Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

lạc sẽ phát triển nhanh hơn và rộng hơn. Khuẩn lạc thường tạo chất nhầy mạnh,

độ nhầy càng rõ và tăng nếu như vi khuẩn được nuôi cấy vài giờ vào mơi trường

nước thịt có bổ sung huyết thanh trước khi cấy sang môi trường đặc hoặc thạch

máu. Dạng khuẩn lạc trên môi trường thạch thường nhỏ và khô hơn trên mơi

trường có bổ sung dinh dưỡng.

- Trên mơi trường thạch máu: Vi khuẩn hình thành khuẩn lạc tròn, gọn,

hơi vồng, sáng trắng, mịn, dung huyết sau 24 giờ nuôi cấy.

- Trên môi trường MacConkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ ni cấy, hình

thành các khuẩn lạc nhỏ bằng đầu đinh ghim (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001) [15].

2.1.3. Đặc tính sinh hóa

Vi khuẩn Streptococcus suis có khả năng lên men đường glucose, lactose,

succrose, inulin, trehalose, maltose, fructose; không lên men các loại đường

ribose, arabinose, sorbitol, mannitol, dextrose và xylose. Các phản ứng Oxydase,

Catalase, Indol: Âm tính (Trịnh Phú Ngọc, 2002) [10].

* Cấu trúc kháng nguyên

- Vi khuẩn Streptococcus suis có cấu trúc kháng nguyên rất phức tạp và

có rất nhiều kháng ngun đã được tìm thấy đó là:

+ Kháng nguyên thân (Somatic antigen): Kháng nguyên thân có ý nghĩa

quan trọng trong việc quyết định độc lực của Streptococcus suis. Kháng nguyên

thân nằm ở thành vi khuẩn (Cell wall) và được cấu tạo bởi các phân tử

peptidoglycan ở lớp trong cùng (N-acetylglucosamine và N-acetylmuramic acid),

tiếp đến là lớp giữa gồm các polysaccharide (N-acetylglucosamine và rhamnose),

lớp ngoài cùng là các protein gồm M protein, lipoteichoic acid, R và T protein.

+ Kháng ngun bám dính (Fimbriae antigen): Vai trò của kháng ngun

bám dính của Streptococcus suis còn chưa được biết đến một cách rõ ràng, nhưng có

ý kiến cho rằng chúng đóng vai trò quan trọng trong việc giúp vi khuẩn bám dính

vào tế bào biểu mơ của vật chủ. Vi khuẩn Streptococcus suis là một trong số ít các

loại vi khuẩn Gram dương có mang cấu trúc này. So với các loại vi khuẩn khác thì

kháng ngun bám dính của vi khuẩn Streptococcus suis có cấu trúc mỏng, ngắn,

đường kính khoảng 2 m, và dài có khi tới 200 m (Jacques và cs, 1990) [24].

4



+ Kháng nguyên giáp mô (Capsule antigen): Kháng ngun giáp mơ có vai

trò quan trọng trong việc bảo vệ vi khuẩn, kháng lại khả năng thực bào của cơ 33

thể vật chủ. Nhiều nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng các chủng Streptococcus suis có

giáp mơ thì có độc lực và có khả năng gây bệnh, còn các chủng khơng có giáp mơ

thì khơng có khả năng này (Higgins và Gottschalk, 2002) [22].

- Phân loại vi khuẩn Streptococcus suis theo serotype:

Trước đây, Streptococcus suis được phân loại huyết thanh học thành các

nhóm theo ký hiệu S, R, RS và T. Sau đó, các nhóm S, R và RS này lần lượt

được thay thế bằng các serotype ký hiệu lần lượt là serotype1; 2 và 1/2 (Windsor

và Elliot, 1975) [36], còn nhóm T được thay thế bằng serotype 15 (Gottschalk và

cs, 1989) [20]. Các chủng Streptococcus suis được phân thành 35 serotype dựa

trên cấu trúc kháng nguyên polysaccharide của giáp mô (ký hiệu từ 1 đến 34 và

1/2) (Perch và cs, 1983; Higgins và cs, 1995) [27], [23]. Trong đó, đáng chú ý

nhất là các chủng Streptococcus suis thuộc serotype 2 phân lập được thường

xuyên nhất ở lợn và cũng là nguyên nhân gây ra các thể bệnh nguy hiểm khác

nhau ở lợn và người (Higgins và Gottschalk, 2002) [23]. Các chủng thuộc các

serotype gây ra các thể bệnh khác nhau. Thậm chí các chủng vi khuẩn thuộc

cùng một serotype cũng có thể gây ra các thể bệnh khác nhau do vùng địa lý mà

chúng phân bố. Một số serotype khơng có độc lực và có thể được phân lập từ

lợn khỏe mạnh, khơng có triệu chứng lâm sàng như các serotype 17; 18; 19 và

21 (Higgins và Gottschalk, 2002) [23].

Đỗ Ngọc Thúy và cs (2009) [16] khi xác định serotype trong 211 chủng

Streptococcus suis phân lập được từ lợn tại các tỉnh miền Bắc Việt Nam cho biết số

chủng thuộc serotype 2 chiếm tỷ lệ cao nhất 14/211 chủng (6,6%); serotype 9 có

10/211 chủng (4,7%); serotype 9, 31, 32 có 7/211 chủng (3,3%); các serotype 7,

serotype 17 và serotype 21 có tỷ lệ tương đương là 1,4%; serotype 8 chiếm 0,9%.

2.1.4. Các yếu tố độc lực của vi khuẩn

Những hiểu biết về các yếu tố độc lực của vi khuẩn Streptococcus suis

còn rất hạn chế, phần lớn những nghiên cứu được tiến hành với các chủng thuộc

serotype 2. Các nhà khoa học đều có chung quan điểm là có sự tồn tại của chủng

5



độc và chủng không độc của vi khuẩn Streptococcus suis serotype 2. Thành phần

polysaccharide của giáp mô (capsular polysaccharide - CPS) được xác định là

yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn này vì các chủng đột biến khơng có giáp

mơ đều thể hiện là khơng có độc tính và nhanh chóng bị loại bỏ khỏi hệ thống

tuần hoàn của lợn và chuột 34 trong các thí nghiệm gây nhiễm thực nghiệm. Tuy

vậy khơng phải tất cả các chủng có giáp mơ đều là chủng độc (Lun và cs, 2007)

[25]. Các yếu tố độc lực khác ngồi polysaccharide giáp mơ của Streptococcus

suis, bao gồm:

- Yếu tố gây dung huyết, hay còn gọi là “suilysin” có trọng lượng phân tử

65 kDa và có độ phóng xạ riêng là 0,7x106 Units/ mg. Suilysin (SLY) thuộc về

nhóm độc tố với những đặc điểm chung là dễ bị oxy hố và bị hoạt hóa bởi một

số hóa chất khử, dễ bị ức chế bởi cholesterol với nồng độ lỗng, ức chế tính hoạt

động của một số lượng ít, gốc N- của chuỗi amino acid của suilysin giống với

perfringolysin O, streptolysin O, listeriolysin O, alveolysin, pneumolysin. Trong

điều kiện invitro trên chuột và lợn đã được chứng minh là có khả năng tạo ra miễn

dịch khi được tiêm vaccine chứa suilysin để kháng lại vi khuẩn Streptococcus

suis serotype 2 gây bệnh. Suilysin là yếu tố độc lực quan trọng của vi khuẩn S.

suis vì sự trung hồ của yếu tố này đủ để bảo vệ chuột thí nghiệm chống lại các

tác động có hại của vi khuẩn S. suis serotype 2 (Gottschalk và cs, 1998) [21].

- Hai loại protein là protein giải phóng muramidase (Muramidase released protein - MRP) có trọng lượng phân tử 136 kDa và protein giải phóng

yếu tố ngoại bào (Extracellular factor - EF) đã được xác định là các yếu tố độc

lực quan trọng trong sinh bệnh học của Streptococcus suis serotype 2 gây bệnh ở

lợn và người (Vecht và cs, 1991) [33]. Các nghiên cứu về gây bệnh thực nghiệm

trên lợn cũng đã cho thấy các chủng vi khuẩn có mang 2 yếu tố gây bệnh này

(MRP+ và EF+) đã được phân lập từ các phủ tạng của lợn sau khi gây nhiễm với

các triệu chứng điển hình của bệnh, trong khi đó các chủng không mang các yếu

tố gây bệnh này (MRP- và EF-) có thể phân lập được thường xuyên trong

amidan của lợn khỏe và khơng có khả năng gây bệnh cho lợn thí nghiệm (Vecht

và cs,(1985), (1991), (1992) [35] [33] [34]; Smith và cs, 1992) [31]). Ở Việt Nam,

6



Nguyễn Ngọc Nhiên và cs (1994) [13] tiêm 0,2 ml vi khuẩn Streptococcus suis

vào dưới da cho chuột bạch, chuột chết sau 24 - 36 giờ, chỗ tiêm áp xe có mủ và

đã phân lập lại được vi khuẩn từ máu tim .

2.2. Bệnh viêm phổi lợn do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra

2.2.1. Đặc điểm bệnh

Bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn đã được thông báo là

xảy ra ở hầu khắp các nước trên thế giới đặc biệt là các nước có ngành chăn ni

lợn phát triển. Khả năng gây bệnh của S. suis phụ thuộc vào nhiều yếu tố như

sức đề kháng của con vật, điều kiện vệ sinh mơi trường, chế độ chăm sóc ni

dưỡng, thời tiết khí hậu, tính chất kháng nguyên và độc lực của vi khuẩn sản

sinh. Bệnh có thể bị lây nhiễm từ trại lợn này sang trại khác thông qua vật chủ

trung gian là ruồi. Enright và cs (1987) [19] cho biết ruồi có thể mang S. suis

serotype 2 tới 5 ngày và có thể làm nhiễm mầm bệnh vào thức ăn mà chúng đậu

phải ít nhất là trong vòng 4 ngày .Pijoan (1996) [28] đã xác định hầu hết lợn sau



cai sữa đều 36 có mang các chủng vi khuẩn S. suis nhưng chỉ có một số ít các

chủng này có khả năng gây bệnh cho lợn giai đoạn sau đó.

2.2.2.Triệu chứng và bệnh tích

Clifton-Hadley (1983) [18] nghiên cứu ở lợn gây bệnh thực nghiệm và quan

sát lợn trong các ổ dịch tự nhiên cho thấy lợn từ 1- 3 tuần tuổi thường mắc thể viêm

não và viêm màng não với các triệu chứng như ủ rũ, kém ăn, sưng hầu, khó nuốt, đi

lại khó khăn, lơng khơ, dựng đứng, sốt, da mẩn đỏ. Lợn hoạt động khó khăn, đi lại

loạng choạng, khi nằm có biểu hiện tư thế như bơi chèo, tê liệt. Lợn mắc bệnh có

hiện tượng viêm một khớp, khớp viêm thường là khớp bẹn, đầu gối hoặc khớp bàn

chân. Các tổn thương đầu tiên bao gồm thủy thũng, sưng khớp, màng khớp sung

huyết, dịch khớp đục. Triệu chứng và các thể bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis

gây ra ở lợn là rất phức tạp, khó nhận biết và khó phân biệt khi bệnh có biểu hiện

bội nhiễm, kế phát bởi một số vi khuẩn khác. Các biến đổi về bệnh tích vi thể khơng

có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não, phổi, tim và các

khớp. Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm não, viêm phổi - màng

phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ (Reams và cs, 1994,1996)[29][30].



7



Các thể bệnh và bệnh tích của bệnh do các serotype khác nhau gây ra là

không giống nhau (Vansconcelos và cs, 1994) [32]. Các biến đổi về bệnh tích vi

thể khơng có sự sai khác giữa các serotype gây bệnh và thường tập trung ở não,

phổi, tim và các khớp. Các tổn thương quan sát thấy như viêm màng não, viêm

não, viêm phổi - màng phổi có mủ hoặc viêm phổi kẽ (Reams và cs, 1994) [31].

Các triệu chứng bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra ở lợn rất đa dạng,

bao gồm như viêm não, nhiễm trùng máu, viêm khớp, viêm nội tâm mạc, viêm

đa thanh mạc, viêm màng bụng, viêm phổi và thường dẫn đến chết đột ngột

(Higgins và cs, 2002; Lun và cs, 2007) [22], [25]). Lê Văn Tạo (2005) [14] cho

biết để gây bệnh vi khuẩn S. suis sau khi vào cơ thể sẽ nhân lên tại hạch hạch

nhân rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết, nên triệu chứng đầu tiên là sốt 40,6 41,7º C, triệu chứng thần kinh như run rẩy, đứng không vững, liệt, dẫn đến chết.

Triệu chứng, bệnh tích và các thể bệnh thường thấy:

- Thể nhiễm trùng huyết:

+ Lợn bệnh sốt rất cao (41 - 42ºC), chảy nước mắt, ly bì, nằm bệt, niêm

mạc đỏ sẫm, da đỏ tím từng mảng. Lợn bệnh chết trong khoảng 1 đến 3 ngày, tỷ

lệ chết lên đến 100%.

+Bệnh tích: da đỏ tím từng mảng, tụ huyết và xuất huyết ở một số phủ

tạng (lách, thận, hạch lâm ba).

- Thể viêm não tuỷ:

+ Lợn bệnh sốt cao, bỏ ăn, đi lại siêu vẹo, run rẩy, co giật, nôn mửa, hôn

mê và chết sau 2-3 ngày. Bệnh thường thấy ở lợn sau cai sữa và lợn từ 2-3 tháng

tuổi, tỷ lệ chết 100%.

+ Bệnh tích: màng não tụ huyết và xuất huyết, dịch não và tủy vẩn đục.

- Thể viêm họng, viêm phế quản, viêm phổi:

+ Lợn bệnh sốt cao, chảy nước mắt, dịch mũi, họng sưng, bỏ ăn, thở khó,

thở nhanh; da tụ huyết từng mảng. Thể này thường gặp ở lợn con và lợn sau cai

sữa, tỷ lệ chết 60 -70%.

+ Bệnh tích: hạch amidan sưng, tụ máu, niêm mạc phế quản tụ huyết,

niêm mạc mũi có màng giả, tiểu phế quản và phế nang viêm có dịch thẩm xuất,

8



có mủ và bọt khí; hạch phổi sưng, tụ huyết. Lợn bị bệnh thể phổi gây ra bệnh

tích ở phổi có các mức độ biểu hiện khác nhau từ viêm phổi - màng phổi dạng

nhục hố đến viêm phổi dạng fibrin có mủ.

- Thể viêm hạch:

+ Lợn sốt cao, hạch hầu và hạch mang tai sưng thủy thũng, sau thành

apxe mủ, lâu thành bã đậu. Bệnh thấy ở lợn vỗ béo, diễn biến 5-8 ngày, tỷ lệ

chết 20-30%.

+ Bệnh tích: hạch hầu, hạch trước vai, trước đùi sưng tụ huyết ở giai đoạn

đầu, giai đoạn cuối viêm bã đậu.

2.2.3. Các biện pháp phòng bệnh

- Phòng bệnh bằng vệ sinh, chăm sóc, ni dưỡng và quản lý trong chăn

nuôi lợn việc chia đàn, phân ô chuồng theo từng loại lợn là rất cần thiết. Với lợn

con sau cai sữa, cần chia thành các ô nhỏ để đạt được tốc độ tăng trưởng tối đa

vì khả năng lây truyền bệnh khi nuôi nhốt với mật độ cao là rất lớn. Để chủ động

phòng bệnh ở lợn do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra cần:

+ Thường xuyên thực hiện phun thuốc diệt ruồi, muỗi để ngăn chặn nguồn

mang mầm bệnh vào chuồng trại. Thu gom rác, phân, chất độn chuồng, nước

thải; phun thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các loại thuốc sát trùng như

NaOH 2%, Benkocid Han-Iodine 10% ... theo đúng qui định.

+ Chú trọng khâu chăm sóc ni dưỡng và quản lý đàn; hạn chế sự xâm

nhiễm và lây lan dịch bệnh nên thực hiện chính sách “Cùng vào cùng ra”.

+ Bổ sung kháng sinh vào thức ăn để giảm tỷ lệ lợn khoẻ mang trùng

+ Lợn con sau khi sinh cần được bú đầy đủ sữa đầu của mẹ để có đủ

kháng thể bảo vệ chúng trong giai đoạn đầu - là giai đoạn dễ cảm nhiễm với

bệnh nhất.

+ Loại bỏ những lợn mang trùng và có hướng điều trị kịp thời lợn mắc bệnh.

+ Khơng được vận chuyển lợn từ vùng có dịch sang vùng khác.

Đối với các vùng chăn nuôi tập trung và các trang trại, biện pháp tốt nhất

là tự sản xuất lấy con giống. Khi nhập lợn về phải ni cách ly tại khu vực ni



9



cách ly ít nhất 15 ngày. Sau đó kiểm tra thấy lợn khoẻ mạnh bình thường và

khơng có dấu hiệu gì về bệnh thì mới tiến hành cho nhập đàn.

+ Khi có dịch xảy ra, phải cách ly những con bệnh ra khu vực nuôi cách

ly để tránh lây lan. Theo dõi và điều trị kịp thời những con bị bệnh. Với những

con không có khả năng chữa khỏi thì tiến hành loại thải. Trong q trình theo

dõi, phải cách ly tuyệt đối khơng được nhập đàn mới vào, thường xuyên phun

thuốc tiêu độc, tẩy uế chuồng trại bằng các thuốc sát trùng nhằm nhanh chóng

tiêu diệt mầm bệnh Phạm Sỹ Lăng và cs, (2012) [5].

- Phòng bệnh bằng vaccine Hiện nay, các loại vaccine được sử dụng để

phòng bệnh do Streptococcus suis gây ra cho lợn chủ yếu là các vaccine chuồng

và hiệu quả bảo hộ của các loại vaccine này cũng chưa được xác định một cách

rõ ràng. Có thể do một số nguyên nhân của hiện tượng kháng nguyên bị biến

tính mất tính đặc hiệu do q trình xử lý bằng nhiệt hoặc formalin, do sự sản

sinh kháng thể đối với các kháng ngun mà khơng có liên quan đến độc lực của

vi khuẩn và sự thiếu hụt các chủng Streptococcus suis hay serotype liên quan

đến quá trình sinh bệnh học Higgins và cs, (2002) [22]. Các nhà khoa học cũng

đã chế tạo thử nghiệm nhiều loại vaccine khác nhau như vaccine toàn khuẩn,

vaccine sống nhược độc, vaccine tiểu phần (chế từ kháng nguyên giáp mô hoặc

các protein thành tế bào). Tuy nhiên, miễn dịch bảo hộ ở chuột hoặc lợn thí

nghiệm được tiêm các loại vaccine này cũng rất thất thường và không ổn định.

Trong một số trường hợp khẩn cấp, việc lựa chọn dùng vaccine vẫn là phương

thức tối ưu nhất để bảo vệ đàn lợn. Ở Việt Nam, từ các kết quả nghiên cứu về

bệnh cầu khuẩn ở lợn, Khương Thị Bích Ngọc (1996) [12] đã chế tạo vaccine cầu

khuẩn chết có bổ trợ keo phèn tiêm phòng cho lợn nái, đạt hiệu quả bảo hộ tương

đối cao. Tuy nhiên, hiện nay việc sử dụng vaccine cầu khuẩn để tiêm phòng cho

đàn lợn ở nước ta chưa được phổ biến rộng rãi, bệnh liên cầu khuẩn vẫn thường

xuyên xẩy ra ở lợn gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi.



10



2.2.4. Điều trị bệnh

Trong thực tế, khi sử dụng kháng sinh có độ mẫn cảm cao để điều trị cho

lợn mắc bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra đã mang lại hiệu quả. Tuy

nhiên, sử dụng kháng sinh để điều trị phải dùng sớm và chỉ có hiệu quả tốt khi

con vật chưa có biểu hiện triệu chứng lâm sàng nặng hay chưa có biểu hiện quá

ủ rũ, bỏ ăn. Điều trị muộn thì hiệu quả sẽ rất kém hoặc khơng có hiệu quả. Chẩn

đốn phát hiện sớm bệnh do vi khuẩn Streptococcus suis gây ra và điều trị bằng

kháng sinh thích hợp là biện pháp nhằm tăng khả năng sống sót cho đàn lợn.

2.3. Tình hình nghiên cứu trong và ngồi nước

2.3.1. Tình hình nghiên cứu trong nước

Theo Trịnh Phú Ngọc và cs (1999) [11] cho biết: Các chủng Sreptococcus

phân lập được từ lợn các tỉnh phía bắc Việt Nam đều mang hình thái, tính chất

sinh hóa giống như các chủng chuẩn đã được mô tả trong các tài liệu trước đây.

Kiểm tra tính chất mọc của Streptococcus trên môi trường: Thạch thường: khuẩn

lạc mọc yếu, khuẩn lạc trắng, trong, tròn, gọn. Thạch máu: khuẩn lạc mọc tốt,

màu hơi tím, lồi, tròn, gọn, mịn, dung huyết. Thạch Edward: khuẩn lạc nhỏ mịn,

ướt, tròn gọn, trong, mặt hơi lồi, màu hơi tím. Thạch Shapman: khơng mọc, màu

đỏ tươi. Nước thịt 5% huyết thanh: mọc tốt, hơi đục.Trên môi trường

MacConkey: Vi khuẩn mọc tốt, sau 24 giờ nuôi cấy, hình thành các khuẩn lạc

nhỏ bằng đầu đinh ghim (Nguyễn Như Thanh và cs, 2001; Trịnh Phú Ngọc và cs,

1999; Phạm Sỹ Lăng và cs, 2006) [15], [11], [7]. Theo (Lê Văn Tạo, 2005) [14]

cho biết: Streptococcus ln có mặt trong hạch amidan và xoang mũi của một

số lợn khỏe mà khơng có triệu chứng lâm sàng. Streptococcus có thể gây bệnh

quanh năm, nhưng các vụ dịch thường xảy ra vào đầu mùa xuân hoặc sau khi

có những thay đổi thời tiết đột ngột. Bệnh có thể lây qua đường tiêu hóa, hơ

hấp và qua da.

Gần đây nhất là ở Tứ Xuyên, Trung Quốc ổ dịch liên cầu khuẩn bắt đầu

xuất hiện từ cuối tháng 6 năm 2005 đến tháng 8 năm 2005. Theo thống kê có

6736 lợn bị mắc bệnh vói 641 ổ dịch, số lợn chết là 319 con. Quan trọng hơn

vi khuẩn liên cầu thuộc serotype 2 đã làm cho 214 ngưòi bị nhiễm bệnh và 44

11



ngưòi tử vong (Đăng Văn Kỳ, 2007 [3])

Cũng theo Phạm Sỹ Lăng, 2007 [4] Võ Tiến Thoại, Khương Bích Ngọc

(1981-1983) đã nghiên cứu các ổ dịch viêm đường hô hấp cấp, nhiễm trùng

huyết ở lợn do liên cầu khuẩn ở Hà Nội và Hà Nam.

Nguyễn Thị Nội và Nguyên Ngọc Nhiên, (1993) [9] đã điều tra hệ vi

khuẩn đường hô hấp của 162 lợn bị bệnh ho thở truyền nhiễm thấy rằng tỷ lệ

phân lập được S. suis 74%.

Thời gian gần đây, theo nghiên cứu của Viện thú y Quốc gia đã phân lập

được 35 serotype, trong đó serotype 2 có 8 chủng. Tuy nhiên đầu năm 2007 đến

nay không phát hiện được ổ dịch do vi khuẩn liên cầu hoặc các bệnh trên lợn ở

Việt Nam. Các trường hợp bị bệnh đơn lẻ, các thể chưa được xác định (Đăng

Văn Kỳ, 2007 [3]).

Ở Việt Nam, Trịnh Phú Ngọc (2002) [10] khi kiểm tra khả năng mẫn

cảm với kháng sinh của các chủng vi khuẩn Streptococcus phân lập được cho

thấy số chủng mẫn cảm với Penicillin G biến động từ 59,09 - 63,63%. Sau đó,

Trương Quang Hải và cs (2012)[1] khi xác định khả năng mẫn cảm với kháng

sinh của vi khuẩn Streptococcus suis phân lập được ở lợn mắc bệnh viêm phổi

cho biết các chủng vi 6 khuẩn Streptococcus suis mẫn cảm cao với các loại

kháng sinh như ceftiofur, florfenicol, amoxicillin, amikacin và có hiện tượng

kháng lại mội số kháng sinh streptomycin, neomycin, tetracycline, penicillin G.

Điều này đã thể hiện theo thời gian vi khuẩn Streptococcus suis đã có hiện tượng

kháng thuốc với một số kháng sinh thông dụng như streptomycin, neomycin,

tetracycline và penicillin G.

2.3.2. Tài liệu nghiên cứu ngoài nước

Các Streptococcus dung huyết alpha mới từ các nhiễm khuẩn huyết ở lợn

lần đầu tiên được Moore xác định về huyết thanh vào giữa năm 1956 - 1963 là

các nhóm Lancefield mới R, S, RS và T. Ở Anh, đã cho thấy rằng nhóm S của

Moore giống như Streptococcus PM và cả hai đều thuộc nhóm D Lancefield; đã

đặt tên là Streptococcus suis serotype1. Năm 1975, Windsor và Elliott đã phân

lập các streptococcus khác của lợn tương ứng với nhóm R của Moore và đặt tên

12



chúng là Streptococcus suis serotype 2. Các vi khuẩn phân lập được phản ứng

với cả kháng huyết thanh đối với serotype 1 và 2 được gọi là serotype V2 (nhóm

RS ban đầu). Phân lập Streptococcus thuộc nhóm T từ các mẫu tăm bơng ở hạch

amidan, âm đạo, nếp gấp đầu âm vật đã được Clifton - Hadley báo cáo vào năm

(1983) [18]. Nhóm T Lancefield được gọi là Streptococus suis serotype 15 năm

1989 (Gottschalk và cộng sự, 1989) [20].

Các chủng tham chiếu có nguồn gốc từ lợn bệnh, ngoại trừ typ 14 có giáp

mơ, phân lập được từ người, các typ có giáp mơ 17, 18, 19 và 21 được phân lập

từ lợn khỏe mạnh về lâm sàng, các typ có giáp mơ 20 và 31 từ các bò bị bệnh và

typ 33 từ cừu bị bệnh (Gottschalk và cộng sự, 1989; Higgins và cộng sự, 1995)

[20] [23]. Lồi này có sự khác biệt về mặt di truyền và khơng có mối quan hệ đặc

biệt với các loài Streptococcus khác được khảo sát. Sự đa dạng di truyền giữa các

thành viên của Streptococcus suis rất quan trọng và điều này cần được tính đến

trong chẩn đoán, giám sát và kiểm soát bệnh.

Mặc dù serotype 2 phân lập được chiếm ưu thế ở hầu hết các nước, tình

hình có thể khác nhau tùy thuộc vào vị trí địa lý. Ví dụ, tỷ lệ mắc nhiễm

serotype này từ gia súc bị bệnh ở Canada ở mức tương đối thấp (dưới 25%)

trong 10 năm qua (Higgins và Gottschalk 2002) [25]. Tình hình này rất khác so

với các nước Châu Âu, serotype 2 được phân lập thường xuyên ở Pháp, Ý và

Tây Ban Nha. Về vấn đề này, người ta giả thuyết rằng serotype. 2 ở Châu Âu và

Bắc Mỹ có thể có độc lực khác nhau. Ở Nhật, serotype 2 cũng là serotype phổ

biến nhất (28%) .

Vi khuẩn có thể sống sót trong nước ở 4°C trong 1-2 tuần. Ở trong phân

cấy thí nghiệm,vi khuẩn sống ở nhiệt độ 0°C, 9°C và 22-25°C được 104, 10, và

8 ngày tương ứng. Do đó vào mùa hè hoặc ở nhiệt độ từ 22-25°C, vi khuẩn có

thể tồn tại khoảng 8 ngày trong phân, nhưng < 24 giờ trong bụi. Streptococcus

suis serotype 2 đã thể hiện tồn tại trong xác chết để thối rữa ở các trại. Thời gian

sống sót là 6 tuần ở 4°C và 12 ngày ở 22-25°C, có khả năng tạo ra nguồn nhiễm

khuẩn được lây lan gián tiếp do chim, chuột, hoặc chó (Clifton-Hadley và cộng

sự 1983) [18]. Về vệ sinh các chuồng bị nhiễm, các chất tẩy uế khử trùng sử

13



dụng phổ biến có thể diệt Streptococcus suis serotype 2 trong vòng chưa đầy 1

phút, ngay cả ở các nồng độ trong nước cất thấp hơn so với các sản phẩm được

các nhà sản xuất khuyến cáo. Sự có mặt của chất bẩn và chất hữu cơ bảo vệ một

số vi khuẩn khỏi bị tác động của các chất tẩy uế hóa học, và do đó việc loại bỏ

bụi bẩn trên bề mặt chuồng nuôi là một phần quan trọng của quy trình tẩy uế.

Streptococcus suis typ 2 đã sống sót trong 2 giờ ở 50°C, nhưng chỉ trong 10 phút

ở 60°C. Nước nóng có thể được sử dụng, nhưng nước từ máy giặt áp suất nóng

sẽ nguội đi trên bề mặt chuồng và thường dưới 50°C. Do đó, giá trị của nó là

làm lỗng vi sinh vật gây ô nhiễm và rửa sạch bề mặt bẩn chứ không phải là giết

chết bằng nhiệt (Clifton-Hadley và Enright 1983) [18].

Phần lớn nghiên cứu về các yếu tố độc lực của S. suis đã được ttiến hành

với các chủng của serotype 2, các nhà nghiên cứu đồng ý về sự tồn tại của các

chủng vi khuẩn có độc lực và các chủng khơng có độc lực của serotype này. Hậu

quả là có sự khác biệt tồn tại trong các tài liệu liên quan đến độc lực của cùng

một chủng (Gottschalk et al.1998) [21]. Một trong những ứng dụng thực tiễn

quan trọng nhất của việc xác định các yếu tố độc lực là sử dụng yếu tố đánh dấu

độc lực để phân biệt độc lực với các chủng không có độc lực. Cho đến nay, chưa

có chất đánh dấu độc lực như vậy cho Streptococcus suis. CPS là yếu tố chống

thực bào quan trọng, và những phát hiện này đã làm thay đổi đáng kể các nghiên

cứu về sinh bệnh học của viêm màng não Mặc dù thực tế CPS thể hiện là yếu tố

độc lực quan trọng, nhiều chủng khơng có giáp mơ khơng có độc lực cho thấy có

các yếu tố độc lực quan trọng khác.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×