Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nghiên cứu cơ sở lý luận về phổ biến, giáo dục pháp luật là phân tích, làm

rõ các khái niệm, phạm trù: Bản chất, mục đích, vai trò của phổ biến, giáo dục

pháp luật; chủ thể, khách thể, đối tượng của phổ biến, giáo dục pháp luật và

đánh giá hiệu quả phổ biến, giáo dục pháp luật, từ đó rút ra các quan điểm hợp

lý nhằm định hướng cho hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật trong thực tiễn.

1.2. Bản chất, mục đích và nội dung của phổ biến, giáo dục pháp luật

Bất cứ ngành khoa học nào cũng cần có hệ thống khái niệm riêng của nó,

đó là một hình thức của tư duy dùng để phản ánh những đặc trưng chung, chủ

yếu của các sự vật, hiện tượng mà ngành khoa học đó nghiên cứu. Vì vậy, xây

dựng khoa học phổ biến, giáo dục pháp luật không thể không chú ý xây dựng hệ

thống khái niệm khoa học của nó, khơng thể khơng ln ln bổ sung và điều

chỉnh để làm cho các khái niệm đó phản ánh đúng đắn, đầy đủ và hoàn thiện

những nhận thức mới của khoa học phổ biến, giáo dục pháp luật, về thực tiễn

hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật hiện nay. Nghiên cứu lý luận phổ biến,

giáo dục pháp luật cần làm rõ các vấn đề cơ bản: Bản chất, nội dung, mục đích

của phổ biến, giáo dục pháp luật thuộc vào việc xác định đúng đắn các vấn đề cơ

bản đó.

1.2.1. Bản chất của phổ biến, giáo dục pháp luật

Để làm rõ bản chất của phổ biến, giáo dục pháp luật cần phải phân biệt

các khái niệm phổ biến và giáo dục pháp luật. Trong thực tế không ít người có

quan niệm đồng nhất giữa tuyên truyền, phổ biến và giáo dục pháp luật. Thực

chất, xét về mặt lý luận, đây là những khái niệm khác nhau về mặt nội dung.

Gắn liền với các khái niệm phổ biến và giáo dục pháp luật là khái niệm

thông tin pháp luật. Thông tin pháp luật là nguồn nội dung cho hoạt động phổ

biến, giáo dục pháp luật. Phổ biến, giáo dục pháp luật là hoạt động truyền tải các

thông tin pháp luật tới mọi thành viên trong xã hội, đến các đối tượng khác nhau

bằng các hình thức, phương tiện thích hợp.

Tun truyền pháp luật khơng giới hạn về phạm vi thông tin và đối tượng

tiếp nhận thông tin. Thông tin trong tun truyền pháp luật là những thơng tin

tồn diện và chung nhất về những vấn đề pháp luật, trước hết là hệ thống pháp

luật hiện hành. Đây là điểm khác với phổ biến, giáo dục pháp luật.

Phổ biến pháp luật là sự truyền tải những thông tin cụ thể của pháp luật

đến mọi loại đối tượng nhất định nhằm đạt được mục đích cụ thể. Nếu đối tượng

của tuyên truyền pháp luật là chung nhất và nhu cầu về thông tin pháp luật đối

với người nghe không xác định một cách cụ thể mà hành động của họ liên quan

trực tiếp đến sự điều chỉnh hành vi của mình.

Khác với hai khái niệm trên, giáo dục pháp luật là sự truyền tải những

thông tin pháp luật theo mục đích chung, nhằm nâng cao ý thức pháp luật để từ

đó hình thành lối sống tn thủ pháp luật đối với các thành viên trong xã hội.

Giáo dục pháp luật nhằm mục đích trang bị cho cơng dân những kiến thức pháp

luật, hình thành ở họ phong cách sống và làm việc theo pháp luật. Giáo dục pháp

luật chính là quá trình phát triển nhận thức pháp luật theo các nấc thang tạo lập ý

5



thức, trang bị kiến thức để nâng cao sự hiểu biết pháp luật, từ đó khẳng định

hành vi xử sự của bản thân.

Như vậy cả cụm từ “phổ biến, giáo dục pháp luật” ở đây được hiểu là việc

truyền bá pháp luật cho đối tượng nhằm nâng cao tri thức, tình cảm, niềm tin

pháp luật cho đối tượng từ đó nâng cao ý thức pháp luật, nghiêm chỉnh chấp

hành pháp luật của đối tượng.

1.2.2. Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật

Mục đích của phổ biến, giáo dục pháp luật là một trong những yếu tố tạo

nên cấu trúc bên trong của giáo dục pháp luật, là đặc trưng đầu tiên và quan

trọng nhất để phân biệt nó với các dạng giáo dục khác. Mục đích xã hội cần đạt

được trong q trình phổ biến, giáo dục pháp luật phải đáp ứng các yêu cầu của

xã hội, ở từng giai đoạn trong các điều kiện lịch sử cụ thể. Việc xác định đúng

đắn mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật bởi vì các phạm trù nội dung, hình

thức, phương pháp của phổ biến, giáo dục pháp luật phần lớn phụ thuộc vào việc

xác định các mục đích xã hội đã được đặt ra trước q trình giáo dục. Mục đích

của phổ biến, giáo dục pháp luật còn giúp cho việc xác định hiệu quả của phổ

biến, giáo dục pháp luật. Kết quả đạt được bao giờ cũng được đánh giá so với

mục đích đề ra để xác định được chỉ số hiệu quả của công tác này.

Với ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt của mục đích phổ biến, giáo dục

pháp luật, vấn đề đặt ra là không thể coi nhẹ việc xác định mục đích xã hội của

hoạt động này, cần xác định mục đích phù hợp với thực tiễn và đáp ứng các nhu

cầu của xã hội trong từng thời kỳ để góp phần nâng cao hiệu quả phổ biến, giáo

dục pháp luật ở nước ta. Mục đích phổ biến, giáo dục pháp luật phải nhằm trang

bị, cung cấp, bồi dưỡng và nâng cao tri thức pháp luật, xuất phát từ đòi hỏi của

các đối tượng giáo dục khác nhau, phù hợp với các điều kiện và hoàn cảnh cụ

thể, đồng thời phải nhằm hình thành lòng tin vào pháp luật của cơng dân xây

dựng thói quen suy nghĩ và xử sự theo những đòi hỏi của pháp luật ở cơng dân.

Khi tiến hành tìm kiếm, xác định mục đích của phổ biến, giáo dục pháp

luật cần phân biệt giữa mục đích trước mắt và mục đích lâu dài, mục đích có

tính tổng qt, chiến lược và mục đích giáo dục pháp luật cụ thể.

Mục đích tổng quát, chiến lược của phổ biến, giáo dục pháp luật là nhằm

góp phần hình thành và nâng cao văn hóa pháp lý của từng cá nhân trong toàn xã

hội. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, phổ biến, giáo dục pháp luật có mục

đích cụ thể như sau:

- Thứ nhất, Mục đích hình thành, làm sâu sắc và từng bước mở rộng hệ

thống tri thức pháp luật cho cơng dân

Mục đích nhận thức bao gồm tri thức về các quy phạm pháp luật, những

quan niệm và cách đánh giá về mặt pháp lý các sự kiện xã hội. Đây được xem là

mục đích hàng đầu vì sự am hiểu pháp luật, nhận thức đúng đắn về vai trò và giá

trị xã hội của pháp luật là điều kiện cần thiết đảm bảo sự phát triển ý thức pháp

luật, tư duy pháp lý và hình thành tình cảm lòng tin thái độ tích cực đối với pháp

luật ở mọi cơng dân. Có tri thức pháp luật sẽ giúp cho mỗi cơng dân có khả năng

6



tự đánh giá, phê phán, đối chiếu hành vi của mình đối với các chuẩn mực pháp

luật để từ đó tổ chức một cách ý thức các hành vi xử sự.

Tuy nhiên, sự am hiểu tri thức pháp luật không phải là sự am hiểu đơn

giản một vài quy phạm pháp luật nào đó mà sự am hiểu có hệ thống về pháp

luật, nhận thức thấu đáo về nội dung pháp luật, về giá trị xã hội và vai trò của

pháp luật, biết đánh giá các sự kiện pháp luật để hành động một cách hợp pháp.

Mục đích nhận thức trong mối quan hệ với các mục đích khác của phổ

biến, giáo dục pháp luật là mục đích đầu tiên, là tiền đề và cơ sở cho sự phát

triển các mục đích khác. Thơng qua mục đích nhận thức để nhận biết, đánh giá

và nhìn nhận các mục đích khác. Do đó, từ đại hội Đảng tồn quốc lần thứ IV

đến nay của Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng việc tạo điều kiện đề quyền làm

chủ của dân phải được thực hiện và không ngừng nâng cao gắn liền với quá trình

phát triển kinh tế - xã hội, mở mang dân trí, hiểu biết pháp luật.

- Thứ hai, Mục đích hình thành lòng tin pháp luật

Đây là mục đích có ý nghĩa rất quan trọng. Mục đích cảm xúc phụ thuộc

vào trình độ dân trí pháp luật, về sự am hiểu các quy phạm, các nguyên tắc pháp

lý, đánh giá các sự kiện pháp lý… Tri thức pháp lý càng đầy đủ thì tình cảm

pháp luật càng mạnh mẽ. Tình cảm pháp luật được ni dưỡng trên cơ sở các

khái niệm, quan niệm, các phạm trù về pháp luật, thiếu những điều đó khơng tồn

tại cảm xúc pháp luật. Tuy nhiên, có tri thức pháp luật mà thiếu tình cảm tơn

trọng đối với pháp luật thì khơng dự đốn và đảm bảo hành vi hợp pháp vì lợi

ích cá nhân. Các nhà tâm lý học đã chỉ ra rằng, con người nếu thiếu lòng tin thì

hành vi của họ thường lệch khỏi các chuẩn mực xã hội. Thực tiễn thực hiện pháp

luật đã cho thấy sự đúng đắn của luận điểm này.

Trong đa số sách báo nghiên cứu pháp lý phân tích về nội hàm của giáo

dục cảm xúc pháp luật đã kết luận mục đích của giáo dục cảm xúc pháp luật chỉ

đạt được qua việc giáo dục tình cảm cơng bằng, tình cảm trách nhiệm, tình cảm

khơng khoan nhượng và tình cảm pháp chế. Tất cả các tình cảm này quan hệ với

nhau và phụ thuộc vào nhau.

+ Giáo dục tình cảm cơng bằng: Là giáo dục cho công dân biết đánh giá

các quy phạm pháp luật, nhận thức được chuẩn mực pháp luật để đánh giá về

tính cơng bằng của pháp luật, từ đó tổ chức hành vi xử sự hợp lý, hợp pháp đối

với người khác và với chính mình theo các quy định pháp luật.

+ Giáo dục tình cảm trách nhiệm: Để người được giáo dục ý thức về

nghĩa vụ pháp lý cơ bản của chính mình, tận tâm thực hiện các quy định của

pháp luật, các nghĩa vụ pháp lý trong mối quan hệ pháp lý với các công dân

khác.

+ Giáo dục tình cảm khơng khoan nhượng ở mọi cơng dân đối với những

hành vi vi phạm pháp luật: Giáo dục ý thức pháp luật không thể khoan dung đối

với những biểu hiện chống đối pháp luật. Giáo dục tình cảm khơng khoan

nhượng ở cơng dân đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi tích

cực trong cuộc đấu tranh phòng chống tiêu cực.

7



+ Giáo dục tình cảm pháp chế: Là giáo dục nhằm hình thành ý thức tuân

thủ pháp luật của công dân ở mọi nơi, mọi lúc, phê phán, lên án những biểu hiện

coi thường pháp luật, các hành vi phạm pháp, cũng như đồng tình ủng hộ và tích

cực tham gia bảo vệ sự nghiêm minh của pháp luật. Người được giáo dục phải

hình thành ý thức rằng mọi quyết định của mình phải dựa vào cơ sở của pháp

luật.

Sự hình thành lòng tin vững chắc của công dân vào sự cần thiết tuân theo

những quy phạm pháp luật phụ thuộc vào sự tác động định hướng của quá trình

giáo dục các tình cảm trên vào sự am hiểu tri thức pháp luật.

- Thứ ba, mục đích hình thành động cơ hành vi và thói quen xử sự hợp

pháp tích cực (gọi là mục đích hành vi)

Kết quả cuối cùng của phổ biến, giáo dục pháp luật thể hiện ở hành vi xử

sự theo pháp luật của con người. Mục đích nhận thức, mục đích cảm xúc của

quá trình phổ biến, giáo dục pháp luật là để phục vụ cho mục đích hình thành

động cơ, hành vi, thói quen xử sự hợp pháp, tích cực của cơng dân. Thói quen

xử sự của cơng dân phải là thói quen xử sự hợp pháp, thói quen tuân thủ các quy

phạm pháp luật, thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý

cũng như việc sử dụng tri thức pháp luật và các quy phạm pháp luật cụ thể để

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác, của nhà nước và

của xã hội.

1.3. Một số hình thức tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật chủ

yếu

+ Tuyên truyền miệng trong phổ biến, giáo dục pháp luật

Tuyên truyền miệng về pháp luật là một hình thức tuyên truyền trong phổ

biến giáo dục pháp luật mà người nói trực tiếp với người nghe về lĩnh vực pháp

luật đó chủ yếu là phổ biến, giới thiệu các quy định pháp luật nhằm nâng cao

nhận thức pháp luật cho người nghe hành động theo các chuẩn mực.

Trong hệ thống các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

thì hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật truyền miệng được coi là

bộ phận quan trọng. Bởi lẽ, tuyên truyền miệng có mối quan hệ gắn bó mật thiết

với tất cả các hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thường

được tiến hành lồng ghép với các hình thức đó. Sự gắn kết này dường như là

một điều tất yếu không thể thiếu được khi thực hiện các hoạt động tuyên truyền,

phổ biến giáo dục pháp luật khác.

Đối tượng của hình thức tuyên truyền miệng rất đa dạng đủ mọi thành

phần trong xã hội cán bộ, tri thức, công nhân, nông dân, sinh viên, phụ nữ,

người cao tuổi, thanh thiếu niên, học sinh,… Từ đó có thể nhận thấy rằng đối

tượng của hình thức tun truyền miệng có thể là bất kỳ ai trong xã hội đang cần

được tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật.

Nhằm thực hiện hình thức tuyên truyền miệng phổ biến giáo dục pháp luật

có hiệu quả thì cần phải hồn thiện các kỹ năng như gây thiện cảm đối với người

8



được tuyên truyền, tạo sự hấp dẫn, ấn tượng trong khi nói, bảo đảm các nguyên

tắc nhất định và phải sử dụng phương pháp thuyết phục như chứng minh, diễn

giải, phân tích,…

+ Phổ biến giáo dục pháp luật qua báo chí

Tuyên truyền pháp luật qua báo chí là hình thức tun truyền các nội dung

pháp luật liên quan thông qua các phương tiện thông tin đại chúng là báo chí với

nhiều hình thức thể hiện phong phú: báo in (tạp chí, bản tin thời sự), báo nói

(chương trình phát thanh), báo hình (chương trình truyền hình, chương trình

nghe – nhìn thời sự được thực hiện bằng các phương tiện kỹ thuật khác nhau),

báo điện tử (được thực hiện trên mạng thơng tin máy tính) bằng tiếng Việt, tiếng

các dân tộc thiểu số ở Việt Nam.

+ Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh

cơ sở

Tuyên truyền pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở là hình thức

tuyên truyền các nội dung pháp luật liên quan thông qua các phương tiện thơng

tin đại chúng ở địa phương.

So với hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật qua báo chí thì hình thức

phổ biến, giáo dục pháp luật qua mạng lưới truyền thanh cơ sở có đối tượng và

phạm vi tác động hẹp hơn, được xác định cụ thể hơn trong phạm vi một xã,

phường, thị trấn hay một tổ dân phố, một thơn.

Tuy nhiên, so với các hình thức tun truyền phổ biến giáo dục pháp luật

khác thì hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua mạng lưới truyền

thanh cơ sở có những lợi thế như: Có khả năng truyền tin nhanh, kịp thời gian,

gần gủi, thân thiết với người dân ở cơ sở. Hoàn toàn chủ động về thời gian, chủ

động về việc lựa chọn nội dung, có khả năng tác động tới nhiều đối tượng trong

cùng một thời gian, phạm vi tác động rộng, có thể thực hiện phát thanh được

nhiều lần, tiết kiệm được thời gian, cơng sức và tiền của vì khơng phải tập trung

dân tại một địa điểm tập trung để phổ biến pháp luật.

+ Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật qua mạng Internet

Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật trên mạng Internet là hình thức

tuyên truyền hiện đại nhằm truyền tải những thông tin, yêu cầu, nội dung các

quy định pháp luật kịp thời, tiết kiệm thời gian, công sức cho việc tự tìm hiểu.

Tuyên truyền pháp luật trên mạng Internet là một hình thức phổ biến giáo

dục pháp luật có hiệu quả trong thời đại bùng nổ cơng nghệ thông tin hiện nay.

+ Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thơng qua các cuộc thi tìm

hiểu pháp luật

Thi tìm hiểu pháp luật là hình thức thi do các cơ quan Nhà nước, các tổ

chức, các doanh nghiệp tổ chức nhằm động viên, khuyến khích đối tượng tìm

đọc, nâng cao hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ chuyên mơn, nghiệp vụ của

đối tượng và nâng cao dân trí pháp lý. Thi tìm hiểu pháp luật là một trong các

hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, là cầu nối truyền tải những

9



nội dung pháp luật vào cuộc sống, là hình thức sinh hoạt văn hóa pháp lý có sức

hấp dẫn và hiệu quả.

Thi tìm hiểu pháp luât là một trong những hình thức tuyên truyền, phổ

biến giáo dục pháp luật hấp dẫn, có hiệu quả cao, được sử dụng nhiều. Ưu thế

của tuyên truyền qua các cuộc thi tìm hiểu pháp luật là dễ dàng mở rộng được

phạm vi đối tượng tuyên truyền (bao gồm cả người dự thi và người theo dõi

cuộc thi), đáp ứng được yêu cầu phổ cập pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân,

phát huy được tính tích cực, chủ động của đối tượng dự thi và giúp họ nhận thức

sâu sắc hơn nội dung pháp luật cần tìm hiểu, từ đó nâng cao ý thức pháp luật cho

họ. Một lợi thế khác của thi tìm hiểu pháp luật là có thể sử dụng được nhiều loại

phương tiện thông tin đại chúng, bằng nhiều hình thức khác nhau và do đó có

thể tổ chức được ở nhiều nơi, nhiều lúc, với phạm vi, mức độ khác nhau tùy theo

yêu cầu và tình hình đặc điểm cụ thể.

Thơng qua các hình thức thi, những nội dung pháp luật được truyền tải

đến các đối tượng một cách đơn giản, ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ hơn, sinh động

hơn, tránh được sự cứng nhắc, khô khan, đối tượng tiếp nhận các kiến thức pháp

luật một cách thoải mái và hoàn toàn chủ động, hiểu biết về pháp luật và khả

năng áp dụng của đối tượng được nâng cao hơn.

+ Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thông qua hệ thống tủ sách

pháp luật

Tủ sách pháp luật là một loại tài liệu phổ biến pháp luật thơng qua văn

hóa đọc của người đọc sách là hình thức tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp

luật đặc thù. Đặc trưng của hình thức này là truyền bá những nội dung, kiến thức

pháp luật thiết yếu trong đời sống cho mọi người thông qua việc đọc sách.

Người dân có thể chủ động tìm hiểu, nghiên cứu sách pháp luật qua việc đọc

sách, nghiên cứu sách pháp luật để đáp ứng các nhu cầu của bản thân.

Tuy nhiên hình thức này cũng có một số nhược điểm như: hiệu quả của

việc phổ biến, giáo dục pháp luật qua hệ thống sách phụ thuộc và liên hệ chặt

chẽ với chất lượng biên soạn, kiến thức người dân thông qua việc đọc sách,

nghiên cứu phụ thuộc vào trình độ dân trí của người dân, trong khi trình độ dân

trí trên địa bàn khá thấp nên hiệu quả từ hoạt động này không hiệu quả, phổ biến

pháp luật qua sách phụ thuộc vào tính chủ động của người đọc, sở thích, nhu

cầu.

+ Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thông qua Câu lạc bộ pháp

luật

Câu lạc bộ pháp luật được thành lập và hoạt động trên tinh thần tự nguyện

tham gia của những người có nhu cầu tìm hiểu pháp luật, tích cực đấu tranh bảo

vệ pháp luật, nhiệt tình tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thông qua các

hoạt động sinh hoạt của Câu lạc bộ pháp luật nhằm góp phần nâng cao hiểu biết

pháp luật, gây dựng lòng tin đối với pháp luật, nâng cao ý thức tơn trọng và chấp

hành pháp luật, hình thành thói quen sống và làm việc theo pháp luật của các hội

viên nói riêng và tồn thể nhân dân nói chung.

10



+ Tun truyền phổ biến giáo dục pháp luật qua hoạt động trợ giúp pháp



Trợ giúp pháp lý được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho

người được trợ giúp pháp lý theo quy định của pháp luật, giúp người được trợ

giúp pháp lý bảo vệ quyền, lợi ích hơp pháp của mình, nâng cao hiểu biết pháp

luật, ý thức tơn trọng và chấp hành pháp luật, góp phần vào việc phổ biến giáo

dục pháp luật, bảo vệ cơng lý, bảo đảm cơng bằng xã hội, phòng ngừa, hạn chế

tranh chấp và vi phạm pháp luật.

Hoạt động trợ giúp pháp lý có quan hệ mật thiết với hoạt động phổ biến,

giáo dục pháp luật. Tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý ngoài nhiệm vụ thực hiện

trợ giúp pháp lý miễn phí cho người nghèo, người có cơng với cách mạng, đồng

bào dân tộc thiểu số còn tham gia phổ biến, giáo dục pháp luật cho các đối tượng

này.

Thông qua hoạt động trợ giúp pháp lý dưới các hình thức cơ bản như: tư

vấn pháp luật, tham gia tranh tụng, sinh hoạt Câu lạc bộ trợ giúp pháp lý,…

người thực hiện trợ giúp pháp lý sẽ tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật cho

người được trợ giúp pháp lý.

+ Phổ biến giáo dục pháp luật qua hoạt động hòa giải ở cơ sở

Phổ biến, giáo dục pháp luật thơng qua hoạt động hòa giải ở cơ sở là việc

các tổ viên tổ hòa giải bằng hoạt động hòa giải của mình cung cấp các kiến thức

pháp luật, bồi dưỡng tình cảm pháp luật cho các bên tranh chấp và những người

khác trong cộng đồng dân cư nhằm mục đích hình thành ở họ sự hiểu biết pháp

luật, ý thức tơn trọng pháp luật và thói quen hành động theo pháp luật.

Như vậy, trong khi tiến hành hòa giải các bên tranh chấp. Hòa giải viên có

rất nhiều cơ hội để lồng ghép việc phổ biến, giáo dục pháp luật, nhấn mạnh

những quy định mấu chốt của pháp luật nếu các bên tranh chấp nghiêm chỉnh

trong việc ứng xử của mình thì sẽ tránh được tranh chấp xãy ra. Đồng thời, qua

đó các bên trạnh chấp và những người có liên quan có thể nâng cao được hiểu

biết pháp luật và ý thức tôn trọng pháp luật từ đó hạn chế những vi pham pháp

luật và tranh chấp nhỏ xãy ra.

+ Tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật qua hoạt động xét xử của tòa

án nhân dân

Trong hoạt động tư pháp, xét xử được coi là khâu trung tâm có vai trò

quyết định, bởi hoạt động xét xử bao giờ cũng gắn liền với việc Tòa án nhân

danh nhà nước ra một quyết định hoặc bản án bảo vệ lợi ích Nhà nước, tổ chức

xã hội, quyền và lợi ích của cơng dân, giáo dục cơng dân tn thủ pháp luật. Tòa

án có thể thực hiện việc giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức, nhưng tập

trung và quan trọng nhất vẫn là phổ biến, giáo dục pháp luật thông qua hoạt

động xét xử.

Trên thực tế trong thời gian qua cho thấy, sự coi nhẹ và thiếu năng động

trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là mơt trong những ngun nhân dẫn

11



đến tình trạnh hiểu biết pháp luật và ý thức pháp luật của cán bộ, cơng chức và

nhân dân còn thấp, “pháp luật và kỷ cương của Nhà nước bị vi phạm ngày càng

phổ biến”. Điều đó đặt ra cho chúng ta sự cần thiết phải nhận thức ý nghĩa mang

tầm chiến lược của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong suốt cả quá trình

xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân. Nó là một bộ phận đặc

biệt quan trọng trong chiến lược con người của Đảng và Nhà nước ta trong giai

đoạn hiện nay.

1.4. Cơ sở chính trị, pháp lý

1.4.1. Cơ sở chính trị

- Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương Đảng

về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật,

nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân

- Kết luận số 04-KL/TW ngày 19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương

Đảng về kết quả thực hiện chỉ thị số 32-CT/TW, ngày 09/12/2003 của ban bí thư

Trung ương Đảng (khố IX) về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác

phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ,

nhân dân

1.4.2. Cơ sở pháp lý

- Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật năm 2012;

- Nghị định 28/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều

và biện pháp thi hành Luật Phổ biến, giáo dục pháp luật;

- Quyết định 06/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc xây

dựng, quản lý, khai thác Tủ sách pháp luật;

- Quyết định 09/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy

định về chuẩn tiếp cận pháp luật của người dân tại cơ sở;

- Quyết định 27/2013/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về

thành phần và nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục

pháp luật;

- Quyết định số 705/2017/ QĐ-TTg ngày 25/5/2017 của Thủ Tướng

Chỉnh phủ ban hành chương trình phổ biến giáo dục pháp luật giai đoạn 20172021;

- Thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 17-CT/TU ngày 06/4/2018 của Ban

Thường vụ Tỉnh ủy Quảng Trị yêu cầu các cấp ủy, chính quyền, ban, ngành, Mặt

trận Tổ quốc, các đồn thể chính trị- xã hội tiếp tục tổ chức quán triệt và thực

hiện Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 19/12/2003, Kết luận số 04-KL/TW ngày

19/4/2011 của Ban Bí thư Trung ương Đảng; Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày

25/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Chương trình phổ biến, giáo dục

pháp luật giai đoạn 2017-2021.

Chương 2. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC

PHÁP LUẬT CHO CÁN BỘ, CÔNG CHỨC VÀ NHÂN DÂN TRÊN ĐỊA

BÀN XÃ A VAO

12



2. Thực trạng công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cho cán bộ, công

chức và nhân dân trên địa bàn xã A Vao

2.1. Một số đặc điểm của xã A Vao

* Vị trí địa lý

Ủy ban nhân dân xã A Vao là một xã thuộc huyện Đakrông, tỉnh Quảng

Trị. Là một xã biên giới nghèo nhất của huyện Đakrơng cách xa trung tâm huyện

khoảng 70km, có diện tích 7.712,7 ha, dân số 3.049 nghìn dân với 603 hộ, chủ

yếu là dân tộc Tà - Ôi (Pa Cô), Vân Kiều, Kinh. Điều kiện kinh tế của nhân dân

gặp nhiều khó khăn do địa hình đồi núi, đất đai bạc màu, dân cư không tập

trung, đường xá đi lại khó khăn nên khó khăn trong giao dịch hàng hóa.

- Phía Đơng giáp xã Tà Rụt.

- Phía Bắc giáp xã Tà Long.

- Phía Tây giáp Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào.

- Phía Nam giáp xã A Ngo.

*Cơ sở vật chất

Trong những năm vừa qua được Đảng và Nhà nước quan tâm đầu tư, xây

dựng cho xã có đầy đủ phương tiện, phòng làm việc. Đã kiên cố hố trụ sở làm

việc, khuôn viên khang trang, sạch đẹp. Trang thiết bị làm việc tương đối đầy đủ

phục vụ tốt cho công tác, hoạt động của cán bộ, công chức xã.

* Đội ngũ cán bộ, công chức, bán chuyên trách, cán bộ tăng cường xã:

Tổng số 41 đồng chí.

- Lãnh đạo chủ chốt gồm có 6 đồng chí, 1 đồng chí Biên phòng tăng

cường.

- Cán bộ, cơng chức gồm có: 15 đồng chí.

- Bán chuyên trách gồm: 13 đồng chí.

- Cán bộ tăng cường và đề án gồm: 6 đồng chí.

Cán bộ, cơng chức người trên địa bàn xã 17 đồng chí. Cán bộ, cơng chức

về cơng tác tại xã 4 đồng chí. Trình độ đại học 12 đồng chí đạt 57.1%, cao đẳng

1 đồng chí đạt 4.8%, trung cấp 6 đồng chí đạt 28.5%, sơ cấp 1 đồng chí, chưa

qua đào tạo 1 đồng chí.

* Tình hình kình tế - xã hội trên địa bàn xã

Xã A Vao là một xã biên giới của huyện Đakrông, là một xã nghèo nhất

của huyện với 396 hộ nghèo (chiếm 65,6%) và 37 hộ cận nghèo (chiếm 6,1%),

đời sống của người dân trên địa bàn còn gặp nhiều khó khăn, thu nhập chính của

người dân chủ yếu dựa vào cây ngơ, sắn, tràm nên khá bấp bênh, khơng được ổn

định, trình độ dân trí còn thấp, trong những năm qua do điện, đường, cơ sở hạ

tầng còn chưa đầy đủ nên người dân chưa được tiếp cận với các tiến bộ của xã

hội. Nhưng trong những năm trở lại đây được sự quan tâm của Đảng và Nhà

13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỔ BIẾN, GIÁO DỤC PHÁP LUẬT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×