Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan về ngành hạt điều Việt Nam:

Tổng quan về ngành hạt điều Việt Nam:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phân tích lợi thế cạnh tranh của hạt điều Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

so với hạt điều Ấn Độ

cây điều, ngay từ những năm 1980, Đảng và Nhà nước đã bước đầu có sự quan tâm

đến cây điều, đặc biệt là công nghệ chế biến điều xuất khẩu – tại Hội nghị ngoại

thương tổ chức tại tỉnh Sông Bé vào năm 1982, cố Thủ tướng Phạm Hùng đã chỉ đạo

cho ngành ngoại thương phải tổ chức chế biến và xuất khẩu hạt điều. Tuy nhiên thời

kỳ này Việt Nam chủ yếu là xuất khẩu hạt điều thô, giá trị kinh tế thấp, thường xuyên

bị ép giá ở nước ngoài.

Phải đến năm 1990 ngành điều Việt Nam mới thực sự khởi sắc. Ngày

29/11/1990 Bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Công Nghiệp Thực phẩm (nay là Bộ Nông

nghiệp và Phát triển Nơng thơn) đã có Quyết định số 346 /NN-TCCB/QĐ v/v thành

lập Hiệp hội cây điều Việt Nam với tên giao dịch bằng tiếng Anh: Vietnam Cashew

Association (VINACAS).

Năm 1992, tức là chỉ một năm sau khi khai thông biên giới Việt – Trung, hạt

điều Việt Nam đã có mặt tại thị trường đông dân nhất thế giới này. Ngày nay, Trung

Quốc luôn là thị trường lớn thứ 2 của hạt điều Việt Nam. Đặc biệt hơn là ngay từ khi

Việt Nam – Hoa Kỳ chưa bình thường hố quan hệ về mặt ngoại giao thì chúng ta đã

có những lô hàng xuất khẩu nhân điều xuất khẩu trực tiếp qua thị trường Hoa Kỳ – đó

là năm 1994.

Trong suốt 10 năm liền từ 1990 – 1999, cây điều Việt Nam từ chỗ chỉ có vài

chục ngàn ha với sản lượng mấy chục ngàn tấn, xuất khẩu nhỏ lẻ, thì năm 1999 Việt

Nam đã có sản lượng 100 ngàn tấn điều thô, sản lượng nhân xuất khẩu đạt 28 ngàn

tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 164 triệu USD. Công nghiệp chế biến điều phát triển

mạnh mẽ, sản lượng điều thô trong nước bắt đầu không đủ cung cấp cho công nghiệp

chế biến và xuất khẩu.

Do vậy mà năm 1996, Việt Nam chính thức ghi tên mình vào danh sách các

quốc gia nhập khẩu hạt điều thô từ châu Phi. Để động viên một ngành công nghiệp

non trẻ đang phát triển với tốc độ “nóng”, Nhà nước cần có định hướng phát triển.

Hiệp hội điều Việt Nam – Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nơng thơn đã trình Thủ

tướng Chính phủ đề án chiến lược phát triển ngành điều giai đoạn 10 năm từ 2000 –



7



Phân tích lợi thế cạnh tranh của hạt điều Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

so với hạt điều Ấn Độ

2010. Ngày 07/5/1999, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Quyết định số

120/1999/QĐ–TTg v/v: phê duyệt đề án phát triển ngành điều đến năm 2010.

Về chế biến: Công nghiệp chế biến hạt điều là sự kết hợp giữa thủ công và cơ

giới, trong đó hai cơng đoạn quan trọng là cắt tách vỏ hạt và bóc vỏ lụa nhân được làm

thủ cơng. Đầu tư cho một xưởng bóc tách khơng đòi hỏi nguồn vốn lớn, chỉ hơn một

trăm triệu đồng, nên dễ thu hút nhiều người bỏ vốn kinh doanh. Điều đó lý giải vì sao,

tuy ít nhận được sự trợ giúp từ phía Nhà nước, nhưng cơng nghiệp chế biến hạt điều

phát triển rất nhanh. Nếu năm 1990 cả nước chỉ có 19 nhà máy chế biến hạt điều có

cơng suất 14.000 tấn điều thơ thì nay cả nước có 219 cơ sở chế biến, với công suất

thiết kế 674.200 tấn/năm. 10 công ty, nhà máy chế biến được cấp giấy chứng nhận

chất lượng và quản lý chất lượng tiêu chuẩn quốc tế ISO, 7 doanh nghiệp đạt tiêu

chuẩn HACCP. Trước đó, ngành chế biến điều của Việt Nam chủ yếu là tách vỏ và vỏ

lụa bằng tay nên năng suất thấp, một số doanh nghiệp có máy tách hạt nhưng cũng có

tỷ lệ hao hụt cao. Nhưng từ giữa năm 2008, được sự hỗ trợ của VINACAS, máy bóc

và tách vỏ lụa đã được chế biến thành công với tỷ lệ sạch đến 87% và tỷ lệ hạt vỡ chỉ

chiếm 6-7%. Hiện ngành điều Việt Nam đang dẫn đầu về kỹ thuật chế biến so với các

đối thủ cạnh tranh như Ấn Độ và Brazil. Tuy vậy, việc chế biến hạt điều là sự kết hợp

giữa máy móc và lao động chân tay, nhưng hiện ngành đang thiếu lao động làm việc

nghiêm trọng. Đại bộ phận các cơ sở sản xuất điều của chúng ta ở mức vừa và nhỏ,

nhận gia công cho các doanh nghiệp xuất khẩu với quy mô lớn. Nhiều doanh nghiệp

nhỏ đã mạnh dạn đầu tư cơ cấu lại sản xuất, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư ở vùng sâu,

vùng xa để tận dụng lao động nông nhàn thế nhưng hiệu quả đạt được chưa cao.

Mặc dù gặp rất nhiều khó khăn, ngành điều Việt Nam vẫn kiên trì thực hiện các

mục tiêu đã đề ra. Diện tích cây điều được giữ vững, nhiều vùng, nhiều hộ nơng dân

trồng điều khơng những xố được đói, giảm được nghèo mà còn khá hơn từ trồng

điều. Cơng nghiệp chế biến dần hồn thiện, ngày càng đi vào cơng nghiệp hố, thân

thiện với mơi trường hơn, chất lượng sản phẩm được nâng cao, vệ sinh an toàn thực

phẩm được đảm bảo.

Cho đến nay, ngành điều vẫn không ngừng phát triển và tăng trưởng mạnh qua

các năm. Có được thành tựu ngành hôm nay, ngành điều không thể không ghi nhận

8



Phân tích lợi thế cạnh tranh của hạt điều Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

so với hạt điều Ấn Độ

cơng sức đóng góp của những người nơng dân trồng điều đã một nắng hai sương

trồng, chăm sóc, tạo tán, tỉa cành cho cây điều phát triển. Ngành điều cũng khơng thể

khơng ghi nhận cơng sức, đóng góp của các nhà khoa học, những kỹ sư nông học đang

ngày đêm tạo ra từng dòng giống mới cho năng suất chất lượng hạt ngày càng cao.

Thành cơng đó cũng có cơng sức đóng góp khơng nhỏ của những người cơng nhân

chế biến điều; mặc dù cuộc sống còn mn vàn khó khăn nhưng họ vẫn ln bám

máy, lao động sáng tạo giúp cho ngành điều ngày càng phát triển. Đó còn là cơng sức

lao động trí tuệ của tầng lớp doanh nhân Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực xuất khẩu

hạt điều. Họ đã góp cơng khơng nhỏ đưa những hạt điều nhỏ bé xinh xinh của Việt

Nam xuất khẩu đến 26 quốc gia và vùng lãnh thổ khắp thế giới.

2. Tình hình xuất khẩu hạt điều Việt Nam sang thị trường Mỹ:

2.1. Tình hình xuất khẩu chung:

Hiện nay, Việt Nam đã trở thành nước có kim ngạch xuất khẩu điều nhân số 1,

chế biến đứng thứ 2 và đứng thứ 3 thế giới về năng suất và sản lượng.

Sau 28 năm tham gia xuất khẩu (1988-2016), ngành điều Việt Nam không ngừng phát

triển lớn mạnh, chiếm lĩnh thị trường thế giới. Đặc biệt, từ năm 2006 đến nay Việt

Nam luôn giữ vững vị thế là quốc gia xuất khẩu nhân điều lớn nhất thế giới.

Năm 2007 ngành điều vẫn tiếp tục phát triển với nhịp độ tăng trưởng rất cao 25%, cao

hơn mức tăng trưởng bình quân của ngành Nơng nghiệp với thành tích:

– Sản lượng điều thơ trong nước: 350.000 tấn

– Nhập khẩu: 200.000 tấn

– Sản lượng chế biến: 550.000 tấn

– Sản lượng nhân xuất khẩu: khoảng 152.000 tấn

– Kim ngạch xuất khẩu: khoảng 650 triệu USD. Trong đó xuất khẩu sang Hoa Kỳ đạt

trên 36%; Trung Quốc 18%; Liên Minh châu Âu (EU) trên 20%…

Từ năm 2009 đến 2012, toàn ngành điều xuất khẩu khoảng 750.000 tấn nhân

điều các loại và 110.000 tấn dầu vỏ hạt điều. Trong đó sản lượng xuất khẩu tăng dần

qua các năm. Năm 2012, xuất khẩu ước khoảng 220.000 tấn, trong khi 2011 là

9



Phân tích lợi thế cạnh tranh của hạt điều Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường Mỹ

so với hạt điều Ấn Độ

166.000 tấn. Kim ngạch xuất khẩu riêng sản phẩm nhân điều trong 4 năm đạt kỷ lục

với giá trị hơn 4,6 tỷ USD. Trong đó năm 2012 ước đạt 1,45 tỷ USD. Như vậy, trong

vòng 7 năm liên tục, từ 2006 đến 2012, Việt Nam đã trở thành quốc gia xuất khẩu điều

nhân lớn nhất thế giới, vượt cả Ấn Độ và Brazil.

Từ năm 2013 đến nay, xuất khẩu hạt điều của Việt Nam sang các nước tăng cả

về lượng và giá trị. Mỗi năm, Việt Nam xuất khẩu khoảng gần 300 nghìn tấn, thu về

trên 1 tỷ USD. Riêng năm 2017, Việt Nam xuất khẩu 353,27 nghìn tấn, ứng với 3,52

tỷ USD, tăng 1,89% về lượng và 23,77% về giá trị, giá xuất bình quân tăng 21,47% so

với năm 2016. Theo báo cáo của Hiệp hội điều Việt Nam (VINACAS), năm 2017 các

doanh nghiệp ngành điều Việt Nam chế biến xuất khẩu được 350.000 tấn điều nhân

các loại, với kim ngạch xuất khẩu trên 3 tỷ USD; trong đó xuất khẩu điều nhân đạt

khoảng 2,85 tỷ USD, còn lại là các sản phẩm phụ của điều. Ngành điều Việt Nam tiếp

tục duy trì thị phần trên 50% tổng giá trị thương mại nhân điều toàn cầu (khoảng 5,5

tỷ USD).



10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan về ngành hạt điều Việt Nam:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×