Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Luồng sản phẩm cháy thổi ra phía sau động cơ phản lực có áp suất khoảng 2,5 bar, nhiệt độ 550  650oC được dẫn vào turbine để sinh công. Các động cơ máy bay phản lực được cải tạo nhằm đạt độ tin cậy.

Luồng sản phẩm cháy thổi ra phía sau động cơ phản lực có áp suất khoảng 2,5 bar, nhiệt độ 550  650oC được dẫn vào turbine để sinh công. Các động cơ máy bay phản lực được cải tạo nhằm đạt độ tin cậy.

Tải bản đầy đủ - 0trang

8



cầu về khí động học và cơ học khi gia cơng các thiết bị hợp kim chịu nhiệt khó gia

cơng.

Buồng đốt trong buồng đốt năng lượng liên kết hoá học được giải phóng vào

khơng khí được hồ trộn đều đi vào turbine khí sinh cơng như dòng khí truyền

động. Q trình cháy trong buồng đốt có hiệu suất cao nhất với hệ số khơng khí

khoảng từ α=1,3-2,2. Q trình làm việc của buồng đốt Quá trình làm việc của

buồng đốt được xác định bởi cấu trúc buồng đốt và bởi những tình trạng vận hành.

Quá trình làm việc của buồng đốt bao gồm quá trình đốt cháy nhiên liệu, quá trình

hồ trộn sản phẩm cháy với khơng khí, các điều kiện làm mát ống lửa, các điều kiện

khi phụ tải thay đổi và khi mở máy.



Hình 3.3: Buồng đốt độc lập

2.2.6.Cấu tạo turbine khí



Ngun lí sinh cơng trong tầng turbine khí khơng khác với tầng turbine hơi. Tuy

nhiên, tầng turbine khí làm việc với nhiệt độ cao hơn nhiều, còn áp suất khí thì lại

thấp. Do vậy lưu lương thể tích dòng khí thường khá lớn.

Nhiệt độ cao đòi hỏi các chi tiết như cánh quạt, trục… phải được chế tạo từ vật

liệu rất cao cấp. Kết cấu turbine phức tạp do phải tạo diều kiện làm mát các bộ phận

tiếp xúc với khí nóng. Do đó cần hạn chế số tần cơng tác tới mức ít nhất và chọn

kiểu tầng có khả năng làm việc với nhiệt giáng lớn nhất, đó là tầng xung lực.

Turbine được bố trí trực tiếp ngay sau buồng đốt, ở đây khơng có các van điều

chỉnh vì thế thiết bị trở nên đơn giản.

Khác với tần turbine hơi các góc biểu thị hướng vector tốc độ của dòng khí vào

hay ra khỏi tần turbine khí được tính theo hướng dọc trục. Q trình giãn nở của khí



9



trong tầng turbine khí cũng giống như quá trình giãn nở của hơi trong tầng turbine

hơi, các kí hiệu cũng được đồng nhất. Số tầng turbine khí đến nay thường khơng

q năm. Ở những tầng có cánh dài thì cánh xoắn theo đường kính c ur = const. Lúc

này độ phản lực thay đổi từ cánh ρ = 0,05 đến đỉnh cánh ρ = 0,15 ÷ 0,25



Hình 4.1: Cấu tạo turbine khí bốn tầng

Sự khác biệt điển hình của turbine khí so với turbine hơi là làm mát cánh động,

rotor và thân turbine một cách mạnh nhất. Về lý thuyết có thể dùng khơng khí hay

chất lỏng phù hợp để làm mát. Chất lỏng như nước chẳng hạn có nhiệt dung riêng c p

cao nên làm mát nhanh và hiệu quả nhưng ít dược sử dụng do gặp trở ngại lớn như:

hệ thống phức tạp, vấn đề làm kín, bám cáu cặn, ứng suất nhiệt…. Thực tế thường

làm mát turbine bằng khơng khí sau máy nén hoặc trích từ vị trí có áp suất phù hợp

của máy nén.

Khơng khí được dẫn tới các khe ở chân cánh và các bộ phận chịu nhiệt độ cao

của rotor và stato như minh họa trong hình 4.2. Khơng khí làm mát sau đó được

nhập vào dòng chính, bằng cách này ta có thể tận dụng được mật phần năng lượng

của nó để sinh công. Phần tử được quan tâm làm mát mạnh nhất là cánh động của

turbine, đặc biệt là dãy cánh động của tầng đầu tiên. Có nhiều cách làm mát cánh

khác nhau, trong đó đơn giản nhất là làm mát đối lưu như minh họa trong hình 4.2.



10



Hình 4.2: Sơ đồ làm mát turbine khí TG50 của hãng FIAT

3. Thiết bị turbine hơi

3.1. Tổng quan về cấu tạo



Turbine hơi là một động cơ nhiệt chuyển hóa thế năng của hơi nước thành cơ

năng làm quay rotor. Turbine hơi bao gồm hai phần chính đó là phần cố định stato

và phần quay rotor. Dãy các vòi phun cố định còn được gọi là dãy tĩnh, dãy cánh

được lắp trên trục rotor gọi là dãy cánh động. Mỗi cặp dãy tĩnh và dãy động liền kề

tạo thành một tầng của turbine.

Vì hơi nước đi vào ở tầng đầu tiên có áp suất cao và đi ra ở tầng cuối cùng có

áp suất thấp làm cho thể tích riêng của hơi tăng nhanh. Do đó, tiết diện rãnh các dãy

cánh tĩnh và các dãy cánh động càng về cuối càng lớn. Đồng thời, đường kính cánh,

đường kính trục rotor và đường kính của tầng càng về cuối cũng càng lớn.



11



Hình 6.1: Cấu tạo turbine hơi

Phía hơi vào (hình 6.1) bao giờ cũng có thêm bộ phận an tồn ghép nối trên trục

của rotor nhằm mục đích cắt hơi đi vào turbine khi số vòng quay thực tế vượt quá số

vòng quay định mức 10 ÷ 12%. Các đoạn trục ghép được làm mát và bôi trơn bằng

bơm dầu. Rotor của turbine được nối với rotor của máy phát bằng khớp nối trục nữa

mềm.

Stato bao gồn có thân turbine, các hộp ống phun, hộp supap, vành chèn đầu

cuối, vành bánh tĩnh, bánh tĩnh và các bộ chèn bánh tĩnh. Thân turbine có hai mặt

bích ngang và hai mặt bích đứng nhằm chia turbine thành hai phần, phần trước,

phần giữa và ống thốt. Ngồi ra còn có ổ đỡ trước, sau dùng cho rotor và máy phát.

3.1.1.Thân tuarbine

Thân (đơi khi còn gọi là xilanh) của tuabin hơi thường có hình dáng phức tạp,

kích thước lớn dần theo hướng chuyển động của dòng hơi và có các chỗ lồi lên, các

buồng để đưa hơi vào, trích hơi ra, ống thốt cũng có hình dáng đặc biệt.

Thân của tuabin dọc trục thường có mặt bích ngang (ở chỗ cắt rời) và 1 hoặc 2 mặt

bích đứng để khi đúc, khi gia cơng cơ khí và khi lắp rắp được dễ dàng. Tuabin

hướng trục thường chỉ có mặt bích đứng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Luồng sản phẩm cháy thổi ra phía sau động cơ phản lực có áp suất khoảng 2,5 bar, nhiệt độ 550  650oC được dẫn vào turbine để sinh công. Các động cơ máy bay phản lực được cải tạo nhằm đạt độ tin cậy.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×