Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

(******)



: chiều dày vỏ trứng (mm)



Từ bảng 4.1 cho ta thấy: Các chỉ tiêu vật lý thay đổi theo từng ngày.

Nhưng thay đổi nhiều nhất ở ngày 7 bảo quản. Chỉ số HU (còn gọi là độ tươi

của trứng) thường được sử dụng như một chỉ số phản ánh trạng thái chất lượng

của trứng tươi trong quá trình bảo quản [35, 37]. Trứng trước 24h sau khi đẻ có

chỉ số HU trung bình 97,42, sau 7 ngày bảo quản ở nhiệt độ thường các chỉ số

chất lượng đã giảm xuống rõ rệt (71,65), kéo theo đó hạng chất lượng trứng

thay đổi xuống A. Chỉ số cường độ màu lòng đỏ giảm từ 13,67 đến 8,83; chiều

cao lòng trắng giảm từ 9,53mm xuống còn 5,13mm. Sự sai khác có ý nghĩa

thống kê ở mức P<0,05.

Theo chúng tôi, sự thay đổi các chỉ tiêu vật lý này là do phần lòng trắng

đặc vỡ ra và giảm dần, chiều cao lòng trắng đặc giảm trong khi hao hụt khối

lượng không nhiều dẫn đến các chỉ số giảm xuống.

Độ dày vỏ trứng có ý nghĩa quan trọng cả về kỹ thuật và kinh tế. Nó quan

hệ đến tỷ lệ dập vỡ trong q trình thao tác đóng gói, ấp trứng, vận chuyển.

Trong q trình bảo quản độ cứng vỏ trứng và chiều dày vỏ trứng không thay

đổi.

Như vậy, với việc xác định mức độ biến đổi các chỉ tiêu vật lý của trứng

qua các ngày bảo quản ở nhiệt độ thường. Chúng tôi thấy: Trứng được bảo quản

7 ngày đã có sự sai khác về chiều cao lòng trắng, cường độ màu lòng đỏ, chỉ số

Haugh unit. Từ cơ sở đó, tơi tiến hành kiểm tra trứng theo bố trí thí nghiệm 7

ngày/1 lần.

4.2. Nghiên cứu khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi

sinh vật vào bên trong trứng của màng bọc chitosan

Chitosan có khả năng kháng lại các vi sinh vật gây bệnh như: E.coli,

Salmonella, Streptococcus mutans, Staphylococcus areus và Vibrio cholera,

39



Vibrio parahaemolytycus rất tốt. Tuy nhiên, khả năng ức chế và làm ngưng hoạt

động đối với vi sinh vật của chitosan còn phụ thuộc vào nồng độ (S. Roller và

N. Covill, 1999) [26].

Để xem xét tác dụng kháng khuẩn và khả năng ngăn cản sự xâm nhập vi

sinh vật vào bên trong trứng của các mẫu thí nghiệm ở các thời gian bảo quản

khác nhau, chúng tôi tiến hành kiểm tra tổng số vi khuẩn vi sinh vật ngay sau

khi đập vỡ trứng. Chỉ tiêu kiểm tra là tổng số vi khuẩn hiếu khí có trong 1ml

lòng trắng trứng pha lỗng ở nồng độ 10-1. Kết quả được trình bày tại bảng sau:

Bảng 4.2: Kết quả kiểm tra tổng vi khuẩn hiếu khí có trong 1ml lòng trắng

trứng ở các nồng độ khác nhau (cfu/ml)

Thời



Mẫu đối chứng



Nồng độ chitosan (%)



gian bảo

quản



ĐC – 1



ĐC – 2



CT – 1



CT – 2



CT – 3



CT – 4



(ngày)

7

5,9×10

5,1×10

3,9×10

3,3×10

2,5×10

1,9×10

14

15,6×10 15,4×10

7,9×10

7,2×10

5,7×10

4,9×10

21

29,2×10 28,9×10 16,4×10 15,8×10 12,6×10 10,9×10

28

47,4×10 45,6×10 24,7×10 23,9×10 19,5×10 15,6×10

35

75,6×10 74,2×10 54,7×10 51,8×10 39,7×10 32,1×10

Qua bảng 4.2 cho thấy: Thời gian bảo quản càng dài thì mật độ vi

khuẩn hiếu khí càng tăng lên. Nồng độ chitosan càng cao thì mức độ vi

khuẩn xâm nhập càng giảm.

Với mẫu ĐC – 1, khi bảo quản đến 35 ngày thì tổng số vi khuẩn hiếu khí

đã tăng lên rất nhiều từ 5,9×10 đến 75,6×10 cfu/ml. Mẫu ĐC – 2 tổng số vi

khuẩn có phần suy giảm hơn nhưng giảm không đánh kể so với mẫu ĐC – 1

tăng từ 5,1×10 đến 74,2×10 cfu/ml. Điều này cho thấy, dung dịch acid axetc

1,5% khơng có khả năng ngăn cản sự xâm nhập của vi khuẩn vào bên trong

trứng.

40



Khi sử dụng chitosan ở các nồng độ khác nhau để bảo quản, tổng số vi

khuẩn hiếu khí trong trứng khác nhau. Kiểm tra 7 ngày của quá trình bảo quản,

tổng số vi khuẩn ở mẫu CT – 1 là 3,9×10 cfu/ml, mẫu CT – 2 là 3,3×10 cfu/ml,

CT – 3 là 2,5 ×10 cfu/ml, mẫu CT – 4 là 1,9×10 cfu/ml. Khi kiểm tra ở 35ngày

của quá trình bảo quản, mức độ vi khuẩn ở các mẫu sử dụng chitosan lần lượt là

54,7×10 cfu/ml, 51,8×10 cfu/ml, 39,1×10 cfu/ml và 32,1×10 cfu/ml.

Như vậy, nồng độ chitosan càng cao thì khả năng ức chế tổng số vi khuẩn

càng tốt. Sở dĩ do dung dịch chitosan đã tạo thành một lớp màng bảo vệ dày hạn

chế sự xâm nhập vi khuẩn tốt hơn, cụ thể nồng độ 2% là tốt nhất so với các

nồng độ còn lại.

Tuy nhiên, trong thời gian bảo quản không chỉ những biến đổi thành phần

và số lượng vi sinh vật có trong trứng mà cả các biến đổi hóa lý cũng góp phần

làm giảm giá trị thương phẩm của trứng gà tươi. Do đó việc khảo sát những

biến đổi các chỉ tiêu hóa lý là cần thiết để làm cơ sở đưa ra những nhận định về

hiệu quả bảo quản của dung dịch chitosan trên đối tượng trứng gà tươi thương

phẩm.

4.3. Nghiên cứu ảnh hưởng của chitosan tới chất lượng và thời gian bảo

quản trứng

Với mục đích xem xét khả năng bảo quản của màng bọc chitosan trên đối

tượng trứng gà tươi ở nhiệt độ thường, chúng tôi tiến hành so sánh hiệu quả bảo

quản của chúng với các mẫu đối chứng trên cơ sở so sánh những biến đổi của

các chỉ tiêu chất lượng trứng qua thời gian bảo quản khác nhau.

Sau mỗi khoảng thời gian bảo quản 7 ngày trứng được đem kiểm tra các

chỉ tiêu chất lượng. Trên cơ sở xử lý số liệu và so sánh các giá trị trung bình,

các chỉ tiêu chất lượng của các mẫu trứng thí nghiệm có những biến đổi như

sau:

41



4.3.1. Kết quả biến đổi hao hụt khối lượng

Đối với trứng gà tươi thương phẩm, tỷ lệ hao hụt khối lượng là một chỉ tiêu

chất lượng khá quan trọng. Mặc dù không phản ánh chất lượng bên trong

trứng, nhưng trong cùng một điều kiện bảo quản thơng qua chỉ tiêu này có thể

gián tiếp biết được mức độ biến đổi về sinh hóa, vi sinh diễn ra bên trong

trứng làm ảnh hưởng đến thời hạn của trứng.

Kết quả xác định biến đổi hao hụt khối lượng của các mẫu thí nghiệm sau

35 ngày bảo quản được trình bày tại bảng 4.3:



Bảng 4.3: Biến đổi hoa hụt khối lượng trứng theo thời gian bảo quản bằng

màng chitosan (%)

Mẫu



Thời gian bảo quản (Ẍ±sd)

14 ngày

21 ngày

28 ngày



TN



7 ngày



ĐC – 1



1,09A,c±0,04



2,07B,c±0,03



4,04C,c±0,08



5,58D,e±0,23



7,89E,f±0,07



ĐC – 2



1,06A,c±0,09



2,03B,c±0,05



4,01C,c±0,12



5,3D,d±0,06



7,65E,f±0,14



1,71B,b±0,11



2,84C,b±0,12



4,19D,c±0,13



5,55E,d±0,12



CT – 1 0,75 A,b±0,06



35 ngày



CT – 2



0,74A,b±0,06



1,65B,b±0,13



2,73C,b±0,11



3,41D,b±0,19



4,58E,c±0,14



CT – 3



0,37A,a±0,01



0,62B,a±0,02



1,24C,a±0,02



2,03D,a±0,04



3,56E,b±0,11



0,59B,a±0,03



1,11C,a±0,03



1,86D,a±0,09



2,94E,a±0,04



CT – 4 0,35 A,a±0,02

Trong đó:



 Các giá trị trung bình hao hụt khối lượng theo cột có cùng chữ cái in

thường là khơng có sự sai khác ở mức ý nghĩa p<0,05.

42







Các giá trị trung bình hao hụt khối lượng theo hàng có cùng chữ cái in hoa là khơng có



sự sai khác ở mức ý nghĩa p<0,05.



Từ kết quả hao hụt khối lượng trứng chúng tơi có đồ thị sau:

9.00

8.00

7.00

6.00



ĐC - 1

ĐC - 2

CT - 1

CT - 2

CT - 3

CT - 4



5.00

4.00

3.00

2.00

1.00

0.00

0 ngày



7 ngày



14 ngày



21 ngày



28 ngày



35 ngày



Hình 4.1: Biểu đố biến đổi hao hụt khối lượng trứng (%)

Qua bảng 4.3 cho thấy: Phần trăm hao hụt khối lượng ở tất cả các mẫu

đều tăng theo thời gian bảo quản. Mức độ hao hụt khối lượng ở hai mẫu ĐC ở

hầu hết các thời điểm kiểm tra đều lớn hơn so với các mẫu sử dụng chitosan.

Thời gian bảo quản khác nhau, mức độ hao hụt khối lượng khác nhau.

Thời gian bảo quản càng dài thì ảnh hưởng của màng bao đến hao hụt khối

lượng trứng càng rõ nét hơn. Sau 35 ngày bảo quản, mức độ hao hụt khối

lượng trứng thấp nhất ở mẫu CT – 4 (2,94%), cao nhất 7,89% ở ĐC – 1. Điều

này cho thấy rằng, chitosan có tác dụng đáng kể trong việc giảm hao hụt khối

lượng trứng. Sự hao hụt khối lượng nguyên nhân chủ yếu là do sự thốt khí và

hơi nước từ bên trong trứng ra ngồi mơi trường trong suốt thời gian bảo quản

thơng qua các lỗ khí ở vỏ trứng. Ở các mẫu bọc màng, chính màng chitosan

hình thành trên bề mặt vỏ trứng với chức năng như một màng bán thấm có tác

dụng bịt các lỗ khí, hạn chế sự thốt khí và hơi nước.



43



Hai mẫu ĐC – 1 và ĐC – 2 hao hụt khối lượng khi kiểm tra 35 ngày bảo

quản là giảm 7,89% và 7,65% so với khối lượng ban đầu của trứng. Chứng tỏ

rằng việc xử lý bề mặt trứng bằng dung dịch acid axetic 1,5% khơng có tác

dụng trong việc giảm hoa hụt khối lượng trứng so với trứng chưa qua xử lý.

Xét về nồng độ chitosan, các mẫu có nồng độ chitosan từ 0,5 – 2% có độ

giảm khối lượng theo thời gian bảo quản thấp hơn so với hai mẫu ĐC. Kết thúc

q trình thí nghiệm (35 ngày), sự hao hụt khối lượng ở các nồng độ lần lượt là:

5,55%, 4,58%, 3,56%, 2,94%. Có thể thấy rằng nồng độ chitosan càng cao thì

sự hao hụt khối lượng càng giảm (sự sai khác có ý nghĩa thống kê ở mức

p<0,05).

Xét về thời gian bảo quản, thì trong những ngày đầu của quá trình bảo

quản, mức hao hụt khối lượng có su hướng chậm hơn so với các thời điểm 15

– 35 ngày bảo quản. Nguyên nhân có sự khác biệt như vậy là các q trình

phân giải các thành phần bên trong trứng khác nhau ở các thời điểm gây nên.

Trong khoảng 14 ngày đầu bảo quản, do tác dụng của các chất kháng khuẩn có

trong lòng trắng trứng chưa chịu ảnh hưởng ảnh hưởng đáng kể của những

biến đổi phân hủy hóa sinh do hoạt động sống của vi sinh vật gây thối gây

nên. Tuy nhiên thời gian bảo quản càng kéo dài, hoạt chất của các hợp chất

kháng khuẩn giảm dần, hoạt động vi sinh vật diễn ra càng mạnh khiến lòng

trắng trứng bị phân giải và loãng dần, làm sản sinh nhiều các chất dễ bay hơi.

Kết quả làm tăng nhanh hao hụt khối lượng trứng.

Như vậy, màng bọc chitosan có nồng độ 0,5 – 2 % đã có tác dụng hạn chế

đáng kể hao hụt khối lượng trứng gà trong suốt thời gian bảo quản ở nhiệt độ

thường. Trong đó 2 mẫu bọc màng với nồng độ chitosan 1,5 % và 2% có khả

năng hạn chế hao hụt khối lượng tốt hơn so với màng chitosan 0,5% và 1%.



44



Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu

của tác giả Lê Thanh Long (2006) khi nghiên cứu sử dụng dung dịch chitosan

và phụ liệu để kéo dài thời gian bảo bảo trứng gà tươi [8].

4.3.2. Kết quả biến đổi chỉ tiêu chất lượng lòng trắng trứng

Giá trị Haugh unit (Raymond Haugh, 1973), được xác định thông qua

chiều cao lòng trắng đặc và khối lượng trứng, thường được sử dụng như một

chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng của lòng trắng trứng. Chỉ số HU

càng cao chứng tỏ chất lượng lòng trắng càng tốt. Do vậy, trong nhiều trường

hợp chỉ số HU còn được gọi là chỉ số độ tươi của trứng và được dùng làm căn

cứ để đánh giá xếp loại hạng chất lượng trứng tươi [29].

Kết quả xác định chỉ số HU và phân loại hạng chất lượng trứng của các

mẫu thí nghiệm sau 35 ngày bảo quản đươc trình bày ở bảng 4.3 và 4.4:

Bảng 4.4: Biến đổi chỉ số HU theo thời gian bảo quản

Thời gian bảo quản (Ẍ±sd)



Mẫu

TN



0 ngày



7 ngày



14 ngày



21 ngày



28 ngày



35 ngày



ĐC – 1



97,42±1,47(*)



67,25A,d±1,64



52,48A,c±3,52



23,96A,b±4,34



-(**)



-



ĐC – 2



97,42±1,47



69,14A,d±1,19



53,02A,c±2,97



25,02A,b±4,08



-



-



CT – 1



97,42±1,47



63,58B,d±2,29



52,04B,c±3,14



37,02B,b±3,50



23,14B,a±3,71



CT – 2



97,42±1,47



75,67B,e±1,24

76,27B,e±1,95



66,58B,d±1,54



55,55B,c±2,83



42,32B,b±3,68



24,69B,a±4,43



CT – 3



97,42±1,47



82,62C,d±1,69



79,54C,d±2,16



65,06C,c±3,88



54,34C,b±4,78



45,24C,a±4,15



CT – 4



97,42±1,47



85,80C,d±1,74



82,13C,d±2,31



67,08C,c±2,48



56,97C,b±2,29



48,25C,a±4,66



(*)



: Giá trị HU trung bình của 6 quả trứng ở thời điểm 0 ngày.



(**)



: Không xác định do chiều cao lòng trắng thấp (<0,15mm)



Trong đó:

45







các giá trị trung bình HU theo cột có cùng chữ cái in hoa là khơng có sự sai khác ở







mức ý nghĩa p<0,05.

các giá trị trung bình HU theo hàng có cùng chữ cái in thường là khơng có sự sai khác

ở mức ý nghĩa p<0,05.



Từ bảng 4.3 ta có đồ thị sau:

120



100



80

ĐC - 1

ĐC - 2

CT - 1

CT - 2

CT - 3

CT - 4



60



40



20



0

0 ngày



7 ngày



14 ngày



21 ngày



28 ngày



35 ngày



Hình 4.2: Biểu đồ biến đổi chỉ số HU

Qua bảng 4.3 và hình 4.2 cho thấy:

Chỉ số HU của trứng gà ở tất cả các mẫu đều giảm dần theo thơi gian bảo

quản. Tuy nhiên các mẫu đối chứng (ĐC) mức độ giảm chỉ số HU nhanh hơn

so với các mẫu có bọc màng chitosan. Sau 21 ngày bảo quản ở nhiệt độ thường,

chỉ số HU giảm từ giá trị ban đầu là 97,42 xuống còn 23,96 đối với mẫu không

bọc màng (ĐC – 1) và 25,02 đối với xử lý bề mặt bằng dung dịch acid axetic

(ĐC – 2). Đến khoảng thời gian 28 ngày cả 2 mẫu đối chứng ĐC đều không xác

46



định được giá trị HU. Điều này cho thấy, trứng qua xử lý bề mặt bằng dung dịch

acid axetic 1,5% ảnh hưởng không đáng kể đến khả năng hạn chế biến đổi chất

lượng lòng trắng so với trứng không qua xử lý bề mặt.

Đối với các mẫu trứng qua xử lý bằng chitosan 0,5%, 1%, 1,5%, và 2%

chỉ số HU vẫn xác định được đến ngày 35. Chỉ số HU cao nhất là mẫu chitosan

1,5% và 2% với các chỉ số lần lượt là 45,24 và 48,25tương đương với các nhóm

đối chứng ở thời điểm 14 ngày bảo quản. Còn các mẫu CT – 1, CT – 2, sau 35

ngày bảo quản chỉ số HU lần lượt là 23,14 và 24,69, tương đương với các nhóm

đối chứng ở thời điểm 21 ngày bảo quản. Kết quả cho thấy, chitosan có tác dụng

bảo quản rõ rệt, làm hạn chế biến đổi chất lượng lòng trắng trứng ít nhất nhất 10

– 15 ngày so với trứng không sử dụng chitosan.

Sự biến đổi chất lượng lòng trắng Theo Hayakawa (1983), cấu trúc của

lòng trắng đặc là phức hợp α-ovoomucin-lyzozim, ở pH = 7,4 phức hợp này ổn

định do được bảo vệ bởi β-ovomucin, khi ph lòng trắng tăng lên, làm khả năng

bảo vệ mất đi dẫn đến sự hóa lỏng của lòng trắng. Mặt khác, do pH tăng nên sự

phá hủy mối liên kết tĩnh điện giữa nhóm NH2+trong thành phần cấu trúc của

lysozyme và nhóm COO- trong thành phần của ovomucin, dẫn đến sự phá hủy

một phần phức hợp ovomucin-lyzozyme… Bên cạnh đó, tính chất sinh học của

một số protein trong lòng trắng trứng như antitrypsin và ức chế hoạt tính của

enzyme Proteaza bị giảm đi trong thời gian bảo quản hay hoạt tính của

lysozyme bị giảm đi 25% thấy trứng bảo quản ở 2°C sau 25 ngày [15]

Dựa vào việc xác định sự biến đổi chỉ số Haugh, ta có thể phân loại hạng

chất lượng trứng. Kết quả phân loại được thể hiện ở bảng 4.4:

Bảng 4.4: Biến đổi hạng chất lượng theo thời gian bảo quản

Mẫu TN

ĐC – 1

ĐC – 2

CT – 1

CT – 2

CT – 3

CT – 4



Thời gian bảo quản

0 ngày 7 ngày 14 ngày 21 ngày 28 ngày

AA(*)

A

B

C

-(**)

AA

A

B

C

AA

A

B

B

B

AA

AA

A47

B

B

AA

AA

AA

A

B

AA



AA



AA



A



B



35 ngày

C

C

B

B



Trong đó:

(*)



: Giá trị HU trung bình của 6 quả trứng ở thời điểm 0 ngày.



(**)



: Không xác định do trứng vữa.



Từ bảng 4.4 nhận thấy:

Hạng chất lượng có biến đổi đáng kể giữa các mẫu bọc màng và mẫu ĐC.

Hạng của hai mẫu ĐC giảm nhanh hơn so với các mẫu bọc màng và sau bảo

quản ngày 21 đã giảm xuống hạng C. Trong khi đó sau 28 ngày bảo quản chỉ có

mẫu chitosan 0,5% đạt hạng C, các mẫu sử dụng dung dịch chitosan tạo màng

có nồng độ cao hơn khác vẫn còn duy trì ở mức hạng B.

Ở các mẫu bọc màng sau 14 ngày bảo quản, trứng ở CT – 1 đã giảm

xuống hạng B khi hạng chất lượng ở CT – 2 CT – 3 và CT – 4 vẫn còn duy trì

ở hạng A (có chỉ số HU >60) là hạng chất lượng trứng thương phẩm thấp được

phép đưa vào mạng phân phối theo quy định của đa số thị trường nước ngoài.

Như vậy, đối với trứng gà tươi trong điều kiện bảo quản ở nhiệt độ

thường bằng dung dịch chitosan với các nồng độ từ 0,5% - 2% đã có tác dụng

khá rõ rệt, biến đổi chất lượng lòng trắng chậm hơn so với ĐC. Trong đó, trứng

qua xử lý bề mặt bằng dung dịch chitosan ở 2 nồng độ 1,5% và 2% có hiệu quả

bảo quản chất lượng lòng trắng tốt hơn so với 2 nồng độ 0,5% và 1%.

4.3.3. Kết quả biến đổi chỉ số YI

Chỉ só YI là tỷ số giữa chiều cao và đường kính của lòng đỏ, thường

được sử dụng như một trong những chỉ số quan trọng đánh giá mức độ biến đổi

chất lượng lòng đỏ và trạng thái lòng đỏ, chỉ số này càng cao thì càng tốt.chỉ số

này thay đổi tùy lồi, giống, cá thể.

Theo thời gian bảo quản lòng trắng lỗng ra, dây chằng và màng nỗn

hồn yếu dần do tác dụng phân giải của enzyme và sự phân hủy do vi sinh vật,

kết hợp với quá tình khuếch tán nước từ lòng trắng vào bên trong lòng đỏ, khiến

lòng đỏ dần bị dẹt ra khi đặt trên một mặt phẳng. Như vậy chỉ số YI sẽ giảm

48



dần theo thời gian bảo quản và thông qua mức độ biến đổi chỉ số YI có thể đánh

giá hiệu quả của các phương pháp bảo quản khác nhau.

Các mẫu thí nghiệm để xác định chỉ số YI được tiến hành ngay sau khi xác

định chỉ số HU. Kết quả được trình bày tại bảng 4.6:

Bảng 4.6: Biến đổi chỉ số YI theo thời gian bảo quản

Mẫu TN



Thời gian bảo quản (Ẍ±sd)

0 ngày

0,44±0,03(*)



ĐC – 1



7 ngày



14 ngày



21 ngày



28 ngày



35 ngày



0,33A,d±0,002



0,27A,c±0,006



0,17A,b±0,02



-(**)



-



0,34B,d±0,005



0,28A,c±0,010



0,18A,b±0,01



-



-



0,37C,e±0,007



0,31B,d±0,010



0,25B,c±0,01



0,17B,b±0,01



0,09B,a±0,01



0,39D,e±0,006



0,33C,d±0,005



0,28C,c±0,02



0,18B,b±0,01



0,12B,a±0,01



0,40E,e±0,001



0,36D,d±0,007



0,32D,c±0,01



0,29C,b±0,01



0,23C,a±0,04



0,41E,e±0,009



0,37D,d±0,004



0,35D,c±0,01



0,31D,b±0,01



0,28D,a±0,01



0,44±0,03

ĐC – 2

0,44±0,03

CT – 1

0,44±0,03

CT – 2

0,44±0,03

CT – 3

0,44±0,03

CT – 4

Trong đó:

(*)



: Giá trị YI trung bình của 6 quả trứng ở thời điểm 0 ngày.



(**)



: Không xác định do trứng vữa.







các giá trị trung bình YI theo hàng có cùng chữ cái in hoa là khơng có sự sai khác ở







mức ý nghĩa p<0,05.

các giá trị trung bình YI theo cột có cùng chữ cái in thường là khơng có sự sai khác ở

mức ý nghĩa p<0,05.



Từ kết quả bảng 4.6 ta có đồ thị sau:

49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×