Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ứng dụng của pirimiđin

Ứng dụng của pirimiđin

Tải bản đầy đủ - 0trang

Uraxin



Xitozin



Thimin



5-bromuraxin là tác nhân hóa học gây đột biến mạnh được sử dụng trong

lĩnh vực đột biến tế bào, chẳng hạn khi dùng nó để thay thế một bazơ nitơ nào đó

trong axit nucleic mẫu thì sẽ gây ra sự thay đổi các tính chất di truyền; 5fluorouraxin lại được dùng làm chất chống ung thư mà không gây ra phản ứng phụ.

Có những dược phẩm có tính chất gây ngủ là dẫn xuất của pirimiđin như veronal và

luminal:



Veronal



Luminal



Đặc biệt pirimiđin còn dùng để tổng hợp nên nhiều loại dược phẩm, nông

dược, … chẳng hạn như: idoxuriđin dùng làm thuốc chữa bệnh đau mắt, pentoxyl

(hay 5-hydroxymethyl-4-methyluracil) và metaxyl (hay 4-methyluracil) có tác dụng

hạ sốt mạnh… Ngồi ra, các dẫn xuất chứa dị vòng pirimiđin còn là những

dược phẩm quan trọng trong điều trị ung thư và kháng virút như: AZT,

Trifluriđin (TFT),



Bromovinyldesoxyuriđin



11



(BVDU),



Iododesoxycytiđin,



Zalcitabin



(hay 2’,3’-didesoxycytiđin,



DDC),



Idoxuriđin,



5-fluorouraxin,



Xytarabin). Ví dụ:

TFT và Iodoxuriđin tác dụng tốt trên virút thủy đậu và virút của bệnh Zona,

Herpes 1 và 2, thường được sử dụng điều trị bệnh da, viêm kết mạc do virút.



Iodoxuriđin



TFT (trifluriđin)



Xytarabin dùng trong các trường hợp ung thư máu:



Xytarabin

5-flouraxin điều trị ung thư ống tiêu hóa, thận, cổ tử cung, vòm hầu:



5-flouraxin

12



Các sulfametazin, dẫn xuất của pirimiđin, là sulfamide có đặc tính

kháng khuẩn mạnh, được dùng phổ biến trong điều trị nhiễm khuẩn [4]. Ví dụ:



Sunfađiazin



Sunfamerazin



Sunfađimerazin



Sunfađimetoxin



13



AZT dùng chữa bệnh AIDS, pentoxyl và metaxyl có tác dụng hạ sốt mạnh…



AZT



Pentoxyl



Metaxyl



Ngoài ra, một số sunfamit được sử dụng để trị nhiễm khuẩn ở ngoài da dưới

dạng thuốc bột hay thuốc mỡ. Trong đó, muối bạc sunfađiazin có tác dụng kháng

khuẩn rất tốt. Nói chung, ít sử dụng các sunfamit trị nhiễm khuẩn da do sự có mặt

của PAB (axit p-aminobenzoic) trên các vết thương sẽ làm giảm tác dụng của

sunfamit và sự tăng mẫn cảm của da khi dùng sunfamit [3]



Ngồi ra, người ta còn sử dụng sự phối hợp giữa sunfamit với các thuốc khác

nhằm làm tăng hiệu quả như: sunfadoxin được dùng phối hợp với pyrimetamin

trong chế phẩm FANSIDAR dùng trị sốt rét.

14



Sunfadoxin

Một số hợp chất chứa dị vòng pirimiđin được dùng làm thuốc trừ sâu như

diaveriđin, đimpylat, 'Enheptin-P', isocil, vixin và đivixin (2,6-điamino-5hiđroxipirimiđin-4(3H)-on), convixin và isouraxin (6-amino-5-hiđroxipirimiđin2,4(1H,3H) – đion), axit orotic (axit 2,6-đioxo-1,2,3,6-tetrahiđropirimiđin-4cacboxylic) …



Diaveriđin



Đimpylat



15



Isocil



Vicin



Đivicin



Convicin



Isouraxin



I.2. CÁC PHƯƠNG PHÁP TẠO VỊNG PIRIMIĐIN

Có nhiều phương pháp để tổng hợp dị vòng pirimiđin. Tuy nhiên, phương

pháp thơng dụng nhất là tổng hợp dị vòng pirimiđin đi từ hai hợp phần ba ngun

tử khơng vòng [9]. Cụ thể là đi từ hợp chất 1,3-đicacbonyl và hợp phần 1,1điamino:



16



Thí dụ:



Axetylaxeton



Ure



Đối với các dẫn xuất của axit babituric có nhóm thế ở vị trí số 5 người ta áp

dụng cách tổng hợp tương tự như sau:



17



Một phương pháp khác được dùng tổng hợp pirimiđin là ngưng tụ giữa hợp

chất β-aminocacbonyl với fomamit [28]. Thí dụ:



Hiện nay, pirimiđin được nhiều tác giả nghiên cứu tổng hợp theo nhiều cách

khác. Năm 2002, P. Zhichkin, D. J. Fairfax, S. A. Eisenbein [35] đã tổng hợp được

dẫn xuất của pirimiđin bằn cách lấy muối natri của 3,3-đimetoxy-2metoxycacbonylpropen-1-ol phản ứng với muối của amin:



Năm 2003, A. S. Karpov, T. J. J. Müller [10] đã kết hợp clorua axit với ankin

đầu mạch tạo thành một ankinylon trung gian. Sau đó cho sản phẩm trung gian này

phản ứng với amin hoặc muối của amin:



18



Năm 2007, M. G. Barthakur và các cộng sự [31] đã tổng hợp pirimiđin từ βformyl enamide và ure dưới xúc tác SmCl 3, phản ứng được thực hiện trong lò vi

song ở 140oC, trong khoảng từ 8 – 10 phút:



Năm 2013, O. O. Stepaniuk và các cộng sự [34] đã tổng hợp pirimiđin từ 5aminopirazol:



I.3. TÌNH HÌNH TỔNG HỢP VÀ NGHIÊN CỨU CÁC DẪN XUẤT HIROXI

VÀ SUNFANYL CỦA PIRIMIĐIN

Trong số các dẫn xuất của pirimiđin, các dẫn xuất hiđroxi và sunfanyl được

nhiều tác giả quan tâm đến, do khả năng tạo phức của các dẫn xuất này với các ion

kim loại. Chẳng hạn như phương pháp đóng vòng từ axetylaxeton với ure hoặc

thioure ( xem I.2), đóng vòng từ 1,1,3,3-tetraetoxipropan và thioure [26]:



19



Năm 1959, R.R Hunt [35] và cộng sự đã điều chế được các dẫn xuất

pirimiđin-2(1H)-on, pirimiđin-2(1H)-thion và một số dẫn xuất của chúng. Năm

1990, Zheng, Zhizhan [11] đã điều chế được pirimiđin-2(1H)-on và một số dẫn

xuất, sau đó tác giả đã nghiên cứu tính chất của các chất này. Đến năm 1994,

Mustafina [21] đã tổng hợp và nghiên cứu ảnh hưởng của các nhóm thế CH 3 và

NH2 ( tại vị trí 4 và 6 ) đến tính axit-bazơ của pirimiđin-2(1H)- thion. Một phương

pháp mới để điều chế 2-sunfanyl-4,6-đimetyl-pirimiđin bằng cách thực hiện phản

ửng đề- cacbonyl hóa từ dẫn xuất S- thế [29]. Trong phương pháp này, tác giả đã

tiến hành phản ứng bằng cách trộn tert-butyl S-(4,6- đimetylpirimiđin-2yl)thiocabonat với xêri amoni nitrat ( Ce(NH)2(NO3)6) và axetonitrin (CH3CN) rồi

đun nóng trong hệ silicagen thu được sản phẩm với hiệu suất 96%. Bằng cách này,

tác giả đã tổng hợp được nhiều dẫn xuất khác.

Nhiều tác giả đã nghiên cứu sự tạo phức của các dẫn xuất này với các ion

kim loại khác nhau. Chẳng hạn như năm 1995, Castro Jesus A. và cộng sự [17] đã

tổng hợp được 4,6- đimetylpirimiđin-2(1H)-on và 2-sufnanyl-4,6-đimetylpirimiđin,

sau đó đã nghiên cứu khả năng tạo phức của chúng với Mn (II). Tiếp sau đó, GodinoSalido [22] đã tổng hợp, nghiên cứu tính chất phổ và cấu trúc phân tử của phức

bis(4,6-đimety-2- sunfanylpirimiđin) tetraclorozincat (II) mơnhidrat. Cũng trong

năm đó, Lopez-Garzon [23] đã nghiên cứu khả năng tạo phức của 4,6đimetylpirimiđin-2(1H)- thion với ion Cd(II) và sau đó dã nghiên cứu cấu trúc phân

tử của phức 2-sunfanyl-4,6-đimetylpirimiđin triclorocadinat (II). Trong khi đó,

Mikhajlov [19] đã nghiên cứu khả năng tạo phức của 4,6-đimetylpirimiđin-2(1H)20



on với Pt(II). Năm 1997, Battistuzzi [15] dã nghiên cứu cân bằng oxi hóa – khử của

V

3+

phức hệ bát diện [Re O] €



[Re III ]3+ với phối tử 4,6- đimetylpirimiđin-2-thiolat.



Cùng trong năm 1997, Das [20] đã nghiên cứu cấu trúc của phức hệ (HgL 2)n trong

đó L = 4,6- đimetylpirimiđin-2-thiolat.

S.Furberg và J.Solbank [36], năm 1970, lần đầu tiên đã dùng phương pháp

tính tốn lượng tử cho phân tử pirimiđin-2-on. Kết quả tác giả đã tính được một số

thuộc tính phân tử như độ dài các liên kết, góc liên kết, momen lưỡng cực,…

Q trình tautomer hóa của các dẫn xuất này cũng là một đối tượn để nhiều

tác giả quan tâm đến. Năm 1990, S.Stoyanov [37] đã nghiên cứu quá trình tautome

hóa của 2-sunfanylpirimiđin. Trong đó, tác giả đã nghiên cứu tính chất phổ của các

dạng tautome; đồng thời cũng nghiên cứu sự ảnh hưởng của dung môi (etanol,

nước và đioxan), ảnh hưởng của nhiệt độ, q trình cơ cạn cũng như bức xạ của ánh

sáng mặt trời tới cân bằng tautome. Năm 2003, Raul Martos [34] đã nghiên cứu quá

trình tautome hóa của 2-sunfanyl-4,6-đimetylpirimiđin nhờ lý thuyết lượng tử. Kết

quả tính tốn khá phù hợp với số liệu mà các tác giả trước đó đưa ra.

Ngay trong năm 2003, M.S.Masoud [33] đã nghiên cứu phổ hấp thụ electron

của muối clohiđrat 2-sunfanyl-4,6-đimetylpirimiđin trong dải pH từ 2 đến 11. Tác

giả đã thấy hợp chất này hấp thụ ở những cực đại 216,274 và 331 nm với giá trị ε

tương ứng là 3200-10400, 16700-20800 và 1600-5100. Đồng thời, tác giả cũng

nghiên cứu ảnh hưởng của pH đến q trình ion hóa của phân tử:



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ứng dụng của pirimiđin

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×