Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nguyên lý: Dựa vào tỷ trọng của nước muối bão hồ lớn hơn tỷ trọng của

nỗn nang cầu trùng làm cho noãn nang cầu trùng nổi lên trên bề mặt của

dung dịch nước muối bão hoà.

Cách pha nước muối bão hoà (1000ml): cho 1000ml nước sạch và lượng

muối nhất định vào nồi, tiến hành đun sôi nước và muối trong nồi. Trong q

trình đun ln kiểm tra và bổ sung muối khi chúng tan hết. Đến khi nào muối

không tan được nữa là được.

Cách tiến hành: Cân hoặc ước lượng 3g đến 5g mẫu phân cần chẩn đoán

cho vào cốc thủy tinh số 1. Thêm 5 ml nước muối bão hòa, dùng đũa thủy tinh

đánh tan mẫu phân và nước muối bão hòa thành một huyễn dịch. Lọc huyễn

dịch qua hệ thống phin lọc sang cốc thủy tinh số 2. Tiếp tục dùng 5ml dung

dịch muối bão hòa tráng qua hệ thống phin lọc để noãn nang rơi xuống hết.

Dung pipett Pasteur hút huyễn dịch đã lọc, cho đầy vào lọ thủy tinh có miệng

nhỏ và bằng để nỗn nang nổi lên. Đậy phiến kính hoặc lammen lên miệng lọ,

để yên từ 5 đến 7 phút. Nhắc nhanh phiến kính hoặc lammen ra, đưa lên kính

hiển vi kiểm tra độ phóng đại 10 lần để tìm nỗn nang cầu trùng.

Khi phát hiện nỗn nang cầu trùng kết luận dương tính. Khơng phát hiện

nỗn nang cầu trùng kết luận âm tính.

3.4.3. Phương pháp đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng

Cách tiến hành: Cân 4g mẫu phân cần kiểm tra cho vào cốc thủy tinh số 1,

bổ sung 56ml nước muối bão hòa, dùng đũa thủy tinh đánh tan phân và nước

muối bão hòa thành một huyễn dịch, lọc huyến dịch vừa đánh xong sang cốc

thủy tinh số 2. Sau đó, dùng pipett Pasteur quấy đều và hút huyễn dịch cho

đầy vào lọ thủy tinh có miệng nhỏ và bằng để nỗn nang nổi lên. Đậy phiến

kính hoặc lammen lên miệng lọ, để yên từ 5 đến 7 phút. Nhắc nhanh phiến

kính hoặc lammen ra, đưa lên kính hiển vi kiểm tra độ phóng đại 10 lần để

đếm nỗn nang cầu trùng.

Để đánh giá cường độ nhiễm cầu trùng chúng tôi tiến hành đếm số noãn

nang trên một vi trường và được quy định như sau. Nếu trên vi trường có:



1 - 3 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nhẹ (+)

4 - 6 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ trung bình (++)

7 - 9 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ nặng (+++)

> 9 noãn nang: Quy định cường độ nhiễm ở mức độ rất nặng (++++)

3.4.4. Phương pháp theo dõi biểu hiện triệu chứng lâm sàng

Tất cả số gà đã có xét nghiệm phân là dương tính với cầu trùng đều

được đeo thẻ vào chân.

Theo dõi toàn bộ những gà có mẫu phân dương tính với cầu trùng.

Quan sát và đếm số gà có các triệu chứng sau :

- Giảm ăn, uống nhiều, ủ rũ, lười vận động.

- Mào yếm nhợt nhạt, lơng xù xơ xác, phân dính hậu mơn.

- Phân lỗng màu sơ cơla, có nhiều bọt khí.

- Phân có lẫn máu.

Cần phân biệt triệu chứng với một số bệnh sau:

- Bệnh Gumboro: Triệu chứng lông xù, lúc đầu phân lỗng có màng

nhầy và trắng sau đó nâu đỏ.

- Bệnh bạch lỵ: Thương hàn, phó thương hàn và E. coli: Triệu chứng

phân tiêu chảy trắng như cầu trùng ruột non.

- Bệnh tụ huyết trùng: Cũng có triệu chứng phân đỏ có lẫn máu trong

trường hợp cấp tính, nhưng chết nhanh, tỷ lệ chết cao ở giai đoạn trên một

tháng tuổi.

3.4.5. Phương pháp mổ khám và xác định bệnh tích

Để kiểm tra bệnh tích của gà mắc bệnh cầu trùng, tiến hành phương pháp

mổ khám cơ quan tiêu hóa để kiểm tra bệnh tích, được tiến hành như sau: Để

gà chết tập trung tại vị trí bằng phẳng và sạch sẽ, dùng dao rạch khớp xương ở

cánh và háng rồi ép cho gẫy. Rạch một đường từ hàm dưới tới diều rồi rạch

sang hai bên theo hình chữ nhật ở da ngực và bụng. Dùng dao cắt đứt xương

ức, sau đó dùng dao bộc lộ cơ quan bên trong, tách riêng cơ quan tiêu hóa ra



để quan sát xem có biểu hiện bệnh tích ở ruột non, ruột già và manh tràng

khơng. Sau đó dùng kéo cắt dọc theo ruột non, quan sát niêm mạc ruột non.

Ruột già và manh tràng làm tương tự như ruột non.

Quan sát và đếm số gà có bệnh tích sau:

- Manh tràng sưng to, màu đen thẫm, chứa đầy máu.

- Ruột non chứa nhiều hơi, xuất huyết, thấy rõ nhiều điểm trắng, có chứa

thức ăn không tiêu.

- Niêm mạc ruột già xuất huyết thành vệt dài.

Cần phân biệt bệnh tích với những bệnh sau:

- Bệnh Gumboro bệnh tích: Chỉ sưng túi fabricius, khơng sưng manh tràng.

- Bệnh bạch lỵ bệnh tích mổ khám là ruột khơng sưng.

- Bệnh tụ huyết trùng bệnh tích mỡ ở vành tim xuất huyết, không sưng

manh tràng.

3.4.6. Phương pháp cạo niêm mạc đường tiêu hóa

Những con gà sau khi chết sẽ được mổ và tiến hành rạch đường tiêu

hóa tại 3 vị trí để cạo lấy phần niêm mạc của đường tiêu hóa. Dùng phiến

kính cạo phần niêm mạc ở các cơ quan khác nhau và tách riêng, đánh dấu

từng mẫu, cơ quan.

Cạo ở các vị trí sau: Ruột non, ruột già, manh tràng. Sau đó đem mẫu lên soi

trên kính hiển vi để tìm và đếm nỗn nang.

* Các chỉ tiêu theo dõi:

Tỷ lệ nhiễm % =



Số mẫu nhiễm

x 100

Tổng số mẫu kiểm tra



Cường độ nhiễm % =



Số mẫu nhiễm từng cường độ

Tổng số mẫu nhiễm



Tỷ lệ nhiễm theo tuổi gà % =



x 100



Số mẫu nhiễm theo tuổi

x 100

Tổng số mẫu kiểm tra theo tuổi



Tỷ lệ gà có bệnh tích % =



Hiệu lực điều trị % =



Số gà có bệnh tích

x 100

Tổng số gà mổ khám

Số gà khỏi sau điều trị

Tổng số gà được điều trị



Tỷ lệ gà chết do cầu trùng % =



Số gà chết do nhiễm

Số mẫu nhiễm



x 100



3.4.7.



x 100



Phác



đồ điều trị bệnh cầu trùng

Sử dụng 2 phác đồ với 2 loại thuốc chính là: Avicox và Coxsan.

- Avicoc: Đây là chế phẩm của hãng Avitec (Pháp), thành phần của

thuốc gồm có Sulfadimexin và Diaveridin, thuốc dạng bột hòa tan, sử dụng an

tồn và có tác dụng tốt. Thuốc được dùng phòng bệnh bằng cách hòa tan trong

nước với liều 1g/2l nước và cho gia cầm uống liên tục trong 3-5 ngày. Liều

điều trị 1g/1l nước cho gia cầm uống liên tục trong 3 đến 5 ngày.

- Coxsan: Sản phẩm của công ty ANOVA BIOTECH. Thành phần tinh

dầu kinh giới, tinh dầu tỏi, Polyethylene glycol và nước. Dùng thay thế cho

các loại thuốc chống cầu trùng cổ điển cũng như các loại kháng sinh trong

điều trị bệnh. Liều dùng: Pha nước 150-250ml/1000l nước uống.

Thử nghiệm phác đồ được bố trí như sau:



Phác đồ

điều trị



Hoạt chất



Liều lượng và cách dùng



Số gà điều

trị



Avicoc 1g/1l cho gia cầm

uống liên tục trong 3-7

ngày. Vitamin C pha 2g/1l

I: Avicoc +



Sulfadimexin và



Vitamin C



Diaveridin



nước cho uống sau mỗi lần

uống Avicoc



49



Coxsan 150-200ml/1000l

Tinh dầu kinh giới,

II: Coxsan +



tinh dầu tỏi.



Soluble ADE



Polyethylene

glycol



nước uống. Dùng 5-7 ngày

liên tục. Soluble ADE pha

1000g/1200l nước cho



50



uống sau mỗi lần uống

Coxsan



Sau điều trị kiểm tra noãn nang trong phân của gà điều trị để đánh giá tỷ

lệ tái nhiễm cầu trùng ở 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày.

3.6. Phương pháp xử lý số liệu

Thu thập xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê sinh vật học của

Nguyễn Văn Thiện và cs., (2006) [16].



Chương 4

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi

Tỷ lệ nhiễm noãn nang cầu trùng theo lứa tuổi là chỉ tiêu xác định gà ở

lứa tuổi nào dễ mẫn cảm nhất, từ đó có kế hoạch phòng trị bệnh thích hợp,

nhằm hạn chế xảy ra bệnh.

Để xác định tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo tuổi, chúng tôi

tiến hành kiểm tra 720 mẫu phân, kiểm tra noãn nang cầu trùng gà ở 3 giai

đoạn tuổi, dưới 8 tuần tuổi, trên 8 tuần tuổi đến 25 tuần tuổi và trên 25 tuần

tuổi. Kết quả về tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng gà theo lứa tuổi được thể

hiện ở bảng 4.1.

Kết quả bảng 4.1 cho thấy: Tỷ lệ nhiễm cầu trùng giảm dần qua các giai

đoạn tuổi. Cao nhất là giai đoạn nhỏ hơn hoặc bằng 8 tuần tuổi, thấp nhất là

giai đoạn trên 25 tuần tuổi. Cụ thể là: Gà ở lứa tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 8 tuần

tuổi, tỷ lệ nhiễm cao nhất là 31,67%. Sau đó đến gà ở lứa tuổi lớn hơn 8 đến

25 tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm là 16,25% và thấp nhất là gà ở lứa tuổi lớn hơn 25

tuần tuổi, tỷ lệ nhiễm là 7,92%.

Về cường độ nhiễm: Gà nhỏ hơn hoặc bằng 8 tuần tuổi nhiễm cầu trùng

nặng hơn gà ở các lứa tuổi khác. Gà trưởng thành (lớn hơn 25 tuần tuổi) chủ

yếu nhiễm ở cường độ nhẹ (57,89%).

Từ kết quả này cho thấy: Gà ở các lứa tuổi khác nhau có tỷ lệ và cường

độ nhiễm cầu trùng khác nhau. Tỷ lệ nhiễm cao nhất và nặng nhất là ở lứa

tuổi còn non (15 ngày đến 8 tuần tuổi). Đặc biệt khi gà trưởng thành tỷ lệ

nhiễm giảm thấp nhất và chỉ nhiễm ở mức độ nhẹ.

Nguyên nhân là do gà nhỏ hơn hoặc bằng 8 tuần tuổi sức đề kháng với

bệnh tật còn kém nên rất mẫn cảm với noãn nang cầu trùng và dễ cảm thụ

mầm bệnh. Khi gà lớn lên, cùng với sự phát triển về thể chất, sức đề kháng

của gà cũng tăng lên, các cơ quan miễn dịch hoàn thiện dần và có các q

trình tiếp xúc với mầm bệnh nên cơ thể gà đã tạo được sự miễn dịch với cầu



trùng. Do vậy, gà lớn thường nhiễm ở mức độ nhẹ, bệnh thường diễn ra ở thể

mãn tĩnh.

Bảng 4.1. Tỷ lệ và cường độ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi

Số

Tuần



mẫu



tuổi



kiểm

tra



Số



Tỷ lệ



mẫu



nhiễm



nhiễm



(%)



Cường độ nhiễm

Nhẹ



Trung bình



Nặng



Rất nặng



n



%



n



%



n



%



n



%



≤8



240



76



31,67



27



35,53



23



30,26



19



25,00



7



9,21



>8-25



240



39



16,25



17



43,59



11



28,11



9



23,08



2



5,13



≥25



240



19



7,92



11



57,89



5



26,32



3



15,79



0



0



720



134



18,61



55



45,67



39



28,26



31



21,29



9



4,78



Tính

chung



31,67



18,61



16,25

7,92



Hình 4.1. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm cầu trùng ở gà theo lứa tuổi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×