác rưởi khắp mọi nơi, từ

các hàng trái cây, quần áo, cá, thịt, rau…tới những nơi ăn uống cũng đầy rác

thải, tại hàng ăn uống , ngồi trên ghế ăn mà ở dưới chân rác thải với ruồi

nhặng bay xung quanh rất mất vệ sinh. Đã có nhiều trường hợp khi ăn uống

tại khu vực chợ đã bị ngộ độc thực phẩm và đau bụng, thế nhưng việc giải

quyết vấn đề rác thải tại khu vực chợ Đại Từ vẫn còn gặp nhiều khó khăn và



7



hiện giờ vẫn phụ thuộc rất nhiều vào ý thức của các hộ kinh doanh buôn bán

thuộc khu vực chợ.

2.3.2. Khả năng đáp ứng của công tác thu gom

2.3.2.1. Thiết bị thu gom:

Thiết bị và phương tiện thu gom rất đơn giản gồm: 1 xe đẩy, chổi, xẻng,

quần áo bảo hộ lao động, đôi ủng, găng tay lao động. Những trang thiết bị này

Ban quản lý chợ đầu tư cho những người thu gom rác hàng năm.

2.3.2.2. Thành phần và tiền công thu gom.

Tại chợ vào buổi sáng sớm có một nhóm người chuyên làm nhiệm vụ đi

thu gom rác trước khi chợ họp. Hình thức trả cơng cho nhân cơng là mỗi

người thu gom có thể được trả 2,0 triệu đến 2,5 triệu đồng một tháng. Số tiền

này là do các chủ cửa hàng kinh doanh dịch vụ trả cho người thầu. Mức phí

rác thải cho người có hộ khẩu tại chợ là 10.000đ/gian hàng kinh doanh và

1.000đ/gian hàng bán qua ngày.

2.3.2.3. Tần suất thu gom rác

Trong chợ, do đặc điểm đây là chợ gần các chung cư cao tầng, lượng

người mua bán rất nhiều, nên tần xuất thu gom của tổ thu gom rác là 7

ngày/tuần, hàng ngày đều có người đến thu gom rác theo giờ, thường là vào

buổi chiều và sáng sớm. Sau khi thu gom xong, rác sẽ được tập kết tại thùng

rác hoặc gom thành đống cho đến khi xe rác đến và chở đi đến bãi rác thành

phố.

2.4. Thái độ của nhà quản lý, công nhân thu gom và hộ gia đình đối với

cơng tác quản lý rác thải sinh hoạt.

2.4.1. Thái độ của nhà quản lý

Theo điều tra thực tế cho thấy, những người có trách nhiện trong việc

quản lý, xử lý rác thải ở khu vực chợ chưa có sự quan tâm sát xao đến cơng



8



việc của mình dẫn đến tình trạng quản lý chưa chặt chẽ vấn đề thu gom, xử lý

rác thải. Mặt khác những người chịu trách nhiệm quản lý này thiếu kiến thức

chuyên môn cần thiết cho công việc của mình. Do đó việc tun truyền cho

người dân hiểu trách nhiệm và nghĩa vụ của mình trong việc bảo vệ môi

trường là rất kém.

2.4.2. Thái độ của người thu gom

Theo kết quả phỏng vấn người thu gom rác thải của chợ họ đều phản

ánh là nhận được mức lương chưa thỏa đáng, ngồi lương ra họ khơng có

thêm bất kỳ chế độ đãi ngộ nào trong khi phải tiếp xúc với mùi hôi thối từ rác

thải. Khi được hỏi về ý thức của người dân trên địa bàn phường thì đa số

người dân chấp hành tốt việc đổ rác thành đống gọn gang nhưng bên cạch đó

vẫn có hành vi đổ rác và xả rác ra một cách bừa bãi không đúng nơi quy định.

2.4.3. Thái độ của các hộ kinh doanh

Theo số liệu điều tra cho thấy:

Có 27% số hộ điều tra cho rằng mức phí đó là cao do các hộ đó thu

nhập cao, bn bán lâu dài và thuận lợi; Có 48% số hộ cho rằng mức phí đó là

phù hợp; Và, 25% số hộ đánh giá mức phí đó thấp. Tuy nhiên có một vài hộ

lại cho rằng khơng cần đóng phí vệ sinh vì cho rằng họ khơng có mấy rác thải

và họ có thể tự xử lý được không cần thu gom.

- Địa điểm thường xuyên đổ rác: Kết quả điều tra và khảo sát thực tế

cho thấy chủ yếu là họ xả rác lung tung, không tạp trung lại một chỗ dẫn đến

việc thu gom rác lâu và vất cả hơn vì phải qt gọn rác vào. Bên cạnh đo thì

vẫn có một số hộ có ý thức bỏ rác gọn gang.

- Ý kiến của người dân về chất lượng của dịch vụ thu gom rác thải:

Theo kết quả điều tra người dân về chất lượng của hoạt động thu gom rác thải

tại chợ thì có 40% số người được hỏi cho là tốt, 20% cho là bình thường, 33%



9



cho là chưa tốt, 7% có ý kiến khác. Một phần nhỏ số người được hỏi phản

ánh thái độ của người thu gom còn chưa tốt, chỉ thu gom rác của các kinh

doanh mà có rác để gọn gang mà khơng qt dọn chỗ có rác rơi vãi lung tung.



Hình 2.2 Đánh giá của người dân về chất lượng thu gom rác thải

Như vậy, công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt vẫn còn tồn

tại những hạn chế nhất định cần phải khắc phục.



10



CHƯƠNG 3

NHẬN XÉT – ĐÁNH GIÁ

3.1. Đề xuất biện pháp quản lý rác.

Với thực trạng công tác quản lý và thu gom rác như trên thì trong giai

đoạn hiện nay, để thực hiện nhiệm vụ quản lý môi trường nói chung và quản

lý rác thải nói riêng, ta có thể áp dụng nhiều cơng cụ khác nhau như: công cụ

pháp luật, công cụ kinh tế, giáo dục cộng đồng…nhằm nâng cao ý thức, trách

nhiệm bảo vệ môi trường cho khu vực chợ.

- Thành lập bộ máy quản lý mơi trường, phối hợp với nhau để nắm

vững được tình hình mơi trường chung chợ, nâng cao hiệu quả quản lý, tại

chợ cần có người phụ trách quản lý về môi trường.

- Tổ chức tập huấn cho đội thu gom rác thải về kĩ thuật thu gom, phân

loại rác, có trách nhiệm trong cơng việc của mình và chịu sự quản lý của cán

bộ quản lý môi trường. Tổ chức tập huấn cho cán bộ mơi trường để nâng cao

trình độ chun mơn, khả năng quản lý mình.

- Giáo dục tuyên truyền nâng cao nhận thức của người dân thực hiện

nếp sống văn minh, không đổ rác và vứt rác bừa bãi. Đối với vấn đề bảo vệ

mơi trường nói chung và rác thải nói riêng thì nâng cao nhận thức cũng như ý

thức của người dân là việc làm hết sức quan trọng, nó quyết định hiệu quả của

vấn đề bảo vệ mơi trường sống bởi để có được mơi trường trong sạch thì

khơng chỉ là sự cố gắng của một vài người mà cần có sự quan tâm của tồn xã

hội thì mới có thể thực hiện được.

- Công nhân trực tiếp làm việc thu gom rác phải được xếp ở ngành lao

động độc hại từ đó có chế độ tiền lương, phụ cấp độc hại, bảo hộ lao động cho

phù hợp.



11



- Tiến hành phân loại rác tại nguồn, tuyên truyền cho người dân biết

cách phân loại rác thải trước khi đem thải bỏ. Thực hiện quản lý rác theo

phương thức 3R (reduce - giảm thiểu, reuse - tái sử dụng, recycle - tái chế).

+ Reduce: Giảm thiểu, đó là việc hạn chế đến mức tối thiểu việc sử

dụng các loại túi nilon, các loại đồ hộp phục vụ ăn uống….

+ Reuce: Tái sử dụng, đó là việc phân loại và tận dụng những phế liệu

bán cho người thu mua và tái chế, thực phẩm dư thừa tận dụng cho chăn nuôi.

+ Recycle: Tái chế, tận dụng các loại chất thải hữu cơ dễ phân hủy để

sản xuất phân bón, sản xuất khí sinh học.

3.2. Kiến nghị

Để có thể thực hiện tốt công tác quản lý, rác thải trên địa bàn chợ Đại

Từ, xin đưa ra một số kiến nghị như sau:

Tăng cường hiệu quả của công tác phân loại , thu gom và đổ thải rác có

hiệu quả.

Cần có cán bộ chun trách về vệ sinh mơi trường ở cấp cơ sở, nâng

cao năng lực quản lý rác thải .

Tổ chức phổ biến kiến thức về môi trường cho người dân về tác hại của

ô nhiễm môi trường xung quanh nơi ở.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN (KHÔNG TRÌNH BÀY)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×