Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần: B ĐỘC HỌC THỦY NGÂN

Phần: B ĐỘC HỌC THỦY NGÂN

Tải bản đầy đủ - 0trang

-



-



II.



Xianua thủy ngân [(Hg(CN)2)]: là tinh thể, khan, không màu, mùi vị gây buồn nôn, rất

độc.

Sunfua thủy ngân: ……….dùng làm bột màu.

Fulminat thủy ngân [Hg(CNO)2]: …………được dùng trong công nghệ chế tạo thuốc nổ,

dùng làm hạt nổ, kíp nổ. Hơi khói từ ngòi nổ fulminat thủy ngân có thể gây nhiễm

độc.

Neptal:…… thuốc lợi niệu.

Mecurochrom: ……….thuốc sát trùng, dùng ngoài da, nếu dùng bên trong vết thương

có thể bị nhiễm độc.

Metyl thủy ngân, đimetuy thủy ngân:……..



CÁC Q TRÌNH CHUYỂN HĨA CỦA THỦY NGÂN

Về mặt hố lí, thuỷ ngân là một kim loại rất dễ thay đổi dạng tồn tại cũng như tính

chất. Rất dễ bay hơi, nó dễ dàng chuyển từ trạng thái lỏng sang trạng thái hơi ở nhiệt độ

phòng.

Khi có mặt Oxy:

Hg(hơi, lỏng) + O2(khí) 



HgO(rắn)



Nó cũng dễ dàng kết hợp với những phân tử hữu cơ tạo nên nhiều dẫn xuất thuỷ

ngân.



1.



Mơi trường khơng khí:

Hg tồn tại chủ yếu ở dạng Hơi Hg0



2.



Môi trường đất:

Trong đất, thủy ngân tồn tại ở dạng Hg 2+. Hoạt động của thủy ngân trong đất phụ

thuộc vào độ pH và nồng độ Cl–. Ngoài ra, trong đất, nhờ hoạt động của vi khuẩn mà

trạng thái và tính chất của thủy ngân có thể thay đổi. Các hợp chất của Hg thường thấy

trong đất là HgCl2, Hg(OH)2.



3.



Môi trường nước



Các dạng Thủy ngân hữu cơ có thể tự chuyển hố qua lại nhất là trong mơi

trường axit và có mặt các phân tử có khả năng kết hợp với Hg như Clo, lưu huỳnh,....

Trong mơi trường sinh vật

Q trình Oxy: hóa Hg thành ion Hg+ , Hg2+. Khi hơi thuỷ ngân được hít vào cơ thể,

dưới tác động của catalaze có trong hồng cầu, thuỷ ngân kim loại được chuyển thành ion

Hg2+ và tham gia vào lưu thơng máu.

Sự metyl hố: chuyển ion Hg2+ thành thuỷ ngân hữu cơ, diễn ra chủ yếu trong mơi

trường nước hoặc trong cơ thể phụ thuộc tính axit của mơi trường và sự có mặt của lưu

huỳnh. 2 hợp chất hữu cơ của thuỷ ngân được biết đến nhiều là metyl thuỷ ngân và

đimetyl thuỷ ngân.



III. ĐỘC TÍNH CỦA THỦY NGÂN

1.



Đối với người



1.1



Nồng độ phơi nhiễm

QCVN/TCVN ( đưa thêm số liệu)



1.2



Q trình chuyển hóa của thủy ngân trong cơ thể

• XÂM NHẬP, HẤP THỤ các loại hợp chất Hg

Thủy ngân xâm nhập vào cơ thể con người chủ yếu qua đường hô hấp. Do thủy ngân

kim loại ở nhiệt độ thường dễ bay hơi. Nồng độ thủy ngân bay hơi phụ thuộc vào nhiệt

độ môi trường và đặc điểm khơng khí xung quanh. Đặc biệt khi bị rơi vãi, thủy ngân sẽ

phân tán thành nhiều giọt, làm tăng diện tích tiếp xúc của Hg trong khơng khí, từ đó tạo

điều kiện để xâm nhập vào cơ thể.

Thuỷ ngân kim loại dưới dạng hơi: Gần 80% hơi thủy ngân hít vào sẽ được giữ lại và

thấm vào cơ thể tùy thuộc vào độ hòa tan. Nó có thể xâm nhập vào phổi qua đường hô

hấp rồi vào máu. Thủy ngân vì vậy sẽ được chuyển đến các phần khác của cơ thể, đặc

biệt là đến não. Khi hơi thuỷ ngân có nguồn gốc hỗn hống, một phần sẽ được hoà tan

bởi nước bọt và vào trong dạ dày.

Các nguồn phát thải chủ yếu là các ngành cơng nghiêp:

• Chế tạo các hợp chất hóa học có chứa thủy ngân.

• Chế tạo hỗn hống sử dụng trong nha khoa, chế tạo ắc quy Fe – Ni…

• Chế tạo biển báo dạ quang, phát sáng…

• Phân xưởng của các nhà máy chế tạo thủy ngân

• …..

Qua đường tiêu hóa: người bị nhiễm độc thủy ngân chủ yếu qua thực phẩm và làm

răng giả (người trồng răng giả và phòng nha khoa rất dễ bị phơi nhiễm thủy ngân). Cá

biển là nguồn chính để chuyển thủy ngân thành dạng metyl thủy ngân CH3 - Hg sinh học.

Gốc này được hình thành do vi sinh vật yếm khí tạo ra từ khí CH4 với muối thủy ngân.

Gốc CH3 - Hg tan trong nước, có nhiều trong thựcvật nổi. Cá sử dụng thực vật nổi này

làm thức ăn, qua đó, độ độc được nhân lên nhiều lần rồi đi vào dây chuyền thực phẩm.

Người sử dụng cá biển có chứa gốc CH3 – Hg sẽ nhiễm độc cơ thể.



Thuỷ ngân dưới dạng lỏng: dạng này ít độc vì nó được hấp phụ rất ít. Dạng này nếu

có vào trong cơ thể (qua đường ăn uống chẳng hạn) sẽ được thải ra gần như hoàn tồn

(hơn 99%) qua đường tiêu hố (muối, nước tiểu). Ở người bình thường, mức độc đào

thải của thủy ngân là 10mg/24h qua nước tiểu và 10mg/ngày qua phân.

Hấp thụ qua da: Hg có khả năng hấp thụ qua da nhưng không nhiều. Nguồn: dùng

thuốc, trám răng, mỹ phẩm, các chế phẩm chứa muối thủy ngân. Ngoài ra, khi thủy ngân

bám lên da ở dạng phân tử rất nhỏ, khơng nhìn thấy bằng mắt thường, nó có thể vơ tình

được vận chuyển vào cơ thể qua miệng.

Thuỷ ngân dưới dạng ion có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường nước bọt, tĩnh

mạch hoặc da. Dạng này vào cơ thể sẽ tập trung chủ yếu trong gan và thận. Thận cũng là

cơ quan tích tụ thủy ngân nhiều nhất và lâu nhất (khoảng 50 – 90%).

Hợp chất thủy ngân hữu cơ (đặc biệt là metyl thủy ngân) được hấp thụ qua da và

đường tiêu há với 1 lượng lớn. Các hợp chất này có thể thấm qua màng máu não, di

chuyển qua nhau thai và lưu giữ lại. Lá lách cũng chứa 1 lượng lớn thủy ngân tương tự

như não.

CHUYỂN HÓA

Thủy ngân nguyên tố sẽ nhanh chóng được hấp thu qua được hấp thu qua đường hô

hấp gây tổn thương, qua màng phế nang vào máu, đến thận, gan và hệ thần kinh trung

ương. Một lượng thủy ngân nguyên tố sẽ thấm qua hàng rào mạch máu não và di

chuyển đến nhau thai. Thời gian bán hủy của nó kéo dài khoảng 60 ngày, sau đó sẽ được

thải ra qua đường phân và nước tiểu. Sau khi vượt qua hàng rào máu não, thủy ngân sẽ

tích tụ tại đây, kết hợp với gốc sulfydryl và protein của tế bào, cản trở các emzyme và

chức năng vận chuyển tế bào.





Thủy ngân hữu cơ hấp thu tốt qua đường hơ hấp, tiêu hóa và da. Độc tính của thủy ngân

thường cao hơn đối với những chuỗi ngắn, đặc biệt là metyl thủy ngân. Nuốt từ 10 – 60

mg/kg đủ gây tử vong; nuốt lượng ít nhưng trong 1 thời gian dài, chỉ cần khoảng

10microgam/kg sẽ tác động lên hệ thần kinh và khả năng sinh sản. Thủy ngân hữu cơ có

khả năng tan trong lipit nên nhanh chóng phân bố khắp cơ thể, tích tụ trong não, thận,

gan, tóc và da. Tác động rõ rệt nhất là nguy hiểm nhất là ở não.Độc tính này sẽ tăng dần

nếu có hiện tượng tích luỹ sinh học. Sự tích luỹ sinh học là q trình thâm nhiễm vào cơ

thể gây nhiễm độc mãn tính. Quá trình này diễn ra gồm hai giai đoạn: Sự tích luỹ sinh

học bắt đầu bởi cá thể, sau đó được tiếp tục tích lũy nhờ sự lan truyền giữa các cá thể,

từ động vật ăn cỏ, động vật ăn cá, cho đến con người. Do đó nồng độ thủy ngân được

tích luỹ dần dần cho đến khi “tới ngưỡng” gây hại. Hiện tượng tích luỹ sinh học này rất

nguy hiểm, nhất là với methyl thủy ngân - xuất phát từ mơi trường lúc đầu ít ơ nhiễm

(nồng độ thủy ngân thấp), nồng độ đó có thể tăng lên đến hàng nghìn lần và trở thành

rất độc.

-



Thủy ngân vơ cơ là chất ăn mòn, nên sẽ gẩy phỏng trực tiếp lên niêm mạc. Tỉ lệ hấp

thu qua tiêu hóa của thủy ngân vơ cơ là rất ít ( chỉ khoảng 10% lượng nuốt vào ).



Thủy ngân vơ cơ tích lũy ở thận và gây thương thận. Tuy thủy ngân vô cơ khơng tan

trong lipit, nhưng nếu tích lũy trong 1 thời gian dài, nó cũng có thể được tích trong

não, gây tổn thương hệ thần kinh trung ương. Liều gây chết của thủy ngân vô cơ là 14g đối với người lớn.

-



1.3

-



1.4

-



-



-



1.5

-



-



Thủy ngân kết hợp và bất hoạt gây thối hóa tế bào thần kinh ở vỏ não và tiểu não,

dẫn đến triệu chứng liệt, thất điều, điếc… Chất này di chuyển dễ dàng qua nhau thai,

tập trung ở đó và gây nhiễm độc nặng cho thai nhi.

Đào thải

Thời gian bán hủy của thủy ngân ở người lớn là 40 -50 ngày, đào thải chủ yếu qua

phân ( 90%) nước tiểu và một phần nhỏ qua da và nước bọt. Người bị bệnh thận mà

nhiễm độc thủy ngân thì sự thải loại thủy ngân bị cản trở

Các dạng nhiễm độc ở người

Nhiễm độc thủy ngân cấp tính thường xảy ra do tai nạn, ngộ độc do ăn phải 1 lượng

lớn thủy ngân hoặc tiếp xúc với thủy ngân bị nung nóng trong phòng kín.

Hiện tượng chung khi tiếp xúc với thủy ngân là đau rát ở mắt, ho, khó thở, thở gấp,

sốt, buồn nôn, co thắt vùng ngực… Với những trường hợp nhẹ các triệu chứng sẽ

biến mất sau 1 thời gian ngắn, tuy nhiên hiện tượng đau thắt ngực sẽ kéo dài khoảng

vài tuần.

Khi làm việc với hơi thủy ngân trong phòng kín sẽ gây kích ứng da, dẫn viêm da,

ngứa, mụn mủ, viêm loét sâu trên da. Viêm dạ dày – ruột non cấp tính, viêm miệng,

viêm kết tràng, lở loét, xuất huyết, nôn, tiết nhiều nước bọt. Với nồng độ cao, hơi

thủy ngân sẽ gây kích ứng phổi, đau rát dẫn đến viêm phổi hóa học. Nếu khơng điều

trị kịp thời sẽ dẫn đến tử vong.

Với việc sử dụng các loại thực phẩm, đặc biệt là cá biển, hàm lượng metyl thủy ngân

được tích lũy lại trong cơ thể là tương đối cao. Với hàm lượng thủy ngân trong tóc là

50mg/kg, cơ thể con người đã bắt đầu có các dấu hiệu của bệnh tật. Khi hàm lượng

lên đến 300mg/kg, cuộc sống con người sẽ bị đe dọa.Với bà mẹ mang thai, thủy ngân

có thể gây ra tình trạng sẩy thai hoặc các khuyết tật thai nhi nguy hiểm khác về trí

tuệ, thính giác, thị giác…Những phụ nữ có thai, trẻ sơ sinh còn bú mẹ và các trẻ nhỏ

dễ bị nguy hiểm nhất, bởi vì một lượng lớn thủy ngân có thể gây hại cho não bộ đang

phát triển. Nếu bà mẹ dùng nhiều các loại cá biển (loại chứa hàm lượng thủy ngân

cao), thì sự phát triển não bộ của đứa bé có thể bị ảnh hưởng và thậm chí là thủy

ngân tích lũy sẽ gây biến chứng nặng về sau.

Phương pháp phòng tránh nhiễm độc thủy ngân

Cần có những qui định giới hạn chất thải chứa Hg ra mơi trường sống, kiểm sốt

ngưỡng cho phép tiếp xúc với các dạng khác nhau của Hg, để phòng chống ngộ độc

Hg trong mơi trường.

Những qui định hạn chế những sản phẩm chứa Hg dễ vỡ, các sản phẩm thuốc, phấn

trong thành phần có chứa Hg để hạn chế nguy cơ trẻ tiếp xúc với Hg.

Để phòng tránh trẻ nuốt phải Hg tại nhà, các bậc phụ huynh cẩn thận với nhiệt kế Hg:

không đặt trên bàn, kệ trong tầm nhìn, tầm tay của trẻ. Khơng cho trẻ chơi nghịch với

nhiệt kế. Khi đo nhiệt độ cho trẻ, luôn bên cạnh trẻ và quan sát trong suốt thời gian



đo, cho đến khi có kết quả nhiệt độ. Cất giữ nhiệt kế trong tủ cao có khóa hoặc chốt

cài cẩn thận.



2.



Đối với môi trường sinh thái



2.1



Hơi thủy ngân kim loại.

Thủy ngân ở dạng kim loại nguyên chất không độc nhưng dạng hơi và ion lại rất độc.

Thủy ngân là một chất độc đối với tế bào; tác động của nó rất phức tạp. Thủy ngân

gây thối hóa tổ chức, tạo thành các hợp chất protein rất dễ tan làm tê liệt chức năng

của các nhóm thiol (–SH), các hệ thống men cơ bản và oxi hóa–khử của tế bào. Hít,

thở khơng khí có nồng độ thủy ngân 1mg/m3 trong thời gian dài có thể bị nhiễm độc

(từ 1–3mg/m3 có thể gây viêm phổi cấp).

Người tiếp xúc lâu dài với nồng độ thủy ngân 0,1mg/m3 có nguy cơ nhiễm độc

với triệu chứng cổ điển như run ... Số liệu nghiên cứu khác cho thấy thủy ngân ở

nồng độ thấp, từ 0,06–0,1mg/m3, gây ra các triệu chứng như mất ngủ, ăn kém ngon.

Người tiếp xúc 8 giờ/ngày trong 225 ngày lao động/năm với nồng độ từ

0,1–0,2mg/m3có triệu chứng run, còn với nồng độ khoảng 0,05mg/m3 chưa

gây ra ảnh hưởng đáng kể.



-



-



2.2

Các hợp chất vô cơ của thủy ngân.

Trong công nghiệp thường gặp các hợp chất thủy ngân sau:

 Oxit thủy ngân đỏ (HgO) làm chất xúc tác trong công nghiệp pha sơn chống hà bám



ngoài tàu, thuyền đi biển...

 Clorua thủy ngân I (Hg2Cl2) còn gọi là Calomel hay thủy ngân đục, là bột trắng, không

mùi vị, làm thuốc tẩy giun (lãi) dưới dạng Santonin–calomel, có thể gây ngộ độc cho

người dùng.

 Clorua thủy ngân II (HgCl2) còn gọi là Sublimê ăn mòn, kết tinh trắng, là chất độc. Nó

có tác dụng ăn mòn và kích ứng. HgCl2 tác dụng với kim loại, có vị cay, làm săn da rất

dễ chịu.

 Clorua Hg là hợp chất vô cơ của thủy ngân thường gặp, có độc tính rất cao. Theo

Douris, độc tính của clorua thủy ngân qua đường miệng như sau:

- Từ 1g trở lên, một lần: gây nhiễm độc siêu cấp tính, tử vong nhanh.

- Từ 150–200mg, một lần: gây nhiễm độc cấp tính, thường tử vong.

- Từ 0,5–1,4mg, trong 24 giờ: gây nhiễm độc mãn tính.

- 0,007mg trong 24 giờ: có thể gây nhiễm độc cho người kém sức chịu đựng.

 Iôdua thủy ngân I (Hg2I2) là bột màu xanh lục.

 Nitrat thủy ngân II [(Hg(NO3)2.8H2O)] là chất lỏng, ăn da mạnh nên rất nguy hiểm khi



thao tác, được dùng trong y khoa để trị mụn nhọt, sử dụng trong công nghệ chế biến

lông làm mủ phớt (feutre).



 Xianua thủy ngân [(Hg(CN)2)]: là tinh thể, khan, không màu, mùi vị gây buồn nôn, rất



độc. Một người khỏe mạnh cho uống 0,13g xianua thủy ngân có thểchết sau 9 ngày

với các triệu chứng nhiễm độc thủy ngân.

 Sunfua thủy ngân: dùng làm bột màu.

 Fulminat thủy ngân [Hg(CNO)2]: được dùng trong cơng nghệ chế tạo thuốc nổ, dùng

làm hạt nổ, kíp nổ. Hơi khói từ ngòi nổ fulminat thủy ngân có thể gây nhiễm độc.

2.3

Một số hợp chất thủy ngân hữu cơ:

Các loại hợp chất thủy ngân hữu cơ dưới dạng dược phẩm được dùng trong y tế như:

 Neptal: thuốc lợi niệu.

 Mecurochrom: thuốc sát trùng, dùng ngoài da, nếu dùng bên trong vết thương có



thể bị nhiễm độc.

 Trước đây một số hợp chất thủy ngân hữu cơ cũng được dùng làm hóa chất trừ dịch

hại như trừ nấm (ví dụ: để xử lý nấm ở thóc giống trước khi gieo hạt...) nhưng vì các

hóa chất đó gây nhiễm độc cho người dùng và lưu tồn lâu dài trong môi trường tự

nhiên nên nay đã bị cấm sử dụng ở Việt Nam từ năm 1996. Nói chung, các hợp chất

hữu cơ thủy ngân có độc tính ít hơn ion thủy ngân và hợp chất thủy ngân vô cơ.

Chúng thường gây ra các rối loạn tiêu hóa, thận và thần kinh. Ví dụ: Hg(CH3)2 được

dùng trong nơng nghiệp. Theo Yoshino, metyl thủy ngân làm giảm sự tổng hợp

protein của tế bào thần kinh invitro trước khi xuất hiện các triệu chứng về thần kinh.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần: B ĐỘC HỌC THỦY NGÂN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×