Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

4



melanin. Màu đen của chân là do sự xuất hiện của melanin. Khi màu đen có

mặt ở thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân sẽ xuất hiện màu lục

(xanh lá cây). Khi đồng thời cả 2 màu đều khơng xuất hiện thì chân có màu

trắng. Về cường độ (độ đậm nhạt) của màu vàng tuỳ thuộc vào hàm lượng

xantôphin trong khẩu phần.

2.1.2. Bản chất di truyền của tính trạng sản xuất

2.1.2.1. Tính trạng sinh sản

Tính trạng ở vật nuôi là đặc trưng của một cá thể mà ta có thể quan sát,

hay xác định được. Khi nghiên cứu các tính trạng về tính năng sản xuất của gia

cầm, được nuôi trong điều kiện cụ thể, thực chất là nghiên cứu các đặc điểm di

truyền số lượng và ảnh hưng của những tác động môi trường lên các tính trạng

đó. Hầu hết các tính trạng về năng suất của gia súc, gia cầm như sinh trưởng,

sinh sản, mọc lông, tăng trưởng thịt, đẻ trứng đều là các tính trạng số lượng. Cơ

sở di truyền của các tính trạng số lượng cũng là do các gen nằm trên nhiễm sắc

thể qui định. Theo Nguyễn Ân và cs. (1983) [1], các tính trạng sản xuất là các

tính trạng số lượng, thường là các tính trạng đo lường như khối lượng cơ thể,

kích thước các chiều đo, sản lượng trứng, khối lượng trứng, ....

Các tính trạng số lượng thường bị chi phối bởi nhiều gen. Các gen này

hoạt động theo ba phương thức:

- Cộng gộp (A) hiệu ứng tích luỹ của từng gen.

- Trội (D) hiệu ứng tương tác giữa các gen cùng một locus.

- Át gen (I) hiệu ứng do tương tác, của các gen không cùng một locus.

Hiệu ứng cộng gộp A là các giá trị giống thơng thường (general

breeding value) có thể tính tốn được, có ý nghĩa trong chọn lọc nhân thuần.

Hiệu ứng trội D và át gen I là những hiệu ứng không cộng tính và là giá trị

giống đặc biệt (special breeding value) có ý nghĩa đặc biệt trong các tổ hợp

lai. Ở các tính trạng số lượng giá trị kiểu hình cũng do giá trị kiểu gen (kiểu di

truyền) và sai lệch môi trường qui định, nhưng giá trị kiểu gen của tính trạng

số lượng do nhiều gen có hiệu ứng nhỏ (minor gen) cấu tạo thành. Đó là các

gen mà hiệu ứng riêng biệt của từng gen thì rất nhỏ, nhưng tập hợp lại sẽ ảnh



5



hưởng rất rõ rệt tới tính trạng nghiên cứu, tính trạng sinh sản là một ví dụ

(Nguyễn Văn Thiện (1995) [25]).

Khác với tính trạng chất lượng, tính trạng số lượng thường có hệ số di

truyền thấp, bị chi phối bởi nhiều gen nằm trên nhiễm sắc thể quy định. Do

vậy loại tính trạng này chịu ảnh hưởng bởi rất nhiều gen và điều kiện môi

trường. Tuy các điều kiện bên ngồi khơng thể làm thay đổi cấu trúc di

truyền, nhưng nó tác động làm phát huy hoặc kìm hãm việc biểu hiện các hoạt

động của các gen. Các tính trạng số lượng được qui định bởi kiểu gen và chịu

ảnh hưởng nhiều của điều kiện ngoại cảnh, mối tương quan đó được biểu thị

như sau:

P=G+E

Trong đó P là giá trị kiểu hình (phenotypic value), G là giá trị kiểu gen

(genotypic value), E là sai lệch môi trường (environmental deviation).

Giá trị kiểu gen (G) hoạt động theo ba phương thức: cộng gộp, trội và

át gen. Từ đó cũng có thể hiểu:

G=A+ D+ I

Trong đó G là giá trị kiểu gen (genotypic value), A là giá trị cộng gộp

(additive value), D là giá trị sai lệch trội (dominance deviation value), I là giá

trị sai lệch tương tác (Interaction deviation value).

Ngồi ra các tính trạng số lượng còn chịu ảnh hưởng nhiều của môi

trường. hay điều kiện ngoại cảnh (E) và được chia làm 2 loại chính:

- Sai lệch môi trường chung Eg (General environment) là sai lệch do

các yếu tố mơi trường tác động lên tồn bộ các cá thể trong nhóm vật ni

hoặc tác động lên tồn thân con vật hoặc cả đời con vật. Loại yếu tố này có

tính chất thường xun như: thức ăn, khí hậu, ...

- Sai lệch môi trường riêng Es (Special Environment) là sai lệch do

các yếu tố môi trường tác động riêng rẽ lên từng cá thể trong nhóm vật ni,

hoặc ở một giai đoạn nhất định trong cuộc đời con vật. Loại này có tính chất

khơng thường xun. Nếu bỏ qua mối tương tác giữa di truyền và ngoại



6



cảnh thì quan hệ của kiểu hình (P), kiểu gen (G) và môi trường (E) của một

cá thể biểu thị cụ thể:

P = A + D + I + Eg + Es

Qua phân tích cho thấy các giống gia cầm, cũng như các giống sinh vật

khác, con cái đều nhận được ở bố mẹ một số gen quy định tính trạng số lượng

nào đó. Tính trạng đó được xem như nhận từ bố mẹ một khả năng di truyền,

nhưng khả năng đó phát huy được hay khơng còn phụ thuộc vào mơi trường

sống như: chế độ chăm sóc, ni dưỡng, quản lý, .... Do đó, để nâng cao năng

suất và chất lượng vật ni cần phải tạo ra mơi trường thích hợp cho kiểu gen

có biểu hiện được đầy đủ các đặc điểm di truyền của nó.

Người ta có thể xác định các tính trạng số lượng qua mức độ tập trung

(Χg), mức độ biến dị (Cv%), hệ số di truyền của các tính trạng (h 2), hệ số lặp

lại của các tính trạng (R), hệ số tương quan (r) giữa các tính trạng, ....

2.1.2.2. Sức sống và khả năng kháng bệnh của gia cầm

Sức sống và khả năng kháng bệnh ở đàn gia cầm là chỉ tiêu kinh tế kỹ

thuật quan trọng, phản ánh khả năng thích nghi trong mơi trường của đàn giống.

Nó phản ánh thể chất của con vật, đặc trưng cho từng giống loài và được xác

định bởi khả năng chống chịu ảnh hưởng của dịch bệnh và những tác động bất

lợi của môi trường sống. Công tác thú y và phòng bệnh tốt có liên hệ mật thiết

tới tốc độ sinh trưởng và giúp cho chăn nuôi đạt hiệu quả cao.

Sức sống của gia cầm con phụ thuộc vào sức sống của đàn bố mẹ. Gia

cầm mái đẻ tốt thì sưc sống của gia cầm con cao hơn so với gia cầm đẻ kém.

Đối với cơ thể sinh vật những biểu hiện sinh lý trong phản ứng stress là tác

động tương quan giữa gen và môi sinh, trong đó tất nhiên chịu ảnh hưởng vai

trò của các qui luật di truyền đa gen, trội, lặn, giới tính, ....

Vì stress miễn kháng là phản ứng của cơ thể sinh vật đối với bất cứ tác

động nào của môi sinh để tự vệ và bảo tồn, cho nên mọi biện pháp để hạn chế

ảnh hưởng của stress và ngăn chặn hậu quả đều nhằm mục tiêu bảo vệ sự

sống của con vật và chất lượng sản phẩm của nó.



7



Khả năng thích nghi, khi điều kiện sống bị thay đổi như: thức ăn, thời

tiết, khí hậu, qui trình chăn ni, môi trường vi sinh vật xung quanh,... của gia

súc, gia cầm nói chung, gà lơng màu nói riêng có khả năng thích ứng rộng rãi

hơn đối với mơi trường sống (Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên (1998) [21]).

Marcro và cs. (1982) [49] cho biết sức sống được thể hiện ở thể chất và

được xác định trước hết bởi khả năng có tính chất di truyền ở động vật có thể

chống lại những ảnh hưởng bất lợi của môi trường cũng như ảnh hưởng khác

của dịch bệnh.

Như vậy, sức sống và khả năng kháng bệnh của đàn gia cầm phụ thuộc

vào nhiều yếu tố: di truyền và ngoại cảnh, trong đó ngoại cảnh giữ vai trò

quan trọng. Vì vậy trong chăn nuôi để nâng cao tỷ lệ nuôi sống, sức kháng

bệnh cũng như giảm tổn thất do bệnh tật cần tiến hành các biện pháp thú y và

chăm sóc ni dưỡng thích hợp với từng đối tượng và độ tuổi của vật nuôi.

2.1.3. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản

Khả năng sinh sản của gia cầm được thể hiện thơng qua các tính trạng số

lượng như tuổi thành thục sinh dục, năng suất trứng, tỷ lệ đẻ và chất lượng trứng.

2.1.3.1. Tuổi thành thục sinh dục

Sự thành thục về tính là thời điểm các cơ quan sinh dục đã phát triển và

hoàn chỉnh, độ thành thục sinh dục của con mái được xác định qua tuổi đẻ quả

trứng đầu tiên, tuổi đẻ này được tính tốn dựa trên số liệu của từng gia cầm,

do vậy mà nó phản ánh được mức độ biến dị của tính trạng. Đối với quần thể

khơng theo dõi được cá thể thì tuổi thành thục về tính được tính khi tồn bộ

đàn có tỷ lệ đẻ đạt 5%.

Tuổi thành thục sinh dục có liên quan chặt chẽ đến sức đẻ trứng của gia

cầm. Tuổi thành thục sớm cũng là một tính trạng mong muốn trong chọn giống

gia cầm, tuy nhiên tuổi thành thục lại có tương quan với khối lượng cơ thể. Khi

chọn lọc tăng khối lượng cơ thể thì tuổi thành thục cũng tăng theo và ngược lại

khi chọn lọc giảm khối lượng cơ thể thì tuổi thành thục cũng giảm theo.



8



2.1.3.2. Năng suất trứng

Năng suất trứng là số trứng một gia cầm mái sinh ra trong một đơn vị

thời gian. Đối với gia cầm đẻ trứng, đây là chỉ tiêu năng suất quan trọng nhất,

phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục. Năng suất

trứng là một tính trạng số lượng nên nó phụ thuộc nhiều vào giống, đặc điểm

của cá thể, hướng sản xuất, mùa vụ và dinh dưỡng.

+ Cơ sở giải phẫu của năng suất trứng

Các nhà phôi thai học cho rằng trứng gà là một tế bào sinh sản khổng

lồ. Cấu tạo của trứng bao gồm: lòng đỏ, lòng trắng, màng vỏ và vỏ.

Buồng trứng có chức năng tạo lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng

tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao

ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng lưu lại trong ống dẫn trứng từ 20 - 24 giờ.

Các tài liệu nghiên cứu của nhiều tác giả như Card L.E and Nesheim

M.C (1970) [43] đều xác định ở giai đoạn phôi thai, hai phía phải và trái của

gà mái đều có buồng trứng phát triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên

phải tiêu biến chỉ còn lại buồng trứng bên trái.

Frege A (1978) [8] xác định số lượng trứng lúc gà bắt đầu đẻ từ 900 3600 nhưng chỉ có một số lượng hạn chế trứng chín và rụng. Trong thời gian

phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào, khơng có

liên kết với biểu bì phát triển, tầng tế bào này phát triển trở thành nhiều tầng và

sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo gọi là follicun trông giống

như một cái túi. Trong thời kì đẻ trứng, nhiều follicun chín dần làm thay đổi

hình dạng buồng trứng trơng giống như “chùm nho”. Sau thời kì đẻ trứng,

buồng trứng trở lại hình dạng ban đầu, các follicun trứng vỡ ra, quả trứng

chín chuyển ra ngồi cùng với dịch của follicun và rơi vào phễu ống dẫn

trứng. Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh dục.

Các tài liệu nghiên cứu đều cho rằng, hầu hết vật chất lòng đỏ trứng gà

được tạo thành trước khi đẻ trứng 9 - 10 ngày. Trong 1 - 3 ngày đầu, tốc độ

sinh trưởng của lòng đỏ chậm, khi đường kính đạt 6 mm bắt đầu vào thời kì

sinh trưởng cực nhanh và có thể tăng 4 mm trong 24 giờ cho tới khi đạt 40



9



mm. Tốc độ sinh trưởng của lòng đỏ khơng tương quan đến cường độ đẻ

trứng. Q trình hình thành trứng và rụng trứng là một quá trình sinh lý phức

tạp do sự điều khiển của hormone. Thời gian từ lúc đẻ trứng đến khi rụng quả

trứng tiếp theo kéo dài từ 15 - 75 phút.

+ Năng suất trứng và tỷ lệ đẻ

Hutt F. B. (1978) [12] đề nghị tính năng suất trứng của gia cầm từ khi

bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên, còn theo Brandsch H. và Biichel H. (1978) [4]

cho rằng năng suất trứng được tính đến 500 ngày tuổi. Theo các tác giả trên

năng suất trứng cũng được tính theo năm sinh học (365 ngày) kể từ khi đẻ quả

trứng đầu tiên. Tuy nhiên, trong thời gian gần đây, năng suất trứng được tính

theo tuần tuổi, thông thường các thời điểm quan trọng nhất đối với gà là năng

suất trứng 38, 68 hoặc 72 tuần tuổi. Một số hãng gia cầm nổi tiếng trên thế

giới như: Shaver (Canada), Lohmann (Đức), Sasso (Pháp)... năng suất trứng

được tính 70 - 80 tuần tuổi.

Năng suất trứng là tính trạng có mối tương quan nghịch chặt chẽ với

tốc độ sinh trưởng sớm, do vậy trong chăn nuôi gà sinh sản, cần chú ý cho gà

ăn hạn chế trong giai đoạn gà dò, gà hậu bị để đảm bảo năng suất trứng trong

giai đoạn sinh sản. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào số lượng và chất

lượng thức ăn, phụ thuộc vào mức năng lượng, hàm lượng protein và các

thành phần khác trong khẩu phần thức ăn. Năng suất trứng có hệ số di truyền

khơng cao, nhưng lại dao động lớn. Nguyễn Văn Thiện (1995) [25] cho biết,

hệ số di truyền năng suất trứng của gà là 0,12 - 0,3.

Về tỷ lệ đẻ gà có tỷ lệ đẻ thấp trong mấy tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó

tăng dần và đạt tỷ lệ cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và đạt tỷ lệ đẻ

thấp ở cuối thời kỳ sinh sản. Sản lượng trứng/năm của một quần thể gà mái

cao sản, được thể hiện theo quy luật cường độ đẻ trứng cao nhất vào tháng thứ

hai, thứ ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ. Để tiến hành chọn giống về sức

đẻ trứng Hutt F.B (1978) [12] đã áp dụng ổ đẻ có cửa sập tự động để kiểm tra

số lượng trứng của từng gà mái. Các tác giả cho rằng sản lượng trứng 3 tháng

đẻ đầu và sản lượng trứng cả năm có tương quan di truyền chặt chẽ (0,7 - 0,9).



10



Năng suất trứng của gà Lương Phượng Hoa/48 tuần đẻ đạt trung bình

158,63 quả/mái (Vũ Ngọc Sơn và cs. (1999) [22]). Phùng Đức Tiến và cs.

(2004)[29] nghiên cứu trên gà Ai Cập, công bố năng suất trứng từ 22 - 61 tuần

đạt 175,36 quả/mái.

2.1.3.3. Hiệu quả sử dụng thức ăn

Theo Chambers và cs. (1984) [45], hiệu quả sử dụng thức ăn được định

nghĩa là mức độ tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị sản phẩm. Từ mức độ tiêu

tốn thức ăn người ta tính được chi phí thức ăn. Đây là một chỉ tiêu kinh tế

quan trọng trong chăn nuôi gia cầm, theo ước tính chi phí thức ăn thường

chiếm 70 - 75% giá thành của sản phẩm vật nuôi, cho nên việc giảm chi phí

thức ăn thường được quan tâm hàng đầu đối với các nhà di truyền chọn giống.

Đối với gà ni sinh sản thì hiệu quả sử dụng thức ăn được tính là tổng lượng

thức ăn tiêu thụ giai đoạn hậu bị và tiêu tốn thức ăn cho 10 quả trứng giai

đoạn sinh sản, còn đối với gà ni thương phẩm thịt thì hiệu quả sử dụng thức

ăn được tính là tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng.

Chambers J. R. (1990) [44] đã xác định được hệ số tương quan giữa

khối lượng cơ thể và tăng khối lượng cơ thể với tiêu tốn thức ăn thường rất

cao (0,5 - 0,9). Còn tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là âm

từ - 0,2 đến - 0,8.

Hiệu quả sử dụng thức ăn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau.

Đoàn Xuân Trúc và cs. (1993) [35] cho biết tiêu tốn thức ăn cho một đơn vị

sản phẩm phụ thuộc vào đặc điểm di truyền của từng dòng giống gia cầm. Lê

Hồng Mận và cs. (1993) [18] cho biết nuôi gà broiler đến 9 tuần tuổi tiêu tốn

2,39 - 2,41kg thức ăn cho một kg tăng trọng. Đoàn Xuân Trúc và cs. (1993)

[35], nghiên cứu trên 4 công thức lai AV35, AV53, V135, V153 cho biết tiêu

tốn thức ăn cho một kg tăng trọng ở 56 ngày tuổi của các công thức lai tương

ứng là 2,34kg; 2,23kg; 2,26kg; 2,32kg.

Hiệu quả sử dụng thức ăn không những phụ thuộc vào đặc điểm di

truyền của từng dòng giống gia cầm mà nó còn phụ thuộc vào chế độ dinh

dưỡng. Nguyễn Thị Mai (2009) [17] cho biết, các mức năng lượng khác nhau



11



trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng thức ăn. Tác giả cho biết

cùng hàm lượng protein, khi tăng mức năng lượng trong 1 kg thức ăn từ 2.900

đến 3.200 kcal đã làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn. Nói cách khác đã làm

giảm tiêu tốn thức ăn cho 1 kg tăng khối lượng cơ thể gà broiler ở 7 tuần tuổi

từ 2,41 xuống 2,15kg.

2.1.3.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của gia cầm

Sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác

nhau, mỗi yếu tố ảnh hưởng đến sức đẻ trứng ở mức độ nhất định. Một số

yếu tố chính ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm như các yếu tố di

truyền cá thể, giống dòng gia cầm, tuổi, chế độ dinh dưỡng, điều kiện ngoại

cảnh (Nguyễn Thị Mai và cs. (2009) [17]).

+ Các yếu tố di truyền cá thể

Có 5 yếu tố di truyền ảnh hưởng đến sức đẻ trứng của gia cầm: tuổi

thành thục sinh dục, cường độ đẻ trứng, tính nghỉ đẻ, thời gian kéo dài chu kỳ

đẻ trứng sinh học và tính ấp bóng.

Tuổi thành thục sinh dục có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm.

Theo Brandsch H. và Biichel H. (1978) [4] tuổi thành thục sinh dục sớm là

một tính trạng mong muốn đối với gà nhưng lại phải liên quan với khối lượng

cơ thể, nếu không trứng đẻ ra sẽ nhỏ. Tuổi thành thục sinh dục và kích thước

cơ thể có tương quan nghịch. Chọn lọc theo hướng tăng khối lượng quả trứng

sẽ dẫn đến tăng khối lượng cơ thể và tuổi đẻ quả trứng đầu tiên.

Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Chu kỳ đẻ

trứng là số lượng trứng đẻ ra mà không bị ngắt đoạn, còn gọi là trật đẻ, có thể

được lấy làm tiêu chuẩn cho cường độ đẻ trứng. Thời gian đẻ kéo dài của trật

đẻ liên quan đến chặt chẽ với số lượng ánh sáng, do đó có thể tác động lên

đặc điểm này bằng sự chiếu sáng nhân tạo. Cường độ đẻ trứng tương quan rất

chặt với sức đẻ trứng của cả năm. Card L. E. và Nesheim M. C. (1970) [43]

cho rằng, cường độ đẻ trứng thường được xác định theo khoảng thời gian 30 60 ngày và 100 ngày. Các tác giả này còn cho biết, đối với các giống gà

chuyên trứng cao sản thường có cường độ đẻ trứng lớn nhất vào tháng thứ hai



12



và ba sau đó giảm dần đến hết năm đẻ. Nguyễn Mạnh Hùng và cs. (1994)

[11], cho biết có sự tương quan rất chặt chẽ giữa cường độ đẻ trứng của 3 - 4

tháng đầu tiên với sức đẻ trứng cả năm. Vì vậy, người ta thường dùng cường

độ đẻ trứng ở 3 - 4 tháng tuổi đầu tiên để dự đoán sức đẻ trứng của gia cầm

mà ghép đôi và chọn lọc giống. Cường độ đẻ trứng còn liên quan mật thiết

với thời gian hình thành trứng và chu kỳ đẻ trứng.

Thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng sinh học liên quan đến thời vụ nở

của gia cầm con. Tùy thuộc vào thời gian nở mà sự bắt đầu và kết thúc của

chu kỳ đẻ trứng sinh học có thẻ xảy ra trong thời gian khác nhau trong năm.

Thường ở gà, chu kỳ này kéo dài một năm. Chu kỳ đẻ trứng sinh học có mối

tương quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ

trứng và chu kỳ đẻ trứng. Giữa tuổi thành thục và thời gian kéo dài chu kỳ đẻ

trứng sinh học có mối tương quan nghịch rõ rệt.

Tính ấp bóng hay bản năng đòi ấp trứng của gia cầm là phản xạ khơng

điều kiện có liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm. Trong tự nhiên, tính ấp

bóng giúp gia cầm duy trì nòi giống. Bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào các

yếu tố di truyền do đó rất khác giữa các giống và các dòng. Các dòng, giống

nhẹ cân có tần số thể hiện bản năng đòi ấp thấp hơn các dòng nặng cân và

trung bình. Gà Leghorn và gà Goldline hầu như khơng còn bản năng đòi ấp.

Bản năng đòi ấp là một đặc điểm di truyền của gia cầm, nó là một phản xạ

nhằm hồn thiện q trình sinh sản. Song với thành công trong lĩnh vực ấp

trứng nhân tạo, để nâng cao năng suất trứng của gia cầm cần rút ngắn và làm

mất hoàn toàn bản năng ấp trứng. Bởi vì bản năng ấp trứng là một yếu tố ảnh

hưởng đến sức bền đẻ trứng và sức đẻ trứng.

Các yếu tố di truyền cá thể phụ thuộc vào các gen khác nhau và ảnh

hưởng ở mức độ khác nhau đến sức đẻ trứng. Muốn nâng cao sức đẻ trứng

qua một số ít thế hệ phải bắt đầu chọn lọc trên cả 5 yếu tố nói trên.

+ Giống, dòng gia cầm

Giống, dòng gia cầm có ảnh hưởng rất lớn đến sức sản xuất trứng của

gia cầm. Các giống khác nhau có khả năng đẻ trứng là khác nhau: giống gà



13



Kabir năng suất trứng trung bình là 195 quả/mái/năm, gà Brown Nick năng

suất trứng trung bình là 300 quả/mái/năm. Các giống gà được chọn lọc theo

hướng chuyên trứng thường có năng suất trứng cao hơn các giống gà kiêm

dụng và các giống gà chuyên thịt, các giống gà nội thường có năng suất trứng

thấp hơn so với các giống gà nhập ngoại.

+ Tuổi gia cầm

Tuổi gia cầm cũng có liên quan đến năng suất trứng. Năng suất trứng

của gà giảm dần theo tuổi, thường thì sản lượng năm thứ hai giảm 15 - 20%

so với năm thứ nhất (Nguyễn Thị Mai và cs. (2009) [17]). Một số loại gia cầm

như vịt và ngỗng thì năng suất trứng năm thứ hai cao hơn năm thứ nhất.

+ Chế độ dinh dưỡng

Thức ăn và dinh dưỡng có quan hệ chặt chẽ với khả năng đẻ trứng.

Muốn gia cầm có năng suất trứng cao, chất lượng trứng tốt thì phải đảm bảo

một khẩu phần ăn đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng theo nhu cầu.

Quan trọng nhất là cân bằng giữa năng lượng và protein, cân bằng các axit

amin, cân bằng các chất khống và vitamin. Thức ăn có chất lượng kém sẽ

khơng thể cho năng suất cao, thậm chí còn gây bệnh cho gia cầm. Các loại

thức ăn bảo quản không tốt bị nhiễm nấm mốc, các loại thức ăn bị nhiễm độc

kim loại nặng, thuốc bảo vệ thực vật… Thậm chí các loại thức ăn hỗn hợp

đảm bảo đầy đủ và cân bằng các chất dinh dưỡng nhưng bảo quản không tốt

cũng sẽ không phát huy được tác dụng trong chăn nuôi gia cầm (Nguyễn Thị

Mai và cs. (2009) [17]).

+ Điều kiện ngoại cảnh

Các yếu tố ngoại cảnh như nhiệt độ, độ ẩm, ánh sáng, mùa vụ... ảnh

hưởng rất lớn tới sức đẻ trứng của gia cầm.

Mùa vụ có ảnh hưởng rõ rệt đến sức đẻ trứng của gà. Ở nước ta vào

mùa hè sức đẻ trứng giảm xuống so với mùa xuân, đến mùa thu thì sức đẻ

trứng của gà lại tăng lên.

Nhiệt độ môi trường xung quanh có liên quan mật thiết với năng suất

trứng. Nhiệt độ thích hợp cho gia cầm đẻ trứng là 18 - 24 0C. Nếu nhiệt độ



14



dưới giới hạn thì gia cầm phải huy động năng lượng để chống rét và nhiệt độ

cao trên nhiệt độ giới hạn thì cơ thể gia cầm phải thải nhiệt. Nhiệt độ môi

trường cao làm giảm lượng thức ăn thu nhận, giảm hiệu quả sử dụng thức ăn

từ đó làm giảm năng suất trứng và chất lượng trứng (Nguyễn Thị Mai và cs.

(2009) [17]). Vỏ trứng mỏng hơn bình thường nếu kết hợp với dinh dưỡng

khơng hợp lý thì gia cầm đẻ trứng khơng có vỏ.

Liên quan chặt chẽ với nhiệt độ là độ ẩm không khí của chng ni,

độ ẩm thích hợp từ 65 - 70%. Độ ẩm cao kết hợp với nhiệt độ cao sẽ gây

stress nóng ẩm rất bất lợi với gia cầm, làm giảm khả năng đẻ trứng, chất

lượng trứng và giảm hiệu quả chăn ni.

Ngồi nhiệt độ và độ ẩm, chế độ chiếu sáng cực kỳ quan trọng trong

chăn nuôi gia cầm nói chung và gà đẻ trứng nói riêng. Gia cầm khơng chỉ cần

ánh sáng để nhìn và tìm thức ăn, nước uống, nơi ở… mà nó còn khởi động cơ

quan sinh dục.

2.1.3.5. Khả năng thụ tinh và ấp nở

Kết quả thụ tinh là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá về khả năng

sinh sản của con trống và con mái. Tỷ lệ thụ tinh phụ thuộc vào nhiều yếu tố

như tuổi, di truyền, tỷ lệ trống mái, mùa vụ, điều kiện ngoại cảnh, dinh

dưỡng, chọn đôi giao phối,....

Tỷ lệ nở là một chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của phôi, sức sống của

gia cầm non. Đối với những trứng có chỉ số hình thái chuẩn, khối lượng trung

bình của giống sẽ cho tỷ lệ ấp nở cao nhất.

Các yếu tố di truyền gây chết và nửa gây chết được biểu hiện là gà con

không thể nở ra hoặc chết trong giai đoạn đầu của phôi. Phần lớn các yếu tố

gây chết di truyền dưới dạng các gen lặn rất khó loại bỏ trong q trình chọn

lọc cũng như tìm ngun nhân gây chết trong cơng tác ấp trứng nhân tạo.

Ngồi ra, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ ấp nở như: Chất

lượng trứng, thời gian và chế độ bảo quản trứng, chế độ ấp (nhiệt độ, ẩm độ,

thơng thống, đảo trứng,...). Hệ số di truyền của tỷ lệ trứng thụ tinh là 0,11 -



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×