Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Công tác thú y của trại

Công tác thú y của trại

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mầm bệnh



Nguồn bệnh



Động vật cảm thụ



Dịch bệnh

Mầm bệnh



Nhân tố truyền lây



Mầm bệnh



Hình 2.1. Qúa trình truyền lây dịch bệnh

2.2.1.1. Nguồn bệnh

Nguồn bệnh chính là khâu đầu tiên và chủ yếu của q trình sinh dịch. Là

nơi mầm bệnh có thể cư trú thuận lợi, sinh sôi nảy nở và từ đó trong những điều

kiện nhất định sẽ xâm nhập vào động vật cảm thụ bằng cách này hay cách khác

để gây bệnh. Có nhiều loại nguồn bệnh như: Động vật đang mắc bệnh, động vật

mang trùng, nguồn bệnh là người hay gia súc và nguồn dịch tự nhiên. Trong đó

động vật mang trùng là nguồn bệnh cực kỳ nguy hiểm chúng thường làm lây lan

dịch bệnh hơn cả động vật ốm. Ở một số bệnh truyền nhiễm, động vật mang

trùng có tác dụng quyết định làm cho dịch phát sinh. Các bệnh như: Dịch tả lợn,

phó thương hàn, tụ huyết trùng, lở mồm long móng…Là các bệnh thường phát

sinh từ động vật mang trùng.

2.2.1.2. Nhân tố trung gian truyền bệnh

Nhân tố trung gian truyền bệnh là khâu thứ 2 của q trình sinh dịch, có

vai trò chuyển tải mầm bệnh từ nguồn bệnh đến động vật cảm thụ. Mầm bệnh

sau khi được nguồn bệnh bài xuất ra ngoài sẽ tồn tại một thời gian nhất định

trong các nhân tố trung gian như: Yếu tố truyền lây sinh vật (côn trùng, tiết túc,

các động vật,…), yếu tố truyền lây không phải là sinh vật (đất, nước, khơng khí,

thức ăn, và xác chết…). Rồi sẽ bị tiêu diệt nếu như khơng có cơ hội xâm nhập

vào động vật cảm thụ.

2.2.1.3. Động vật cảm thụ

Động vật cảm thụ là những loài động vật có khả năng mắc một bệnh

truyền nhiễm nào đó. Đây là khâu thứ 3 không thể thiếu được trong quá trình

7



sinh dịch. Có nguồn bệnh và các nhân tố trung gian truyền bệnh nhưng nếu cơ

thể động vật không cảm thụ với bệnh (do có miễn dịch) thì dịch bệnh không thể

phát sinh. Vậy sức cảm thụ của động vật với bệnh là điều kiện bắt buộc để dịch

phát sinh và phát triển. Sức cảm thụ đối với bệnh phụ thuộc vào sức đề kháng

của chúng. Do vậy ta phải tăng sức đề kháng cho động vật cảm thụ bằng cách

chăm sóc ni dưỡng, vệ sinh và định kỳ tiêm phòng vaccine hoặc kháng huyết

thanh…Để tăng cường hệ thống miễn dịch không đặc hiệu và miễn dịch đặc

hiệu của động vật cảm thụ làm cho dịch bệnh không thể phát sinh.

2.3. Một số bệnh truyền nhiễm thường gặp ở gà thịt hiện nay

Chăn ni gà thịt với điều kiện khí hậu nước ta và điều kiện cơ sở tại

trang trại với mật độ đơng thì gà cũng dễ mắc bệnh.Một số bệnh mà gà nuôi gà

thịt gà mắc phải gồm:

2.3.1. Bệnh hen (CRD) gà

Bệnh hen hay bệnh đường hô hấp mạn tính của gà (CRD) gây ra bởi vi

khuẩn Mycoplasma gallisepticum (MG) là một trong các bệnh quan trọng và gây

thiệt hại về kinh tế nghiêm trọng trong chăn nuôi gà: làm giảm sản lượng thân

thịt, giảm tiêu thụ thức ăn...

2.3.1.1.Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh

- Do một loại vi khuẩn có tên Mycoplasma galliseptium (MG) gây ra.

Mycoplasma ở trong cơ thể gà và gây bệnh khi có tác nhân gây stress như

thời tiết thay đổi đột ngột, chế độ dinh dưỡng kém, tiêm ngừa... Mycoplasma chỉ

sống được 1-3 ngày khi đã ra khỏi cơ thể (ở trong phân, dụng cụ chăn nuôi),

trong dịch nhầy chúng tồn tại lâu hơn (khoảng 4-5 ngày) trong lòng đỏ trứng tồn

tại đến 18 ngày.

Hầu hết các chất sát trùng đều có khả năng diệt Mycoplasma như: phenol,

formol, propiolactone, methiolate... Các loại kháng sinh có tác dụng điều trị

thuộc nhóm Tetracycline, Macrolides và Quinolones từ thế hệ thứ 2.

Cơ chế sinh bệnh:



8



- MG xâm nhập vào cơ thể gà qua đường hô hấp trên hoặc qua màng kết,

ký sinh và gây viêm nhẹ niêm mạc đường hô hấp, niêm mạc mũi và các xoang

quanh mũi, thành các túi hơi và từ đó đến các cơ quan bộ phận khác trong cơ thể

- Khả năng bám dính của MG vào tế bào biểu mơ đóng vai trò rất quan

trọng trong cơ chế gây bệnh. Những biến đổi ở lớp biểu mơ khí quản do MG có

thể đóng vai trò ngun phát hoặc thứ phát gây bệnh.

- MG có thể nhân lên trong tế bào khơng có chức năng thực bào, khiến

cho chúng đề kháng lại vật chủ cũng như kháng lại kháng sinh trong điều trị, gây

bệnh ở thể mạn tính, qua niêm mạc đường hơ hấp để gây nhiễm trùng tồn thân

2.3.1.2. Triệu chứng

- Thời gian nung bệnh từ 6 – 21 ngày.

- Triệu chứng đặc trưng của bệnh là chảy nước mắt nước mũi, sưng mặt.

Khi gà thở luôn phát ra tiếng khò khè ở khí quản, gà ln vẩy mỏ để thở. Gà bị

bệnh chậm lớn rõ rệt. Bệnh còn gây viêm khớp cấp tính ở các khớp mắt cá và

khớp khuỷu chân. Khớp khuỷu sưng rất to trong bao khớp có nhiều dịch nhầy.

Tư thế ngồi trên khuỷu là triệu chứng đặc trưng của gà bị bệnh CRD. Tỷ lệ chết

ở gà không đáng kể nếu không bị ghép với các bệnh khác nhưng ảnh hưởng

nghiêm trọng tới tăng trọng, tỷ lệ thân thịt và sức tiêu thụ thức ăn...

- Triệu chứng sẽ nặng hơn khi CRD ghép với một số bệnh khác, nhiều

nhất là E.coli, ND, IB... và thường được gọi là bệnh phức hợp (complicated

CRD – CCRD) với các triệu chứng giảm ăn, chảy nước mũi, xuất hiện âm rale

khí quản, ho, viêm kết mạc mắt, chảy nước mắt, sưng đầu, gà ủ rũ và chết sau

khi mắc bệnh 3 - 4 ngày, tử số có thể lên đến 30%, số còn lại chậm lớn.

2.3.1.3. Bệnh tích

- Dịch viêm xuất hiện ở xoang mũi, hai lỗ mũi và cả ở túi khí. Dịch tiết

lúc đầu trong, có nhiều bọt, về sau trở nên vàng và đục hơn.

- Túi khí dày lên hoặc trở nên đục, có nhiều bọt khí hoặc phủ những hạt

fibrin.

- Viêm màng bao quanh gan

- Viêm màng bao tim.

9



- Viêm xoang mũi.

- Viêm kết mạc mắt.

- Lách sưng to.

- Viêm phổi (nếu có sự kết hợp với các loại vi trùng khác).

2.3.1.4. Phòng bệnh

+ Vệ sinh chuồng trại, vệ sinh máy ấp thật tốt và bằng các loại thuốc sát trùng.

+ Nuôi gà với mật độ vừa phải, cần lưu ý đến tiểu khí hậu chuồng ni,

trong đó thơng thống và mát là 2 yếu tố quan trọng, chuồng trại thiếu thơng

thống, nồng độ các loại khí độc như: NH2 , H2S, Clor, CO2 cao, các khí này gây

các tổn hại nhất định ở xoang mũi, thanh khí quản... Sẽ tạo điệu kiện cho sự

bùng nổ CRD và các bệnh hô hấp khác.

+ Trên đàn gà giống, thường xuyên tiến hành kiểm tra máu để loại thải

các gà dương tính với CRD.

+ Cung cấp đầy đủ các loại vitamin nhất là vitamin A, vitamin C, các chất

điện giải nhằm tăng cường sức đề kháng của đàn gà.

+ Sử dụng kháng sinh hoặc vaccin ngừa bệnh. Tuy nhiên việc tiêm phòng

CRD đơi khi có thể làm cho đàn gà phát bệnh nếu trước đó đã bị nhiễm CRD.

+ Nhiều nhà chăn nuôi thường dùng kháng sinh để phòng bệnh, sau một

thời gian dài sử dụng, nhiều kháng sinh trước đây nhạy cảm với Mycoplasma

nay đã bị đề kháng như Tylosin, Erythromycine, Spiramycin, Oxytetracycline...

2.3.1.5. Điều trị

MG có khả năng mẫn cảm với nhiều loại thuốc kháng sinh thuộc nhóm

macrolides, tetracyclines, fruoroquinolones và nhiều loại kháng sinh khác nhưng

lại kháng với kháng sinh nhóm penicillin, các kháng sinh hoạt động theo cơ chế

ức chế tổng hợp màng tế bào.

Một số kháng sinh được sử dụng để điều trị bệnh do MG gây ra:

- Oxytetracycline hoặc chlotetracycline với liều 200g/tấn thức ăn, cho ăn

liên tục trong vài ngày.

- Tylosin tiêm dưới da với liều 7 – 10mg/kg thể trọng hoặc cho uống 2 –

3g/4,5 lít nước uống trong vòng 3 – 5 ngày.

10



- Tiamulin hoặc tiamuli + doxycilin có thể dùng để điều trị.

2.3.2. Bệnh cầu trùng ở gà

Tuy là bệnh ký sinh trùng, nhưng lại lây lan rất nhanh và chủ yếu qua đường

miệng. Bệnh gây nhiều thiệt hại về kinh tế cho người chăn nuôi. Bệnh làm tăng số

gà còi, giảm tốc độ lớn cho tồn đàn, gây chết cao ở gà con từ 30 – 100%.

2.3.2.1. Nguyên nhân

Mầm bệnh là các loài cầu trùng thuộc giống Eimeria. Trong đó chủ yếu

lồi gây bệnh là:



11



Bảng 2.1. Các loại cầu trùng gây bệnh cho gà

T

T



Lồi



Tác giả,

năm mơ tả



Hình

dạng



Kích thước

(µ)



Lỗ nỗn

(có, khơng)



Màu sắc



Thời gian sản

sinh

bào tử

(giờ)



Vị trí

ký sinh



1



Eimeria tenella



Orlov, 1975



bầu dục



(14,2 - 20,0)

x (9,5 - 24,8)



không



xanh nhạt



18 - 48



Manh

tràng



2



Eimeria maxima



Tyzzer, 1929



bầu dục



(21,4-42,5)

x (16,5-29,8)



khơng



hơi vàng,

vỏ hơi xù xì



30 - 48



giữa ruột

non



3



Eimeria acervulina



Tyzzer, 1929



bầu dục



(16,0-20,3)

x (12,7-16,3)







khơng màu



13 - 17



đầu ruột

non



4



Eimeria mivati



Tyzzer, 1929



trứng



(10,7 - 20,0)

x (10,1 - 15,3)







khơng mầu



18 - 21



tá tràng



5



Eimeria mitis



Tyzzer, 1929



Hơi

tròn



(11 – 19)

x (10 – 17)







khơng màu



24



ruột non,

ruột già



khơng



khơng màu



24



ruột già,

cuối ruột

non







khơng màu



48



đầu ruột

non



6



Eimelỉa brunetti



Johnson, 1930



bầu dục



(20,7-30,3)

x (18,1-24,2)



7



Eimeria hagani



Levine, 1942



Bầu dục



(15,8-29,9)

x (14,3-29,5)



không



không màu



24 - 36



ruột non,

manh

tràng



không



không màu



24 - 36



đầu ruột

non



8



Eimeria necatrix



Tyzzer, 1929



bầu dục



(13-20)

x (13,1-18,3)



9



Eimeria praecox



Tyzzer, 1929



bầu dục



(16,6-27,7)

x (14,8-19,4)

12



- Lứa tuổi gà mắc bệnh cũng phụ thuộc loài cầu trùng, E.tenella chỉ gây

bệnh cho gà dưới một tháng tuổi, E.maxima gây bệnh cho gà trên hai tháng tuổi.

Gà con từ 15 - 45 ngày tuổi nhiễm các loài cầu trùng với tỷ lệ cao, chết nhiều.

- Đường lây nhiễm chủ yếu là qua hệ thống tiêu hóa. Gà ăn phải noãn

nang cảm nhiễm lẫn trong thức ăn, nước uống, chuồng nuôi, dụng cụ chăn nuôi

bị nhiễm cầu trùng.

- Điều kiện chuồng nuôi và môi trường chăn nuôi bị ô nhiễm sẽ làm mầm

bệnh tồn tại, lưu hành lâu dài. Chuồng trại chật chội, ẩm ướt, chất độn chuồng

để quá lâu ... là các yếu tố làm bệnh phát triển .

- Bệnh cầu trùng xảy ra quanh năm, nhưng tập trung vào các tháng nóng

ẩm mùa xn và mùa thu.

2.3.2.2. Vòng đời

- Cầu trùng có hai giai đoạn phát triển trong vòng đời: giai đoạn sinh sản

vơ tính và giai đoạn sinh sản hữu tính thực hiện trong cơ thể gà và một giai đoạn

sinh sản bào tử ở bên ngoài.

- Noãn nang là một giai đoạn phát triển của cầu trùng có hình bầu dục

hoặc tròn có lớp vỏ gồm hai màng bên trong có nguyên sinh chất và hạt nhân,

sau khi theo phân ra ngồi mơi trường, nỗn nang hình thành bào tử ở nhiệt độ,

độ ẩm, oxy thích hợp. Trong mỗi nỗn nang hình thành 4 bào tử nguyên bào

trong mỗi nguyên bào lại có hai bào tử thể. Nỗn nang có đủ 8 bào tử thể hồn

chỉnh sẽ có khả năng gây bệnh.

- Nỗn nang thành thục xâm nhập vào gia cầm qua đường tiêu hóa. Do tác

động của các enzym tiêu hóa đã phá hủy vỏ nỗn nang và giải phóng các bào tử

thể. Chúng phân chia vào thành ruột đôi khi vào mô bào dưới niêm mạc. Tại đây

phân chia hạt nhân tiếp tục xảy ra tạo thành các thể phân lập. Thể phân lập phân

chia chất nguyên sinh tạo ra nhiều vi thể nhỏ và dài là Merozoit. Merozoit tiếp tục

phân chia nhiều lần một phần tạo ra tế bào lớn có một nhân (Macrogametogene)

và một phần tạo thành các tế bào nhỏ (Microgametogene). Hai loại tế bào này sẽ

hợp với nhau tạo thành giao tử thể (Zygota) giao tử này sẽ vỡ ra phát triển thành

nỗn nang, thải ra mơi trường ngồi...tiếp tuc vòng đơi mới.

13



2.3.2.3. Triệu chứng và bệnh tích

- Thời kỳ nung bệnh của gà là 4 – 7 ngày, tùy theo loài cầu trùng, thời kỳ

này gà ủ rũ, bỏ ăn, khát nước, đi loạng choạng. Sau đó, gà ỉa phân lỗng màu

xanh nhưng về sau có màu chocolate có lẫn máu tươi, đơi khi chỉ tồn máu. Gà

thường chết sau 5 -7 ngày và tỷ lệ cao 40 – 60%, có trường hợp gà bị bại liệt.

- Nếu gà qua khỏi giai đoạn bệnh cấp tính, tổ chức mơ ruột phát triển và

phục hồi trở lại nhưng rất chậm. Gà có thể khỏi nhưng trở nên còi cọc, giảm

tăng trọng gây thiệt hại kinh tế.

- Mổ khám gà bệnh thấy ruột viêm, xuất huyết ở từng nơi tùy thuộc loài

cầu trùng ký sinh.

- Gà con mắc cầu trùng E.tenella thì: manh tràng giãn rộng, chứa đầy

máu, có lẫn chất nhầy màu trắng, niêm mạc bị tróc ra từng mảng.

2.3.2.4. Phòng bệnh

- Thực hiện tốt vệ sinh thú y: Đảm bảo thức ăn và nước uống sạch sẽ

không bị ô nhiễm cầu trùng.

- Chuồng trại phải giữ sạch sẽ, khô ráo, thống mát mùa hè, kín đáo, ấm

áp mùa đơng. Định kỳ sát trùng, tẩy uế chuồng trại, dụng cụ chăn ni...

- Chăm sóc ni dưỡng: đảm bảo khẩu phần ăn đủ các chất dinh dưỡng,

đặc biệt thức ăn đạm và các vitamin A, D, E và vitamin nhóm B, giúp nâng cao

sức đề kháng của gà chống lại việc cảm nhiễm các lồi cầu trùng.

- Sử dụng các hóa dược phong nhiễm: có thể dùng các hóa dược: Esb3

(cocci – stop), sulfaquinoxaline, amprolium, Grigecoccin, có thể trộn các hóa

dược này vào thức ăn hoặc cho gà uống.

- Dùng vaccine phòng bệnh: có thể dùng vacine Coccicax, Precovax cho

gà uống, vacine có hiệu giá bảo hộ đạt 60%. Gà dùng vacine có miễn dịch

nhưng có thể mang và thải nỗn nang cầu trùng.

Liều phòng bệnh: 1 gram pha trong 1 lít nước, uống trong 4 - 7 ngày liên tục.

- Esb3: (hãng Novatis, Thuỵ Sỹ sản xuất):

Thành phần chính là Sulfachlozine sodium monohydrate (30%).

14



Liều điều trị bệnh: 1 gam pha trong 1 lít nước, cho uống 3 - 5 ngày. Nếu

chưa khỏi có thể lặp lại liệu trình trên sau khi dùng thuốc 2 - 3 ngày.

- Baycox (hãng Bayer, Đức sản xuất).

Thành phần chính là Toltrazuril: 25 mg

Liều điều trị: 1 ml pha trong liên tục trong 1 lít nước lít nước (tương

đương với nồng độ 25 ppm). Uống liên tục trong 2 ngày.

Ngồi ra còn có thể sử dung các loại thuốc Anticoccid, Avicoc, Ancoban,

Salinomycin…

2.3.2.5. Điều trị

Nguyên tắc: không nên dùng một lúc nhiều loại thuốc, cũng không nên

chỉ dùng một loại thuốc kéo dài nhiều năm trong một cơ sở chăn ni gà.

Hiện nay có nhiều loại thuốc phòng trị bệnh cầu trùng được sử dụng rộng rãi.

Một số hóa dược điều trị hiệu quả ở nước ta:

- Sunfamid và các nhóm hố dược 1àm tăng cường hiệu lực của Sulfamid.

- Coccistop 2000 (hãng Intervet, Hà Lan sản xuất): thuốc bột màu trắng,

đóng gói200 gam, tan trong nước.

- Thuốc có tác dụng trên các lồi cầu trùng E.acervulina, E.maxima,

E.tenella, E.brunetti, E.necatrix ở giai đoạn sinh sản nội sinh.

Liều điều trị bệnh: 1 gram pha trong 1 lít nước, uống trong 3 - 5 ngày liên tục.

2.3.3. Bệnh Newcastle (bệnh gà rù)

Bệnh newcastle hay còn gọi là bệnh gà rù là một bệnh truyền nhiễm cấp

tính và lây lan rất nhanh.Bệnh tích trên đường hơ hấp, tiêu hóa và thần kinh.

Hiện nay bệnh là mối nguy hiểm cho ngành chăn nuôi gia cầm, bệnh thường gây

nhiễm ghép với các bệnh khác và tỉ lệ chết là 100%, gây ra những thiệt hại đáng

kể về kinh tế với những khoản chi khổng lồ cho cơng tác phòng bệnh, thuốc men

chữa trịvà nhiều khoản chi phí khác...

2.3.3.1.Nguyên nhân và cơ chế sinh bệnh

- Bệnh do virus thuộc nhóm Paramyxovirus gây bệnh cho gà mọi lứa tuổi,

đặc trưng bởi hiện tượng xuất huyết, viêm loét đường tiêu hoá. Bệnh lây lan

nhanh gây thiệt hại nghiêm trọng, có thể gây chết đến 100% trên đàn gà bệnh.

15



- Virus dễ bị diệt bởi thuốc sát trùng thơng thường nhưng có thể tồn tại

nhiều năm trong môi trường mát. Bệnh lây lan chủ yếu qua đường hơ hấp, tiêu

hố, do tiếp xúc gà bệnh.

- Động vật cảm nhiễm: gà là loài mẫm cảm nhất, mọi giống gà, mọi lứa

tuổi đều có thể mắc bệnh. Khả năng gây bệnh cho gà của virus Newcastle tùy

thuộc vào chủng virus, đường xâm nhập, số lượng virus, điều kiện mơi trường.

Gà con thường mắc bệnh cấp tính.

- Phương thức lây truyền: virus xâm nhập vào cơ thể chủ yếu qua đường tiêu

hóa, ngồi ra có thể lây qua đường hô hấp. Gà bệnh thường thải một số lượng lớn

virus qua phân làm lây lan bệnh cho gà khác trong đàn qua đường tiêu hóa.

- Cơ chế sinh bệnh: virus xâm nhập vào cơ thể theo đường tiêu hóa, qua

niêm mạc hầu họng rồi vào máu gây nhiễm trùng huyết. Cũng trong thời gian đó

căn bệnh đi vào hầu hết các cơ quan tổ chức của cơ thể gây ra viêm hoại tử. Nội

mô thành huyết quản bị phá hoại, gây xuất huyết làm thâm nhiễm dịch thẩm

xuất vào các xoang trong cơ thể. Virus tác động gây rối loạn tuần hồn và tác

động vào trung khu hơ hấp của hệ thần kinh trung ương gây hiện tượng khó thở

nghiêm trọng. Tùy vào chủng virus và động lực mà bệnh có thể ở dạng q cấp

tính, cấp tính hay mạn tính.

- Gây bệnh thực nghiệm qua tiêm bắp, tĩnh mạch hoặc não có thể gây

triệu chứng thần kinh.

- Bệnh xảy ra quanh năm nhưng tập trung vào vụ đông xuân. Bệnh lây lan

nhanh, tỷ lệ mắc bệnh và chết cao.

2.3.3.2.Triệu chứng

- Thời gian nung bệnh ngắn, khoảng 2 – 15 ngày, thường từ 3 - 5 ngày.

Bệnh tiến triển theo 3 thể chính như sau:

- Thể quá cấp: Thường xuất hiện ở đầu ổ dịch, bệnh xảy ra rất nhanh, gà

chỉ ủ rũ vài giờ là chết.

- Thể cấp tính: Là thể phổ biến thường hay gặp nhất, trong đàn gà xuất

hiện bệnh một vài con ủ rũ, bỏ ăn, sốt cao 42 oC - 43oC, xoã cánh như khoác áo

tơi, chảy nước mũi màu trắng, xám hoặc đỏ nhạt hơi nhớt. Gà bệnh thường hắt

16



hơi nên kêu thành tiếng “tốc, tốc”. Diều sưng to do thức ăn khơng tiêu, khi

cầm chân gà dốc ngược từ miệng chảy ra chất nhớt mùi chua. Phân lúc đầu đặc

màu nâu sẫm sau lỗng dần có màu trắng xám hay còn gọi “cứt cò”, lơng đi

bết đầy phân.

- Thể mạn tính: Thường ở giai đoạn cuối ổ dịch, gà thường xuất hiện triệu

chứng thần kinh, gầy còm, chết vì đói và kiệt sức. Tuy nhiên nếu chúng vượt qua

gian đoạn này thì lành bệnh và được miễn dịch suốt đời.

2.3.3.3.Bệnh tích của gà mắc Newcastle

Gà mắc bệnh ở 3 thể như sau:

Thể q cấp:

Bệnh tích khơng rõ, chỉ thấy những dấu hiệu xuất huyết ở ngoại tâm mạc,

màng ngực, cơ quan hô hấp.

Thể cấp tính:

Xoang mũi và miệng đều chứa dịch nhớt màu đục. Niêm mạc miệng, mũi,

khí quản xuất huyết, viêm phủ màng giả có Fibrin. Tổ chức liên kết vùng đầu,

cổ, hầu bị thuỷ thũng, thấm dịch xuất huyết vàng.

Thể mãn tính:

- Bệnh tích điển hình tập trung ở đường tiêu hoá niêm mạc dạ dày tuyến

xuất huyết màu đỏ, tròn bằng đầu đinh ghim, các điểm xuất huyết này có thể tập

trung thành từng vệt.. Dạ dày cơ xuất huyết. Ruột non xuất huyết, viêm. Trong

trường hợp bệnh kéo dài có thể có những nốt lt hình tròn, hình bầu dục, cúc

áo. Trường hợp bệnh nặng nốt loét có thể lan xuống ruột già, ruột non. Gan có

một số đám thoái hoá mỡ nhẹ màu vàng. Thận phù nhẹ có màu nâu xám. Bao

tim, xoang ngực, bề mặt xoang ức xuất huyết. Dịch hoàn, buồng trứng xuất

huyết thành từng vệt, từng đám.

- Xuất huyết các màng thanh dịch như bao tim, xoang ngực, bề mặt xoang

ức. Não viêm, xuất huyết.

2.3.3.4.Phòng bệnh

Vệ sinh phòng bệnh:

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Công tác thú y của trại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×