Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

II. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

Tải bản đầy đủ - 0trang

QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Singapore là một trong những quốc gia có GDP thực bình qn đầu người và năng suất

lao động rất cao trên thế giới và nằm trong 6 nước có GDP thực bình qn đầu người cao

nhất của APEC. Trong giai đoạn 2001-2005, GDP thực bình quân đầu người vào khoảng

25000 USD. Trong suốt giai đoạn nghiên cứu từ năm 2000 đến nay, GDP thực bình quân đầu

người cũng tăng với tốc độ rất cao trên thế giới chỉ đứng sau Hàn Quốc.



22



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC







GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Số giờ làm việc trung bình

Người lao động Singapore có thể nói là chăm chỉ nhất trên thế giới, với số giờ làm

việc hàng năm trên số người lao động vào

loại cao nhất thế giới. Trong năm 2002,

người Singapore đã làm việc trung bình

44,7 giờ mỗi tuần, 46,3 giờ năm 2007 con

số này là 48 giờ vào năm 2009, 1/5 người

lao động ở Singapore làm việc 11 giờ mỗi

ngày.







Du lịch rất phát triển



23



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Singapore là một đất nước rất chú trọng phát triển du lịch. Singapore là một điểm đến

du lịch nổi tiếng, đứng thứ hai ở châu Á và thứ mười một trên toàn thế giới trong doanh thu

từ du lịch. Với kích thước nhỏ, đảo quốc này đã kêu gọi quốc tế, Singapore có thể dễ dàng

chống chọi với sự tàn phá của du lịch đại chúng. Thay vào đó, sự kết hợp của Singapore thu

nhập cao và đồng tiền mạnh của địa phương trong một nền kinh tế mở, một cảm giác rất độc

lập của bản sắc văn hóa và quốc gia, luật nhập cư và địa phương chặt chẽ, chính sách và thái

độ nhạy cảm với môi trường làm cho thành phố được miễn dịch với việc gây ô nhiễm ảnh

hưởng của du lịch đại chúng không được quản lý. Trong giai đoạn 2002-2012, doanh thu từ

du lịch tăng trung bình khoảng 10% mỗi năm tương ứng với số lượt khách quốc tế đến

Singapore tăng trung bình 6,6%.





Tỷ lệ thất nghiệp



Tỷ lệ thất nghiệp của Singapore khá thấp và có xu hướng giảm trong giai đoạn nghiên

cứu. Năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp ở quốc gia này vào khoảng 2,8 % dân số, tăng cao nhất vào

q 4 năm 2003 với 4,8% và sau đó dần giảm, đến năm 2010, tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn hơn

2,2%.

=> Cơ hội: Tăng nhu cầu tiêu dùng dịch vụ thực phẩm

24



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC







GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Tình hình nhập khẩu thực phẩm



Singapore có rất ít tài ngun thiên nhiên và nền kinh tế chủ yếu dựa vào doanh thu của

sản xuất và dịch vụ. Từ năm 2003 đến 2007, khoảng trên dưới 90% thực phẩm tiêu thụ tại

Singapore được nhập khẩu. Với một khu vực nông nghiệp nhỏ, đại diện cho khoảng 0,1 phần

trăm GDP, lương thực thực phẩm tại Singapore hoàn toàn phụ thuộc vào nhập khẩu. Giá trị

nhập khẩu của phần lớn các mặt hàng thực phẩm đều tăng. Mặc dù Singapore cho phép nhập

khẩu tự do nguồn cung cấp sản phẩm thực phẩm nhưng là một quốc gia nổi tiếng về an toàn

vệ sinh thực phẩm, đất nước này có chế độ quản lý chặt chẽ để đảm bảo sự an toàn của thực

phẩm và cung ứng thực phẩm đang được nhập khẩu vào nước này. Cơ quan nông nghiệpthực phẩm và Thú y Singapore (AVA) và Cục Quản lý thực phẩm là cơ quan quản lý chính

của thương mại thực phẩm. Thực phẩm đảm bảo được những tiêu chuẩn về an toàn và vệ

sinh có chi phí khá cao so với thực phẩm thơng thường khác.

 Chi phí nhân cơng cao

Từ năm 1950 đến năm 1995, tỷ lệ sinh của Singapore có xu hướng giảm liên tục, điều

này cho thấy dân số trong độ tuổi lao động (từ 20 đến 64 tuổi) đang có xu hướng giảm. Đặt

ra vấn đề thiếu hụt lao động cho nền kinh tế.



Trước tình hình thiếu hụt và khan hiếm lao động như vậy đã làm cho chi phí nhân cơng

ở Singapore có xu hướng tăng trong suốt giai đoạn nghiên cứu. Với mức tiền lương trung



25



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



bình hàng tháng năm 2000 là 3063SGD/người; tiền lương trung bình vào năm 2010 là

4089,25 SGD/người với tốc độ tăng tiền lương trong suốt giai đoạn là 33,5%.



Lực lượng lao động là vấn đề rất quan trọng nếu quốc gia này muốn tiếp tục con đường

tăng trưởng kinh tế khi đặt mục tiêu trở thành một trung tâm toàn cầu cho nhiều hoạt động,

đặc biệt là thương mại, dịch vụ và tài chính. Singapore được mệnh danh là “thiên đường

mua sắm”, chính vì thế mà nhu cầu lao động trong ngành du lịch và dịch vụ khá cao, cụ thể

năm 2006, lao động phục vục du lịch chiếm 40,7% và dịch vụ chiếm 39%.

Đe dọa: chi phí đầu vào tăng.





Tình trạng béo phì :



Béo phì là một vấn đề sức khỏe ngày càng được mọi

người quan tâm. Béo phì dẫn đến bệnh mãn tính hơn khác

như bệnh tim, tiểu đường, các loại ung thư khác nhau, bệnh

26



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



đường hô hấpỞ Singapore, tình trạng béo phì đã tăng trong các năm qua. Tỉ lệ béo phì trung

bình ở Singapore năm 1998 là 6% đến năm 2004 là 6,9% và năm 2010 con số này đã tăng

lên 9,8%.

Xu hướng: Những cuộc khảo sát mới nhất đã gây ra quan tâm, lo ngại rằng tỉ lệ béo phì ở

Singapore có thể đi theo con đường của một số nước phương Tây. Nếu khơng có biện pháp

để giảm sự gia tăng béo phì thì tình hình tại Singapore sẽ giống Mỹ trong 30 năm tới.

 Vệ sinh an toàn thực phẩm:

- Người tiêu dùng Singapore ngày càng chú ý đến vấn đề vệ sinh an toàn thực phẩm. Trong

một nghiên cứu khảo sát của Singapore, 40% người tiêu dùng là "cực kỳ có liên quan" về

các vấn đề an toàn thực phẩm trong nhà hàng, khi thăm dò ý kiến từ các cơng ty, 38% những

người được khảo sát nói rằng họ "rất quan ngại" và 32 % là “quan ngại’ về an toàn thực

phẩm.

- Các tổ chức vệ sinh an toàn thực phẩm ở Singapore:

+ Ngày 1/4/2000, cơ quan thực phẩm nông nghiệp và thú y Singapore (AVA) ra đời, đây là

cơ quan quốc gia về an toàn thực phẩm đối với thực phẩm sơ cấp và chế biến. AVA đảm bảo

sự an toàn của tất cả các thực phẩm từ sản xuất đến ngay trước khi bán lẻ. AVA thông qua

một phân tích rủi ro dựa trên khoa học và phương pháp tiếp cận quản lý dựa trên tiêu chuẩn

quốc tế để đánh giá và đảm bảo an toàn thực phẩm. Nó đảm bảo một nguồn cung cấp thực

phẩm an tồn, bảo vệ sức khỏe của động vật và thực vật và tạo điều kiện cho nông nghiệpthương mại và mang lại hạnh phúc cho mọi người.

+ Ngày 1/7/2002, cơ quan môi trường quốc gia (NEA) ra đời. NEA đặt ra những quy định

ngành công nghiệp bán lẻ thực phẩm tại Singapore để đảm bảo rằng thực phẩm được bán tại

các cửa hàng bán lẻ đạt tiêu chuẩn vệ sinh và an toàn cho tiêu dùng. NEA cấp phép cho tất

cả các doanh nghiệp bán lẻ thực phẩm, chẳng hạn như nhà hàng, quán cà phê, bar, siêu thị,

quán ăn nhẹ, quầy ăn di động… Trên cơ sở các tiêu chuẩn của mình, NEA sẽ chấm điểm vệ

sinh an cho các cơ sở đó. Nếu cơ sở nào đạt số điểm dưới mức quy định thì sẽ bị đình chỉ

kinh doanh. Đây cũng là biện pháp giúp cho những khách hàng thơng minh lựa dựa trên số

điểm đó để chọn cho mình một địa điểm mong muốn.





Đe dọa : Chi phí tăng do yêu cầu về tiêu chuẩn chất lượng tăng.

27



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Vì người tiêu dùng sẽ ngày càng quan tâm hơn các vấn đề liên quan đến sức khỏe (bệnh béo

phì) trong ăn uống. Các cơ sở cung cấp dịch vụ thực phẩm phải chú trọng hơn nữa đến vấn

đề vệ sinh an toàn để được đánh giá cao về các của các tổ chức và đem đến sự hài lòng, chất

lượng với khách hàng.

III. MƠI TRƯỜNG NGÀNH

1.



Định nghĩa và mơ tả ngành



1.1. Định nghĩa

Ngành dịch vụ thực phẩm là ngành bao gồm các công ty cung cấp các bữa ăn chế biến sẵn.

1.2. Mô tả ngành

 Các công ty thuộc ngành dịch vụ thực phẩm bao gồm các nhà hàng, cửa hàng thức ăn

nhanh, cửa hàng thực phẩm, một số quán cà phê và những nơi khác .Theo số liệu năm 2004,

phần trăm doanh thu các mục này so với doanh thu toàn ngành như sau:





Quy mô ngành:



Năm



Số cơ sở



Doanh thu

( tỉ S$)



2000



2016



1,8



2001



2287



2,0



2002



2402



2,1



2003



2698



2,4



2004



2843



2,7



2005



3087



3,1



2009



5992



5,5



2010



6174



7,1



28



QUẢN TRỊ CHIẾN LƯỢC



GVHD: T.S NGUYỄN THANH LIÊM



Trong giai đoạn 2000-2010, quy mơ ngành dịch vụ thực phẩm ngày càng có xu hướng

tăng. Các thương hiệu nổi tiếng trong giai đoạn này như: McDonald, KFC, Pizza Hut,

BreadTalk, Starbucks, Fresin Fires, Rotiboy, Burrger King, sunshine bakery, Primadeli …

Thương hiệu



Năm 2002



Năm 2005



Năm 2010



McDonald



81



87



113



KFC



60



66



76



Pizza Hut



45



49



52



BreadTalk



24



29



87



Các công ty trong ngành dịch vụ thực phẩm nhiều và cạnh tranh gay gắt. Tuy nhiên

khơng có cơng ty nào có khả năng chi phối thị trường hay độc quyền. Điều này được giải

thích một phần là do đầu vào, sản phẩm của ngành và nhu cầu, thị hiếu thay đổi của người

tiêu dùng. Do đó, ngành dịch vụ thực phẩm trong giai đoạn này là ngành phân tán.

Xu hướng: Trong những năm tiếp theo, ngành dịch vụ thực phẩm sẽ tiếp tục tăng

trưởng. Các công ty ngày càng mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng sản phẩm. Đặc biệt,

do sự tồn cầu hóa nên các thương hiệu lớn ngày càng có xu hướng mở rộng ra thị trường

nước ngoài và tập trung ở những nền kinh tế mới nổi. Cho nên, Singapore sẽ là một điểm

đến hấp dẫn đối với các cơng ty nước ngồi. Tuy nhiên do đặc tính của ngành, cho nên trong

tương lai gần các công ty lớn vẫn chưa đủ khả năng để chi phối thị trường . Ngành vẫn là

ngành phân tán.

2.



Phân tích tính hấp dẫn của ngành



2.1 Phân tích 5 lực lượng cạnh tranh

Ngành dịch vụ thực phẩm gắn liền với nhu cầu thiết yếu của con người trên toàn thế

giới. Ngành dịch vụ thực phẩm là một bức tranh lớn, nơi các doanh nghiệp kinh doanh dịch

vụ này đang hoạt động. Trong phạm vi này, các doanh nghiệp sẽ cạnh tranh với nhau để tối

đa hóa thị phần. Theo mơ hình 5 lực lượng cạnh tranh của Porter, có 5 lực lượng lớn đã định

hình ngành cơng nghiệp này.



29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. MÔI TRƯỜNG VĨ MÔ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×