Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

trên lưỡi có những răng rất nhỏ hóa sừng hướng về cổ họng để đưa thức ăn về

phía thực quản, thức ăn không được nghiền nhỏ mà chỉ được nước bọt thấm

trơn để dễ nuốt. Thức ăn từ miệng vào thực quản, thực quản phình to tạo

thành diều, thức ăn được làm mềm, quấy trộn và tiêu hóa từng phần do các

men và vi khuẩn trong thức ăn, nhờ men Amylase tinh bột được phân giải

thành glucose. Ở gà không có phản xạ nơn, thức ăn ở diều khơng trở lại

miệng được.

Sau một thời gian lưu ở diều, thức ăn được làm mềm, nghiền nhỏ 1 đến

2 giờ, khi hạt có khối lượng khoảng 3 đến 4g và ngấm đủ nước thì xuống dạ

dày tuyến tiêu hóa bằng các men và không giữ lâu ở dạ dày tuyến với PH

4,5 - 5,8. Khi được dạ dày tuyến làm ướt, thức ăn chuyển xuống dạ dày cơ. Ở

dạ dày cơ diễn ra đồng thời hai q trình tiêu hóa là tiêu hóa men và tiêu hóa

cơ học. Các men tiêu hóa được tiết ra từ dạ dày tuyến thấm vào thức ăn xuống

dạ dày cơ. Tại đây sự phân hủy protein diễn ra như sau:

Protein + H2O + HCl  Albumoz + Pepton

Dạ dày cơ khơng tiết dịch tiêu hóa, nhờ có cơ khỏe và màng sừng phát

triển mà thức ăn được nghiền nhỏ và trộn lẫn với dịch vị của dạ dày tuyến.

Axit Chlohydric tác động làm cho các protein trở nên căng phồng và nhờ có

men Pepsin, chúng được phân giải thành pepton và một phần thành axit amin.

Từ dạ dày cơ thức ăn đi vào ruột, thức ăn ở ruột non được trộn đều với

dịch ruột, trong dịch ruột có các men Amylase, Lipasse, Tripsin do tuyến tụy

tiết ra có tác dụng phân giải các chất dinh dưỡng cơ bản của thức ăn như

gluxit, protit và lipit (nguồn men tiêu hóa do tuyến tụy cung cấp). Ruột non có

các nhung mao để tăng cường hấp thu các chất dinh dưỡng. Cuối tá tràng có

ống tụy và ống mật đổ vào.

Dịch mật có thể dễ dàng lên dạ dày cơ do có nhu động ngược để bảo vệ

lớp sừng. Dịch mật có chức năng nhũ tương hóa chất béo, hoạt hóa các men

của dịch tụy, kích thích tăng nhu động ruột, giúp nhung mao hấp thụ tốt chất



dinh dưỡng, diệt khuẩn, bảo vệ niêm mạc dạ dày khỏi bị tổn thương và

ăn mòn.

Ở manh tràng q trình phân giải gluxit, protit và lipit còn tiếp tục nhờ

men đường ruột tồn tại, men do vi sinh vật tiết ra rất ít, chủ yếu là quá trình

tái hấp thu lại nước, khoáng và vitamin. Đây là nơi duy nhất phân giải một

lượng nhỏ chất xơ (10-30%) bằng các men do vi khuẩn tiết ra. Gà tiêu hóa

chất xơ kém nên trong khẩu phần thức ăn khơng nên có q 4-6% chất xơ,

nhưng trong khẩu phần khơng có chất xơ dễ bị rối loạn tiêu hóa.

Ở gà con thức ăn đi qua đường tiêu hóa 2-4 giờ, ở gà trưởng thành mất

4-5 giờ, ở gà đẻ trong giai đoạn không đẻ mất 8 giờ, gà mái ấp mất 12 giờ.Vì

vậy khi gà nuốt phải nỗn nang cầu trùng thì nỗn nang sẽ cùng thức ăn

xuống ruột non, ruột già và manh tràng. Do đó q trình xâm nhập của cầu

trùng vào biểu bì ruột sẽ rất nhanh (trong vài giờ).

Trong bộ máy tiêu hóa của gà, hợp chất hữu cơ phức tạp sẽ được phân

giải thành các chất đơn giản như: Protit thành axit amin, gluxit thành đường

đơn, lipit thành glyxeril và axit béo. Những chất này sau khi hấp thu vào máu

được đưa tới các cơ quan, bộ phận trên cơ thể gà, chúng được dùng để tạo tế

bào mới, khôi phục tế bào già, tạo thành dịch tiêu hóa và cơ thể ln xảy ra

q trình phân giải, oxy hóa hợp chất hữu cơ phức tạp, để giải phóng năng

lượng duy trì thân nhiệt và hoạt động. Cường độ trao đổi chất phụ thuộc vào

chế độ dinh dưỡng và trạng thái cơ thể gà.

2.1.2. Đặc tính chung của bệnh cầu trùng ở gia súc, gia cầm

Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [5] cho biết: Bệnh cầu trùng là bệnh

do đơn bào gây ra, mầm bệnh ký sinh ở đường tiêu hóa của gia súc, gia cầm,

thú rừng, bò sát, cá. Một số súc vật như: Trâu, bò, ngựa, dê, cừu, lợn, chó, thỏ,

gà, vịt, ngan, ngỗng… đều bị cầu trùng tác động gây bệnh.

Lê Văn Năm (2003) [11] cho biết: Bệnh có thể gây chết nhiều súc vật,

nhất là súc vật non. Bệnh gây tổn hại rất lớn đối với thỏ và gà (tỷ lệ chết cao

nhất ở thỏ con và gà lên đến 80-100%).



Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [5] thì bệnh cầu trùng gà được

coi là bệnh thứ hai sau bệnh do vi trùng gây nên. Đặc điểm quan trọng của

cầu trùng là vòng đời ngắn (5-7 ngày) và không cần ký chủ trung gian. Tỷ lệ

chết từ 50-70% số gà mắc bệnh.

Bệnh cầu trùng gây tổn thất lớn đối với gia cầm 1-3 tháng tuổi. Gà con

sau khi bị bệnh thì rất còi cọc chậm lớn, trọng lượng giảm 12-30% rất khó

phục hồi lại bình thường.

Cùng là gia cầm nhưng mỗi lồi lại có một số loài cầu trùng ký sinh

riêng. Cầu trùng gà không ký sinh ở ngan, ngỗng... trên cùng cơ thể nhưng

mỗi loài cầu trùng lại ký sinh trên một vị trí nhất định: Cầu trùng ký sinh ở

manh tràng, khơng ký sinh ở ruột non và ngược lại. Ở gà mọi lứa tuổi đều bị

nhiễm cầu trùng, nhưng ở mỗi lứa tuổi mức độ nhiễm khác nhau. Gà con bị

nhiễm nặng và chết nhiều hơn ở gà lớn, gà trưởng thành phần lớn là vật mang

trùng làm ảnh hưởng lớn đến sản lượng thịt và trứng.

Đặc tính chung của cầu trùng:

Cầu trùng thuộc bộ Coccidia, họ Eimeridiae

Bệnh cầu trùng do động vật nguyên sinh đường ruột gia súc thuộc các

loài Eimeria và Isospora. Cầu trùng có tính chun biệt về vật chủ nên khơng

lây truyền giữa các lồi gia súc khác nhau.

Khi cầu trùng mới theo phân ra ngoài được gọi là một kén hay một noãn

nang (Oocyt) là những bào tử trùng hình bầu dục, hình trứng hay hình cầu, có

3 lớp vỏ, lớp ngồi cùng rất mỏng, bên trong có nguyên sinh chất lổn nhổn

thành hạt, ở giữa đám nguyên sinh chất có một nhân tương đối to, có một số

cầu trùng ở đầu có chỗ lõm vào gọi là lỗ nỗn nang, có một số lồi cầu trùng

khơng có lỗ nỗn nang hoặc khơng rõ. Khi ở ngoại cảnh gặp điều kiện thuận

lợi (nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng… thích hợp) thì nhân và ngun sinh chất bắt

đầu phân chia.

Nếu là cầu trùng thuộc giống Eimeria thì nhân và nguyên sinh chất sẽ

hình thành 4 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 2 bào tử con. Bào tử con



có hình quả lê, chính bào tử con sẽ xâm nhập vào niêm mạc ruột, tổ chức gan

và gây những tổn thương bệnh lý.

Nếu cầu trùng thuộc giống Isospara thì nhân và nguyên sinh chất sẽ

phân chia thành 2 bào tử, mỗi bào tử lại phân chia thành 4 bào tử con, cuối

cùng hình thành 8 bào tử con giống Eimeria và cũng xâm nhập vào niêm mạc

ruột. Giống Isospara ít gặp hơn và thường thấy ở chó, mèo.

Có những loại cầu trùng chỉ gây hại cho gà ở lứa tuổi nhất định như:

Eimeria tenella chủ yếu gây bệnh cho gà dưới 45 tuổi, Eimeria brunette gây

bệnh cho gà lớn.

Gà mọi lứa tuổi đều bị nhiễm cầu trùng nhưng tác hại ở mỗi lứa tuổi là

khác nhau. Gà con bị bệnh nặng và chết nhiều hơn gà lớn. Gà lớn chủ yếu ở

dạng mang trùng.

Trong chăn nuôi gia cầm, hiện tượng cầu trùng rất đa dạng nó luôn gắn

liền với vệ sinh thú y kém. Gà nuôi nhốt tập trung mật độ cao, khi ni dưỡng

kém thì bệnh phát triển mạnh và trầm trọng.

2.1.3. Tác nhân gây bệnh cầu trùng gà

Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs. [5] cho biết: Cho tới nay người ta

đã phát hiện được 9 loại cầu trùng thuộc giống Eimeria gây bệnh cho gà và

gây thiệt hại lớn là:

Eimeria tenella



Eimeria preacox



Eimeria acervulina



Eimeria hagani



Eimeria maxima



Eimeria brunetti



Eimeria mitis



Eimeria mivati



Eimeria necastrix

Theo tác giả Phan Lục và Bạch Mã Điền (1999) [10] cho biết ở Việt

Nam có nhiễm 6 loại cầu trùng:

Eimeria tenella



Eimeria maxJima



Eimeria necastrix



Eimeria brunetti



Eimeria mitis



Eimeria acervulina



Đặc điểm 9 loại cầu trùng gây bệnh cho gà:

Eimeria tenella

Đây là lồi phổ biến rộng rãi nhất, nỗn nang hình trứng bao bọc bởi

hai lớp vỏ màu xanh nhạt, ở một đầu nỗn nang có hạt cực. Tỷ lệ dài/rộng của

nỗn nang là 1,16µm. Thời gian hình thành bào tử con từ 18-48 giờ. Khi nhiệt

độ thấp thời gian hình thành bào tử kéo dài hơn còn khi nhiệt độ tăng trên

300C thì sự hình thành bào tử dừng lại, các nang trứng chết. Qua sinh sản bào

tử, các nang trứng phát triển thành 4 bào tử kích thước 4 x 8µm, mỗi bào tử

có 2 thể bào tử.

Cầu trùng Eimeria tenella phát triển trong manh tràng nhưng cũng có

thể ở các phần ruột khác, thời kỳ cầu trùng phát triển trong cơ thể gà là 10

ngày tuổi, cầu trùng thải nang trứng vào ngày thứ 6 đến ngày thứ 7 sau khi

nhiễm vào cơ thể. Số lượng nang trứng thải ra tối đa trong 3-4 ngày đầu,

những ngày tiếp theo cường độ nang trứng thải ra giảm dần, tới ngày thứ 10

thì hồn tồn khơng thấy nang trứng nữa.

Ở mơi trường bên ngồi, nang trứng Eimeria tenella khá bền vững. Cầu

trùng này giữ được khả năng gây bệnh sau khi nằm trong đất suốt năm. Nơi

cư trú là manh tràng nên chúng gây tổn thương rất nặng ở đây. Các giai đoạn

phát triển nội sinh, nhất là cơ thể phân lập đời 2, khi phát triển thành số lượng

lớn trong thành ruột sẽ phá hủy niêm mạc ruột gây chảy máu, xoang chứa đầy

các biểu bì bị phá hoại, những thành phần hữu hình của máu và những dạng

cầu trùng ở các giai đoạn khác nhau.

Do tổn thương nhiều đám lớn trong ruột nên chức năng tiêu hóa bị rối

loạn, màng niêm mạc bị tổn thương là cửa để các vi khuẩn, các độc tố tạo ra

khi phân hủy các chất trong manh tràng xâm nhập vào cơ thể.

Eimeria acervulina

Đây là loại cầu trùng mới tìm thấy ở nước ta, chúng có độc lực khơng mạnh.

Nỗn nang hình trứng, khơng màu, có khối ngun sinh chất chưa hình thành,

bào tử có dạng hạt, ở đầu hẹp có một hay nhiều hạt cực, đầu to có nhân phân



cực, vỏ bọc nhẵn. Giai đoạn nội sinh, loại cầu trùng này ký sinh ở tá tràng,

gây ra quá trình viêm ở thể cấp tính. Tỷ lệ dài/rộng của nỗn nang là 1,25µm.

Eimeria maxima

Là loại cầu trùng có độc lực cao nhưng khả năng gây bệnh thấp hơn

Eimeria tenella, noãn nang có màu nâu vàng, hình trứng vỏ hơi sần sùi, hạt

cực ở đầu hẹp. Trong noãn nang và trong bào tử đều khơng có thể cặn. Q

trình nội sinh diễn ra dọc chiều dài ruột non nhưng nhiều hơn cả là phần trước

và phần giữa. Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,47µm. Khối nguyên sinh chất

trong những cầu trùng chưa hình thành bào tử thì có dạng hình tròn (hình hạt

tròn). Q trình sinh bào tử kéo dài từ 21-24 giờ. Thường ký sinh ở giữa

ruột non.

Eimeria mitis

Là loài cầu trùng có độc lực yếu. Nỗn nang hình cầu, khơng màu.

Khối ngun sinh chất đều đặn, nang trứng có hạt cực. Cầu trùng ký sinh ở

tuyến đầu ruột non. Sau khi nhiễm vào cơ thể 36 giờ trong các tế bào biểu bì

nhung mao thấy những thể phân lập thành thục, thường có 6-12 thể phân

đoạn, các giao tử được hình thành vào ngày thứ 5. Tỷ lệ dài/rộng của nỗn

nang là 1,09µm.

Eimeria necastrix

Đây là loại cầu trùng có độc lực khá cao, song mức độ phổ biến và khả

năng gây bệnh của nó thấp hơn lồi Eimeria tenella. Nang trứng khơng có

màu, hình trứng hoặc hình bầu dục, khơng có lỗ nỗn nang, ở một trong hai

đầu nang trứng có hạt cực. Ở những cầu trùng chưa hình thành bào tử, nguyên

sinh chất không rõ.

Thời gian sinh sản bào tử là 48 giờ. Thời gian xâm nhập trong cơ thể

gà là 138-140h. Gà con từ 2-5 tuần tuổi cảm nhiễm mạnh với cầu trùng này.

Thường ký sinh ở ruột non và cả manh tràng. Tỷ lệ dài/rộng của nỗn nang

là 1,19µm.



Eimeria preacox

Lồi cầu trùng này chưa thấy ở Việt Nam, sức gây bệnh yếu. Noãn nang

cầu trùng này có khối sinh chất dạng tròn và có nhân ở giữa, hạt cực không

rõ. Ký sinh ở phần đầu ruột non. Tỷ lệ dài/rộng của nỗn nang là 1,24µm.

Eimeria hagani

Nỗn nang hơi tròn khơng màu, sức gây bệnh khơng mạnh. Nỗn nang cầu

trùng này chỉ nhìn thấy hạt cực sau sinh sản bào tử 1-2 ngày. Độc lực yếu và

thấy ở gà ni của nước ta.

Eimeria brunettic

Lồi cầu trùng này có độc lực tương đối cao nhưng khơng bằng Eimeria

tenella và Eimeria necastrix, các nang trứng có hình trứng, khơng màu. Trong

nỗn nang có một hoặc một số hạt cực. Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột già

và phần cuối của ruột non. Tỷ lệ dài/rộng của noãn nang là 1,31µm.

Eimeria mivatti

Sức gây bệnh khơng mạnh. Nỗn nang hình cầu, khơng màu, có hạt

cực. Giai đoạn nội sinh diễn ra ở ruột non gây tổn thương tế bào nội mô

nhung mao tạo ra những khe, những hốc trên suốt phần ruột non.

2.1.4. Vòng đời của cầu trùng gà

Tất cả các lồi cầu trùng đều có vòng đời khá phức tạp và chúng đều

phát triển theo một vòng đời chung. Việc hiểu biết về vòng đời của chúng rất

quan trọng trong việc chẩn đốn, điều trị, phòng bệnh và có những kế hoạch

điều chỉnh loại ký sinh trùng này.

Theo Nguyễn Thị Kim Lan (1999) và cs. [5]: Chu trình phát triển cầu

trùng gà gồm 2 giai đoạn phát triển: Giai đoạn ở ngoài tự nhiên và giai đoạn ở

trong cơ thể ký chủ.

Giai đoạn 1: Phân gà thải ra có nỗn nang (Oocyst). Gặp điều kiện

thích hợp về nhiệt độ, độ ẩm, noãn nang phát triển thành bào tử (cầu trùng

Eimeria phát triển thành 4 bào tử). Lúc đó trở thành noãn nang gây nhiễm

(Oocyst gây nhiễm).



Giai đoạn 2: Giai đoạn ở trong cơ thể ký chủ: Gà nuốt noãn nang gây

nhiễm, vào tới ruột, noãn nang vỡ ra giải phóng 4 bào tử gọi là Trophotozoit

bám vào tế bào biểu mô ruột, tiếp tục phát triển thành Schizontes. Schizontes

tiếp tục phát triển và phân chia tạo thành Schizogonie và vỡ ra thành nhiều

Schizogoit. Schizogoit tiếp tục phát triển thành Merozoit rồi thành tế bào đực

(tiểu phố tử) và tế bào cái (đại phối tử). Tế bào đực và cái kết hợp với nhau

tạo thành hợp tử rồi thành noãn nang (Oocyst). Thời gian hồn thành vòng

đời: 5-7 ngày.

Nỗn nang



Nỗn nang gây nhiễm



Bào tử



(Oocyst gây nhiễm)



(Trophotozoit)



Schironotes

(Oocyst)



Tế bào cái



Schizogonie



(Đại phối tử)



Hợp tử



Merozoit



Schozogoit



Tế bào đực

(Tiểu phối tử)

Hình 2.1. Sơ đồ chu kỳ sinh học phát triển của cầu trùng

2.1.5. Dịch tễ học bệnh cầu trùng gà

Đường nhiễm bệnh là do gà nuốt phải nỗn nang cầu trùng có sức gây

nhiễm. Nỗn nang cầu trùng trong phân gà lẫn vào thức ăn, nước uống, đất,



nền chuồng, dụng cụ chăn nuôi, trở thành nguồn gây nhiễm bệnh. Các loại

chim, gia súc, gia cầm, ruồi… đều có thể là nguồn gieo rắc mầm bệnh. Theo

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [4], Oocyst khi bị hút vào trong ruột

ruồi, vẫn còn khả năng gây bệnh trong thời gian 24 giờ.

Sức đề kháng của noãn nang cầu trùng rất mạnh, ở trong đất có thể duy trì

sức sống 4-9 tháng và 15-18 tháng ở sân chơi râm mát. Mơi trường ẩm ướt và

nhiệt độ ơn hòa là điều kiện thuận lợi nhất cho cầu trùng phát triển. Nhiệt độ

22-300C chỉ mất 18-36 giờ thì cầu trùng phát triển thành những bào tử con.

Sức đề kháng của nỗn nang đối với nhiệt độ cao và khơ hạn tương đối yếu.

Khi độ ẩm 2-30%, nhiệt độ 18-400C thì E.tenella sau 1-5 ngày sẽ bị chết.

Khi gia cầm được nuôi dưỡng quản lý không tốt sẽ tạo điều kiện cho

cầu trùng phát triển mạnh và gây bệnh nặng. Thức ăn thiếu sinh tố cũng là

điều kiện thuận lợi cho bệnh phát triển mạnh. Vì vậy, gà ni trong mơi

trường ẩm ướt, sân chơi quá hẹp, thức ăn chất lượng không tốt, điều kiện vệ

sinh kém… là điều kiện thuận lợi cho bệnh cầu trùng phát triển và lây lan.

Bệnh cầu trùng thường tiến triển âm ỉ làm cho con vật chậm lớn, sức đề kháng

yếu dễ mắc bệnh kế phát. Và khi điều kiện thuận lợi, cầu trùng phát triển

thành ổ dịch lớn, mang tính chất hủy diệt. Tỷ lệ chết do cầu trùng ở gà con có

thể lên tới 100%, những con ốm thì mchậm lớn, giảm từ 12-30% trọng lượng,

sức đẻ giảm gây ảnh hưởng xấu tới hiệu suất của gà.

Thời gian xâm nhập của cầu trùng vào vật chủ diễn ra rất nhanh. Natt

(1995) [27] cho biết, cầu trùng Eimeria acervulina sau khi nhiễm vào cơ thể

gà 1 giờ 30 phút, các bào tử đã giải phóng ra trong tá tràng và chỉ 54 giờ sau

khi bị nhiễm, các bào tử đã có trong tế bào biểu bì ruột, sau đó 16 giờ chúng

bắt đầu nhân lên, ba ngày sau khi xâm nhiễm, thế hệ II đã xâm nhập vào tế

bào biểu bì.

Gà cơng nghiệp rất mẫn cảm với bệnh cầu trùng vì sức đề kháng kém.

Trong một đàn chỉ cần một vài con nhiễm cầu trùng thì sau vài hơm cả



đàn nhiễm và gây chết hàng loạt. Mưa nhiều, ẩm thấp thì cầu trùng phát

triển mạnh.

2.1.6. Bệnh lý lâm sàng

2.1.6.1. Cơ chế sinh bệnh

Quá trình sinh bệnh được hình thành trước hết từ tác động trực tiếp của

căn bệnh ở các giai đoạn phát triển nội sinh của cầu trùng gà, đồng thời từ cả

những yếu tố thứ phát do tác động của các yếu tố trên.

Hầu hết các kết quả nghiên cứu đều cho rằng: Cầu trùng xâm nhập vào

tế bào biểu bì ruột gây tổn thương lan tràn niêm mạc ruột. Từ đó, một số

lượng lớn tế bào biểu bì, lớp dưới niêm mạc ruột, các mạch quản thần kinh bị

hủy hoại, tạo điều kiện thuận lợi cho các loài vi sinh vật khác xâm nhập vào

cơ thể. Nhiều đoạn ruột mất khả năng tiêu hóa làm cho con vật bị đói dai

dẳng, dẫn tới ngưng đọng và phù nề các cơ quan và mơ bào khác. Vì vậy, q

trình sinh bệnh thường làm loãng máu, giảm bạch cầu, mạch đập chậm.

Khả năng sinh sản lớn của cầu trùng làm tổn thương nơi chúng cư trú

(niêm mạc ruột), vì vậy nhiều đoạn ruột khơng tham gia được vào q trình

tiêu hóa, làm cho con vật không hấp thu được thức ăn, con vật thiếu dinh

dưỡng, rối loạn tiêu hóa dẫn đến tích tụ các chất độc gây phù nề các cơ quan

mô bào khác. Sự phá hoại các tế bào ruột non dẫn đến trên các vùng tế bào,

mô bào bị chết vi khuẩn xâm nhập vào và gây nên quá trình viêm ruột. Quá

trình viêm tăng dịch rỉ viêm tiết ra nhiều gây mất cân bằng nước tiểu trong cơ

thể gà. Đặc biệt khi mà bệnh cầu trùng ghép với các bệnh khác làm cho tỷ lệ

chết của gà cao hơn.

Sự sinh sản mạnh mẽ trong niêm mạc ruột của cầu trùng và sự phá hủy

mạnh mẽ các tế bào dẫn tới hệ vi sinh vật gây mủ phát triển mạnh trên những

vùng protit bị chết. Các vi khuẩn này làm nặng thêm quá trình viêm, gây rối

loạn quá trình hấp thu và nhu động ruột, làm mất sự cân bằng nước, từ đó làm

tăng độ dính của máu, tim hoạt động khó khăn hơn.



Những xét nghiệm máu về hóa sinh và hình thái cho thấy, khi bị bệnh

cầu trùng, lượng hồng cầu và hemoglobulin giảm, con vật bị thiếu máu. Ngoài

ra, khi bị bệnh tiến triển ác tính thì lượng đường trong máu, catalaza và kiềm

dự trữ cũng giảm.

Khi gà bị cầu trùng thì cấu trúc tiểu não cũng biến đổi. Sợi thần kinh

biến mất, xuất hiện những đám có cấu trúc khác với cấu trúc bình thường và

xuất hiện những mảnh tế bào, sợi thần kinh đang trong quá trình thối hóa.

Theo thơng báo của Natt (1995) [27], Eimeria tenella gây ra trong gà con

những biến đổi trong thành phần lâm ba cầu. Bắt đầu từ ngày thứ 5 sau khi

nhiễm cầu trùng, ruột có những đám xuất huyết, cơ thể biểu hiện thiếu máu,

tăng bạch cầu lympho và bạch cầu dị hình. Đến ngày thứ 10 biểu hiện tăng

bạch cầu ưa axit lúc này cơ thể gà bị mất máu nhiều.

Theo Matrinsky và Orekop (1996) [25] cho thấy: Gà bị bệnh cầu trùng,

thành phần đạm huyết bị thay đổi. Ở thời kỳ đầu của bệnh trong máu gà hàm

lượng đạm tổng số và gluco giảm.

Số lượng tế bào hồng cầu và bạch cầu ở gà gây nhiễm noãn nang

Eimeria tenella khơng chiếu xạ giảm so với gà bình thường. Kết quả mổ

khám cho thấy ở gà này có hiện tượng xuất huyết trong manh tràng ở mức độ

khác nhau. Tỷ lệ bạch cầu Eosin ở gà gây nhiễm noãn nang tăng lên so với gà

bình thường, triệu chứng tăng bạch cầu Eosin có liên quan với hiện tượng gà

bị nhiễm cầu trùng theo Trần Tích Cảnh và cs. (1996) [1].

Những nghiên cứu trên cho thấy sự biến đổi sâu sắc diễn ra trong cơ thể

gà bị cầu trùng, sự phát triển bệnh lý cuối cùng dẫn đến sự suy sụp trạng thái

của gà, gà bị ốm và cuối cùng dẫn đến chết. Ruột bị phá hủy có thể bị trúng

độc nặng, vận động khơng bình thường, mất cân bằng, cánh bị tê liệt, uống

nhiều nước, diều có nhiều dịch thể, kém ăn, thiếu máu niêm mạc và mào nhợt

nhạt, phân có lẫn máu.

Từ những phân tích trên cho chúng ta thấy: Không thể coi bệnh cầu

trùng là bệnh chỉ riêng ở cơ quan này hay cơ quan khác, do loài này hay loài



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×