Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Tải bản đầy đủ - 0trang

STT



Văn bản

Thơng tư số



5



25/2014/TTBTNMT



6



7



Giải thích

Thơng tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài

nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính



Thơng tư số



Thơng tư số 75/2015/TT-BTNMT ngày 28/12/2015 của Bộ Tài



75/2015/TT-



nguyên và Môi trường quy định kỹ thuật về cơ sở dữ liệu đất



BTNMT



đai



Thông tư số



Thông tư số 05/2017/TT-BTNMT ngày 25/4/2017 của Bộ Tài



05/2017/TT-



nguyên và Môi trường quy định về quy trình xây dựng cơ sở



BTNMT



dữ liệu đất đai.



3.2. Giải pháp xây dựng cơ sở dữ liệu không gian địa chính

3.2.1. Thu thập, rà sốt và đánh giá

Tiến hành thu thập tồn bộ bản đồ địa chính mới nhất của các xã và các loại bản

đồ đo đạc khác đã sử dụng để cấp GCN (bản đồ giải thửa) thuộc huyện Phú Vang. Sau

khi thu thập được toàn bộ dữ liệu khơng gian địa chính tiến hành đánh giá và phân loại

các loại bản đồ địa chính theo hệ tọa độ, năm đo, chất lượng.

Huyện Phú Vang có đầy đủ bản đồ địa chính phủ trùm lên tồn bộ diện tích của

huyện, chủ yếu được xây dựng từ năm 2006, 2007, 2008; riêng thị trấn Thuận An được

đo vẽ từ năm 2000, dạng giấy và sử dụng hệ tọa độ HN-72, do đó cần phải thực hiện

các nội dung hồn thiện bản đồ địa chính dạng số ở hệ VN-2000 để đồng nhất nguồn

bản đồ thực hiện chỉnh lý biến động như các đơn vị hành chính cấp xã khác. Việc

chuyển hệ tọa độ của thị trấn Thuận An được tiến hành như sau:

- Chuyển đổi hệ toạ độ:

Tiến hành gộp các mảnh lại theo đơn vị hành chính xã ở hệ toạ độ HN-72, thành

từng file riêng. Dùng phần mềm MAPTRANS của tỉnh Thừa thiên Huế với tham số



52



hiệu chỉnh cho huyện Phú Vang để tính chuyển sang hệ VN-2000 cho TT. Thuận An

với thông số theo bản gốc và thông số được quy định theo quy phạm.

-



Biên tập bản đồ:



Từ các bản đồ tỷ lệ 1/1000, 1/2000 trong hệ toạ độ HN-72 đã được số hoá và

tính chuyển sang hệ toạ độ VN-2000 theo đơn vị hành chính xã, tiến hành đánh số chia

mảnh và biên tập lại bản đồ địa chính trên hệ tọa độ VN-2000 (chỉ có số thửa tạm và

diện tích). Cơng tác biên tập bản đồ được kết hợp với hồ sơ địa chính thu thập được để

đảm bảo kết nối dữ liệu khơng gian và thuộc tính địa chính.

Bản đồ địa chính của huyện Phú Vang hầu hết chưa được cập nhập lại từ những

năm đo vẽ, nếu được cập nhập thì chỉ được vẽ sơ sài trên bản đồ số do đó bản đồ địa

chính hiện tại chưa phản ánh được hiện trạng sử dụng đất của địa phương. Để bản đồ

địa chính này sử dụng được để xây dựng dữ liệu không gian cần phải thực hiện các

công việc sau:

- Rà sốt lại tồn bộ các thửa đất trên bản đồ địa chính so với sổ đăng kí biến

động và các loại giấy tờ đã có: sổ đại chính, mục kê,... Đối với những thửa đất có biến

động nhưng khơng làm thay đổi hình dạng thửa đất thì tiến hành cập nhập lại các

thông tin biến động lên bản đồ. Đối với những biến động làm thay đổi hình dạng thửa

đất, nếu đã được cấp GCN thì căn cứ vào GCN để thực hiện chỉnh lý, nếu chưa được

cấp GCN hoặc các thông tin trên GCN không đủ thông tin thì tiến hành đo vẽ để chỉnh

lý lại những thửa đã biến động.

- Những xã đã thực hiện công tác dồn điền đổi thửa như xã Phú Diên, Phú Hải,

Phú Đa… mà chưa cập nhập lại trên bản đồ thì phải căn cứ vào các tài liệu dồn điền

đổi thửa để tiến hành chỉnh lý. Do đặc trưng của công tác dồn điền đổi thửa là chuyển

đổi trọn thửa đất nên không cần phải đo vẽ lại, dựa trên các tài liệu tiến hành gộp thửa

và chỉnh lý trên bản đồ.



53



3.2.2. Xây dựng dữ liệu khơng gian địa chính

Hiện nay, huyện Phú Vang đang ứng dụng phần mềm gCadas để hỗ trợ việc xây

dựng cơ sở dữ liệu địa chính do đó việc xây dựng dữ liệu khơng gian địa chính có

nhiều thuận lợi tuy nhiên vẫn gặp phải một số vấn đề cụ thể:

- Tiếp biên các đơn vị hành chính:

+ Huyện Phú Vang đã thực hiện việc phân định lại địa giới hành chính theo dự

án 513, đường địa giới hành chính đã có những thay đổi so với giai đoạn trước nên bản

đồ địa chính cần phải cập nhập lại. Đường địa giới hành chính sau khi được phân định

đã được chuyển vẽ lên bản đồ địa hình. Do đó, để cập nhập lại đường địa giới trên bản

đồ địa chính chỉ cần sử dụng bản đồ địa hình đã chuyển hệ tọa độ đồng nhất để chuyển

vẽ đường địa giới hành chính.

+ Địa giới hành chính của các xã chủ yếu là đi giữa đường, mương, hoặc sông;

nên ở những khu vực này trên bản đồ hay xảy ra tình trạng bị chồng đè. Do đó, khi

thực hiện việc tiếp biên giữa các đơn vị hành chính cần phải chú ý xử lý.

- Chuẩn hóa bản đồ: Bản đồ địa chính của huyện Phú Vang được xây dựng theo

Quy phạm năm 2008. Hiện nay, huyện Phú Vang đang sử dụng phần mềm gCadas để

xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính mà phần mềm này lại áp dụng các quy định của

Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT, do đó cần chuẩn hóa lại các lớp đối tượng của bản

đồ địa chính theo đúng quy định:

+ Tiến hành xóa “rác” trên bản đồ: loại bỏ đầu thừa, đầu thiếu tại những giao

cắt, tiếp nối của đối tượng, loại bỏ lỗi chồng đè, tự cắt,...

+ Trên bản đồ địa chính của huyện Phú Vang hiện nay, lớp chỉ giới quy hoạch

đang ở level 50, nhưng theo quy định lớp chỉ giới quy hoạch phải ở level 22 do đó cần

phải chuyển lại cho đúng.

+ Theo như quy phạm thì các thửa đất nếu giáp giao thông, giáp thủy hệ thì ưu

tiên thể hiện ở các lớp giao thơng, thủy hệ. Tuy nhiên, để khi đưa vào cơ sở dữ liệu để

54



có thể tiến hành tách các lớp đối tượng thì các thửa đất, giao thơng, thủy hệ phải được

thể hiện trọn thửa trên một level tức là ở lớp thửa đất phải thể hiện trọn vẹn các thửa

đất, lớp giao thông, thủy hệ phải thể hiện đầy đủ mạng lớp giao thơng, thủy hệ. Ngồi

ra, các thửa đất trong tờ bản đồ (kể cả giao thông, thủy lợi) phải được khép kín để tạo

thành lớp thửa đất trên cơ sở dữ liệu. Để thực hiện được cần thực hiện các bước:

* Copy tồn bộ lớp giao thơng, thủy hệ và thửa đất vào một lớp.

* Tiến hành đóng vùng thủy hệ, giao thông trên tờ bản đồ (Chú ý: Khi đóng

vùng giao thơng, thủy hệ cần tiếp biên với giao thơng, thủy hệ tránh trường hợp đóng

vùng bị chồng đè).

* Khi thực hiện tạo topology cho thửa đất thì cần lưu ý chọn chế độ giữ lại

thông tin cũ để giữ lại những thơng tin thửa đất đã có của bản đồ. Đối với vùng thủy

hệ, giao thông được đóng vùng và tạo topology mới thì tiến hành nhập thông tin vào

bảng thông tin thửa đất.

* Đối với lớp giao thông và thủy hệ: Tiến hành tham chiếu với các lớp khác để

chỉnh lý cho đầy đủ mạng lưới giao thông thủy hệ.

- Tách các lớp đối tượng của dữ liệu thuộc tính: Bước này được trợ giúp bởi

phần mềm, do đó tương đối nhanh chóng và dễ dàng, chỉ có yêu cầu nhất thiết là các

bước chuẩn hóa phải chính xác và đúng với quy định.

3.3. Giải pháp xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính

3.3.1. Thu thập tài liệu, dữ liệu

Để xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính, cần thu thập các loại giấy tờ:

- Sổ mục kê, sổ địa chính, sổ cấp GCN, sổ đăng ký biến động, bản lưu GCN;

- Hồ sơ kê khai, đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất;

- Hồ sơ giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất;



55



- Đơn đăng ký đã được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận đối với trường hợp cơ

quan có thẩm quyền tổ chức việc đăng ký đất đai trong thời gian xây dựng cơ sở dữ

liệu địa chính nhưng đã hết thời gian xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính mà chưa hồn

thành việc đăng ký đất đai.

Hiện trạng nguồn tài liệu để xây dựng dữ liệu thuộc tính của huyện Phú Vang:

- Đối với GCN: Do hiện nay, huyện Phú Vang đang tiến hành cấp đổi, cấp lại

tồn bộ GCN trên địa bàn huyện nên có thể thu thập được GCN và các giấy tờ khác

như: CMTND, sổ hộ khẩu, sổ đăng kí kết hơn,… Đối với những thửa đất mới được

cấp GCN, Chi nhánh Văn phòng đăng kí đất đai huyện Phú Vang có giữ lại bản lưu và

các giấy tờ có liên quan.

- Đối với hồ sơ đăng ký: được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất lưu trữ

trong kho. Tuy nhiên, các loại tài liệu này không được sắp xếp, để lẫn lộn và không

được phân loại. Cần tiến hành phân loại, sắp xếp theo từng thôn cho từng xã để thuận

lợi cho cơng tác thu thập và lưu trữ.

- Sổ địa chính: Có bản giấy đầy đủ, riêng bản số mới được cập nhập đến năm

2015 do đó cần phải tiến hành số hóa cho đầy đủ dựa trên bản giấy.

- Đối với các loại sổ mục kê: Có hai loại giấy và số. Sổ mục kê giấy được

lập theo bản đồ giải thửa, sổ mục kê mới được xuất ra từ bản đồ địa chính nhưng

chưa được cập nhập thêm thơng tin từ khi đo vẽ bản đồ địa chính. Dựa vào thông

tin từ sổ mục kê cũ, tham chiếu với số tờ, số thửa cũ từ đó số hóa thơng tin vào sổ

mục kê điện tử.

3.3.2. Rà soát, đánh giá, phân loại và sắp xếp tài liệu

- Rà soát, đánh giá tài liệu, dữ liệu

+ Tài liệu để xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính ưu tiên sử dụng bản lưu

Giấy chứng nhận và sổ địa chính. Trường hợp bản lưu Giấy chứng nhận, sổ địa chính



56



khơng đầy đủ thông tin, không được cập nhật chỉnh lý biến động thường xuyên thì

phải lựa chọn hồ sơ đăng ký đất đai đối với trường hợp còn thiếu để cập nhật.

+ Các tài liệu để cập nhật hoặc chỉnh lý biến động hồ sơ địa chính gồm: hồ sơ

đăng ký biến động đất đai, tài liệu giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất.

- Phân loại các thửa đất

+ Tiến hành phân loại thửa đất để thuận lợi cho việc cập nhật và lưu trữ dữ liệu

khơng gian thuộc tính. Việc phân loại tuân theo tiêu chí sau:

Bảng 3.2: Bảng phân loại thửa đất

STT



Loại thửa đất



Giải thích



1



Thửa đất loại A



Thửa đất đã được cấp GCN chưa có tài sản gắn liền với đất



2



Thửa đất loại B



Thửa đất đã được cấp GCN và có tài sản gắn liền với đất



3



Thửa đất loại C



Thửa đất được cấp chung GCN



4



Thửa đất loại D



Căn hộ, văn phòng, cơ sở dịch vụ - thương mại trong nhà chung

cư hoặc nhà hỗn hợp được cấp GCN



5



Thửa đất loại E



Thửa đất chưa được cấp GCN hay không được cấp GCN



+ Đối với các thửa đất chưa thực hiện đăng ký đất đai thì lập danh sách và

chuyển cơ quan có thẩm quyền để thực hiện đăng ký đất đai bắt buộc theo quy định

của pháp luật.

+ Đối với hồ sơ đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất đã được thu thập phải

được làm sạch, sắp xếp và đánh số thứ tự theo quy định về hồ sơ địa chính.

Dựa theo tình hình thực tế của huyện Phú Vang thì các loại thửa đất chủ yếu

của huyện đó là các thửa đất loại A, E. Nhu cầu của người dân về đăng kí tài sản trên

đất khơng cao nên số lượng GCN có tài sản gắn liền với đất của huyện rất ít. Đất được

cấp chung GCN cũng có số lượng nhỏ do đất đai rộng, giá trị đất không cao và tâm lý



57



người dân không muốn chung GCN nên khi cấp GCN người dân thường tiến hành tách

riêng thửa đất.

3.3.3. Quét giấy tờ pháp lý và xử lý tệp tin

Chế độ quét của thiết bị được thiết lập theo hệ màu RGB với độ phân giải tối

thiểu là 150 DPI. Các giấy tờ pháp lý quét bao gồm:

- Đối với thửa đất, tài sản gắn liền với đất đã được cấp Giấy chứng nhận:

+ Giấy chứng nhận (đang sử dụng) hoặc bản lưu Giấy chứng nhận; trang bổ

sung (nếu có);

+ Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận (lần đầu);

+ Hợp đồng thuê đất đối với trường họp thuê đất của Nhà nước;

+ Chứng từ thực hiện nộp tiền sử dụng đất, tiền thuê đất;

- Đối với thửa đất đã thực hiện đăng ký nhưng chưa được cấp Giấy chứng nhận

hoặc không được cấp Giấy chứng nhận thì quét đơn đăng ký cấp Giấy chứng nhận;

- Đối với trường hợp đã thực hiện dồn điền đổi thửa thì quét đơn đề nghị cấp

đổi Giấy chứng nhận, văn bản thỏa thuận về việc chuyển đổi quyền sử dụng đất nơng

nghiệp của hộ gia đình, cá nhân (nếu có) và biên bản giao nhận ruộng đất theo phương

án dồn điền đổi thửa (nếu có).

- Xử lý các tệp tin quét thành tệp (File) hồ sơ quét dạng số của thửa đất, lưu trữ

dưới khuôn dạng tệp tin PDF (ở định dạng khơng chỉnh sửa được); chất lượng hình

ảnh số phải sắc nét và rõ ràng, các hình ảnh được sắp xếp theo cùng một hướng, hình

ảnh phải được qt vng góc, khơng được cong vênh.

- Tạo liên kết hồ sơ quét dạng số với thửa đất trong cơ sở dữ liệu.



58



3.3.4. Xây dựng dữ liệu thuộc tính địa chính

Việc xây dựng dữ liệu thuộc tính được thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu

khơng gian địa chính và các tài liệu đã thu thập. Công việc này được thực hiện

theo các bước sau:

+ Kiểm tra tính đầy đủ thông tin của thửa đất, lựa chọn tài liệu để lấy thơng tin

ưu tiên. Đối với các thơng tin có trong GCN thì ưu tiên lấy những thơng tin đó. Nếu

khơng có trong GCN thì lấy trên hồ sơ đăng kí. Trong trường hợp trong hồ sơ đăng kí

khơng có thì lấy thơng tin trên sổ mục kê.

+ Lập bảng tham chiếu số tờ, số thửa và diện tích đối với các thửa đất đã được

cấp Giấy chứng nhận theo bản đồ cũ nhưng chưa cấp đổi Giấy chứng nhận theo bản đồ

địa chính mới.

+ Nhập thơng tin từ tài liệu đã lựa chọn vào cơ sở dữ liệu địa chính.

Năm 1993, huyện Phú Vang tiến hành cấp GCN đồng loạt cho người dân và sử

dụng bản đồ giải thửa được vẽ trên giấy diamat để cấp GCN. Tuy nhiên, hiện nay

huyện Phú Vang đang sử dụng bản đồ địa chính được đo vẽ năm 2006-2008 để quản

lý. Do đó, dẫn đến sự khác nhau về diện tích, hình dạng và các thông tin về chủ sự

dụng đất giữa GCN đã cấp và bản đồ địa chính được dùng để xây dựng dữ liệu khơng

gian địa chính. Để khắc phục tình trạng này, cần thực hiện các biện pháp sau:

- Đối với đất ở, diện tích thửa đất có sự chênh lệch lớn về giữa bản đồ và GCN

nên cần phải lập bảng tham chiếu số tờ, số thửa và diện tích giữa hai loại bản đồ (bản

đồ giải thửa và bản đồ địa chính đo năm 2006-2008) để xác định rõ nguyên nhân:

+ Nguyên nhân do đo đạc, hình dạng thửa đất khơng thay đổi, khơng có tranh

chấp đất đai: lấy diện tích trong bản đồ địa chính mới để cập nhật vào dữ liệu thuộc

tính, diện tích ghi trên GCN được cập nhật vào diện tích cũ.

+ Nguyên nhân khác: do lấn chiếm, tranh chấp, chia tách thì lập danh sách trình

UBND huyện Phú Vang giải quyết và lấy diện tích trên các giấy tờ pháp lý để cập nhật

59



vào dữ liệu thuộc tính, diện tích này được nhập vào diện tích pháp lý và ghi chú các

nguyên nhân vào cơ sở dữ liệu.

- Đối với đất nông nghiệp, khi đo đạc bản đồ địa chính do bờ thửa không rõ

ràng nên các thửa đất được đo gộp vào nhau dẫn đến tình trạng một thửa đất có nhiều

chủ sử dụng mà các chủ này đều đã được cấp GCN cho các thửa đất nông nghiệp riêng

biệt nên không thể tiến hành tham chiếu được. Mặt khác, một số hộ dân tự ý chuyển

đổi đất nông nghiệp cho các hộ dân khác hay cho các hộ dân khác mượn, khơng nhớ vị

trí đất của mình, bản đồ giải thửa được vẽ trên giấy diamat không được lưu trữ cẩn

thận bị rách nát nên rất khó để tham chiếu về số tờ, số thửa và diện tích. Để chính xác

nên tổ chức một cuộc họp gồm các trưởng thôn, hợp tác xã và những cán bộ địa chính

cũ dựa trên bản đồ giải thửa, sổ mục kê để tham chiếu các dữ liệu.

+ Trong trường hợp xác định được đúng thửa đất cũ và thửa đất mới thì tiến

hành cập nhật thơng tin cho thửa đất theo diện tích trên bản đồ địa chính, thơng tin

trong GCN được ghi vào diện tích cũ, số tờ, số thửa cũ.

+ Đối với trường hợp không xác định được chủ sử dụng đất pháp lý của thửa

đất nơng nghiệp thì lập danh sách cho UBND xã tiến hành đăng kí đất đai và lấy thông

tin người đang sử dụng đất làm chủ sử dụng đất và đưa vào cơ sở dữ liệu (vì đến năm

2013, tồn bộ đất trồng cây hàng năm đã hết thời hạn sử dụng đất, nên có thể thu hồi

đất và giao cho người khác sử dụng).

+ Đối với trường hợp thửa đất nông nghiệp bị đo gộp thành một thửa nhiều chủ

sử dụng đất nếu có thể xác định được ranh thửa thì tiến hành đo vẽ lại để tách ra cho

từng chủ sử dụng. Nếu ranh thửa không rõ ràng, thỏa thuận với các chủ sử dụng đất

tiến hành kê khai theo trường hợp có chung quyền sử dụng đất hoặc tiến hành chuyển

đổi thửa đất giống như “dồn điền đổi thửa”.

- Đối với đất tổ chức: Đất tổ chức của huyện Phú Vang đã có GCN, ranh thửa

rõ ràng và trích lục đầy đủ. Nếu có sự thay đổi về diện tích, hình dạng thửa đất khơng

thay đổi, khơng có tranh chấp, xác định ngun nhân do đo đạc thì cơng nhận diện tích

60



mới. Nếu có tranh chấp, hình dạng thửa đất thay đổi thì căn cứ vào các loại giấy tờ để

xác định diện tích và hình dạng, lấy thơng tin cũ để đưa vào cơ sở dữ liệu.

- Đối với các loại đất chưa được cấp GCN: Khảo sát các thửa đất của từng xã,

đối với các thửa đất chưa có GCN mà đã đi đăng ký đất đai thì lấy thơng tin đăng ký

để nhập vào cơ sở dữ liệu. Đối với các thửa đất chưa tiến hành đăng ký, phối hợp với

cán bộ địa chính, đi khảo sát thực tế. Nếu thửa đất không tranh chấp, người dân sử

dụng ổn định, lâu dài thì tiến hành đăng kí đất đai cho người dân. Nếu thửa đất có

tranh chấp thì ghi chú vào cơ sở dữ liệu, ghi tên người đang sử dụng thửa đất, nhập

danh sách cho UBND xã giải quyết.

3.4. Xây dựng siêu dữ liệu địa chính

Siêu dữ liệu địa chính là các thơng tin mơ tả về dữ liệu đất chính bao gồm các

nhóm thơng tin về siêu dữ liệu địa chính đó, hệ quy chiếu tọa độ, dữ liệu địa chính và

cách thức trao đổi, phân phối dữ liệu địa chính, cụ thể như sau:

- Nhóm thơng tin mơ tả về siêu dữ liệu địa chính gồm các thơng tin khái qt về

siêu dữ liệu địa chính đó như đơn vị lập, ngày lập siêu dữ liệu;

- Nhóm thông tin mô tả về hệ quy chiếu toạ độ gồm các thông tin về hệ quy

chiếu toạ độ được áp dụng để xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính;

- Nhóm thơng tin mơ tả về dữ liệu địa chính gồm các thơng tin về hiện trạng

của dữ liệu địa chính; mơ hình dữ liệu khơng gian, thời gian được sử dụng để biểu diễn

dữ liệu địa chính; thơng tin về các loại từ khố, chủ đề có trong dữ liệu địa chính;

thơng tin về mức độ chi tiết của dữ liệu địa chính; thơng tin về các đơn vị, tổ chức liên

quan đến quá trình xây dựng, quản lý, cung cấp dữ liệu địa chính; thơng tin về phạm vi

không gian và thời gian của dữ liệu địa chính; thơng tin về các ràng buộc liên quan đến

việc khai thác sử dụng dữ liệu địa chính;



61



- Nhóm thơng tin mơ tả về chất lượng dữ liệu địa chính gồm các thông tin

về nguồn gốc dữ liệu; phạm vi, phương pháp, kết quả kiểm tra chất lượng dữ liệu

địa chính;

- Nhóm thơng tin mơ tả về cách thức trao đổi, phân phối dữ liệu địa chính

gồm các thơng tin về phương thức, phương tiện, định dạng trao đổi, phân phối dữ

liệu địa chính.

Siêu dữ liệu giúp cho việc quản lý dữ liệu một cách có hệ thống, thuận lợi cho

việc lưu trữ cũng như khai thác. Siêu dữ liệu địa chính thường được lập theo đơn vị

hành chính, hồ sơ địa chính hay bản đồ địa chính,… Thơng thường, việc xây dựng siêu

dữ liệu sẽ tiến hành song song với quá trình xây dựng dữ liệu. Hiện nay, huyện Phú

Vang chưa xây dựng siêu dữ liệu địa chính mặc dù đã và đang tiến hành xây dựng cơ

sở dữ liệu địa chính. Tuy nhiên, hầu hết nội dung của siêu dữ liệu địa chính đều được

phân tích và chiết xuất từ các tài liệu thu thập được. Ví dụ như các dữ liệu về nguồn

gốc dữ liệu, phạm vi, phương pháp, kết quả kiểm tra chất lượng dữ liệu đều được đề

cập trong các tài liệu kiểm tra, thu thập dữ liệu,… Định dạng chuẩn của siêu dữ liệu

địa chính được áp dụng theo ngơn ngữ định dạng mở rộng (XML) nhằm có thể dễ

dàng đưa vào cơ sở dữ liệu để quản lý, dễ dàng bảo trì và khai thác thông tin giữa các

hệ thống.

3.5. Nghiên cứu điểm tại hai xã Vinh An và Vinh Thanh

Để kiểm nghiệm tính khả thi của các giải pháp, tiến hành nghiên cứu điểm tại

hai xã Vinh An và Vinh Thanh của huyện Phú Vang. Quá trình thử nghiệm được thực

hiện theo các bước sau:

3.5.1. Thu thập tài liệu, dữ liệu

Để tiến hành xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính, tác giả tiến hành thu thập các tài

liệu, dữ liệu bao gồm:

- Dữ liệu bản đồ: Thu thập toàn bộ bản đồ địa chính của xã Vinh An và Vinh

Thanh cụ thể:

62



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH HUYỆN PHÚ VANG, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×