Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ - 0trang

Kết quả ở bảng 4.1 cho thấy:

- Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra xảy ra trên cả giống

chó nội và chó ngoại.

Đối với nhóm chó ngoại có tỷ lệ mắc bệnh 75,68%; Tỷ lệ mắc ở chó nội

là 24,32%.

Kết quả trên phù hợp với kết quả nghiên cứu trước đó của Trần Thị Hải

Yến (2017) [25] nhóm chó ngoại có tỷ lệ mắc cao hơn nhóm chó nội; chó ngoại

là 68,39%, chó nội là 18,60%.

Tỷ lệ mắc bệnh trên nhóm chó ngoại cao hơn hẳn so với nhóm chó nội.

Sở dĩ như vậy là vì nhóm chó nội ni trên địa bàn Hà Nội ít được quan tâm và

đưa đến khám tại phòng khám hơn nhóm chó ngoại. Hơn nữa nhóm chó nội có

khả năng thích nghi được với các tác động từ bên ngoài (yếu tố mơi trường và

điều kiện chăm sóc, ni dưỡng) cao hơn nhóm chó ngoại.

- Trong tổng số 11 giống chó mắc bệnh:

Giống chó Poodle mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus chiếm

tỷ lệ cao nhất 21,62%.

Giống chó Fox hươu chiếm tỷ lệ tương đối cao 16,21%.

Chiếm tỷ lệ thấp nhất là giống chó Mơng cộc và Alaska với 2,7%.

Các giống chó còn lại có tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 5,41% - 16,21%.

Theo Sử Thanh Long và cs. (2014) [12] ở những giống chó có vóc dáng

lớn thường có sức đề kháng cao và dễ chăm sóc ni dưỡng nên chúng rất thích

nghi với sự thay đổi của thời tiết cũng như chế độ chăm sóc ni dưỡng. Vì vậy,

tỷ lệ nhiễm bệnh thấp hơn so với những giống chó có vóc dáng nhỏ như Fox,

Poodle và một số giống chó khác.

Kết quả nghiên cứu của chúng tơi phù hợp với nhận xét của tác giả trên.

4.1.2. Tỷ lệ chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo lứa tuổi

Ở các giai đoạn tuổi khác nhau, khả năng mẫn cảm với một bệnh nào đó

có thể khác nhau. Vì vậy, chúng tơi tiến hành nghiên cứu, phân tích tỷ lệ nhiễm



27



bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra theo 4 giai đoạn tuổi của chó.

Kết quả được trình bày ở bảng 4.2.

Bảng 4.2. Tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus theo lứa tuổi

Giai đoạn tuổi



Số chó mắc bệnh



(tháng)

<2

2–6

> 6 – 12

> 12

Tổng



(con)

6

19

9

3

37



Tỷ lệ mắc bệnh

(%)

16,22

51,35

24,32

8,11

100



Hình 4.1. Tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus theo lứa tuổi

Kết quả theo dõi trong bảng 4.2 và hình 4.1 cho thấy:

Chó ở các lứa tuổi đều mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus.

Tuy nhiên, chó ở các lứa tuổi khác nhau thì tỷ lệ mắc khác nhau.

Chó từ 2 - 6 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus là cao nhất, chiếm 51,35%; Tiếp đến là chó có độ tuổi > 6 - 12 tháng

tuổi, chiếm 24,32%; Chó < 2 tháng tuổi có tỷ lệ mắc là 16,22%; Thấp nhất là

chó có độ tuổi trên 12 tháng tuổi có tỷ lệ mắc bệnh là 8,11%.

Từ kết quả về tỷ lệ chó mắc bệnh do Parvovirus theo lứa tuổi, chúng tơi

thấy rằng:

28



Chó ở giai đoạn 2 - 6 tháng tuổi là giai đoạn chó có nhiều sự biến đổi, bắt

đầu cai sữa mẹ tập quen dần với thức ăn, hệ tiêu hố bắt đầu thích nghi dần, thay

đổi mơi trường sống (chó được tặng, bán ở giai đoạn này). Những yếu tố trên

ảnh hưởng đến sức khoẻ của chúng nên mầm bệnh rất dễ xâm nhập và phát

triển, vì vậy đây là giai đoạn chó dễ cảm thụ với bệnh nhất.

Đối với chó trên 12 tháng tuổi, tỷ lệ mắc bệnh thấp (8,11%) vì ở giai đoạn

này chó đã trưởng thành và dần thích nghi được với môi trường, điều kiện nuôi

dưỡng nên sức đề kháng với bệnh cao.

Chó dưới 2 tháng tuổi vẫn còn trong thời kỳ bú sữa mẹ, được nhận miễn

dịch thụ động từ sữa đầu của chó mẹ. Chó mẹ có thể hình thành kháng thể qua

cảm thụ từ tự nhiên hoặc được tiêm vaccine phòng bệnh, kháng thể qua nhau

thai và sữa đầu giúp chó con phòng được bệnh. Đồng thời, chó con giai đoạn bú

sữa mẹ chưa tập ăn ngồi nên ít bị rối loạn tiêu hố, ít mắc bệnh giun sán.

Theo Schoeman (2013) [40], chó từ 2 tháng tuổi đến 6 tháng tuổi mắc

bệnh do Parvovirus là cao nhất. So sánh chúng tôi thấy kết quả của chúng tôi

tương đồng với tác giả trên.

4.1.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo tình

hình tiêm phòng

Để xác định mức độ phòng bệnh của các hộ chăn ni chó. Cùng với việc

theo dõi các biểu hiện lâm sàng, chúng tơi tiến hành nghiên cứu tỷ lệ chó mắc viêm

ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo tình hình tiêm phòng vắc xin để xác định xem

vai trò của vaccine trong phòng bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus. Chúng

tơi tiến hành chia làm 4 nhóm.

Kết quả được trình bày ở bảng 4.3.



29



Bảng 4.3. Tỷ lệ chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm Parvovirus theo tình

trạng tiêm phòng

Tình trạng tiêm phòng vắc xin

Chưa tiêm phòng

Đã tiêm mũi 1

Đã tiêm mũi 2

Đã tiêm mũi 3

Tổng



Số chó mắc bệnh (con)

20

9

6

2

37



Tỷ lệ (%)

54,05

24,32

16,22

5,41

100



Qua kết quả bảng 4.3 và hình 4.2 cho thấy:

Trong tổng số 37 chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus có:

Hình 4.2. Tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus

ở chó theo tình trạng tiêm phòng

20 chó chưa được tiêm vắc xin phòng bệnh, chiếm tỷ lệ 54,05%.

9 chó đã được tiêm phòng mũi 1, chiếm tỷ lệ 24,32%.

6 chó đã được tiêm phòng mũi 2, chiếm tỷ lệ 16,22%.

2 chó đã được tiêm phòng mũi 3, chiếm tỷ lệ 5,41%.

Qua nghiên cứu chúng tôi thấy hầu hết chó mắc bệnh đưa đến khám và

điều trị đều chưa được tiêm phòng vắc xin hoặc tiêm phòng khơng đầy đủ.

Có 16,22% số chó đã tiêm phòng 2 mũi vắc xin và 5,41% số chó đã tiêm

phòng mũi 3 nhưng vẫn mắc bệnh, theo chúng tơi có thể là do tiêm phòng chưa

đúng cách, hoặc do tiêm vaccine khơng đúng quy trình, bảo quản vaccine

30



khơng đúng cách làm mất hiệu lực của vaccine, do sức đề kháng của từng cá

thể chó khác nhau, do chế độ chăm sóc ni dưỡng của chủ vật ni.... Đối với

những chó đã được tiêm phòng vaccine đủ 3 mũi thì ít bị mắc bệnh.

Kết quả chúng tơi hồn tồn phù hợp với kết quả của M. Ling và cs.

(2012) [38] cho rằng những chó đã được tiêm vaccine trong vòng một năm tuổi

thì vẫn có thể bị Parvovirus nhưng với tỷ lệ rất thấp là 5,3%.

Theo kết quả nghiên cứu trên, việc tiêm phòng vắc xin cho chó là rất

quan trọng. Vắc-xin là nền tảng của việc phòng bệnh, vắc xin có tác dụng

không những chỉ để bảo vệ động vật được tiêm, mà còn bảo vệ những động vật

còn lại của lồi đó. Càng nhiều động vật của 1 lồi được tiêm phòng, thì bệnh

càng ít có nguy cơ lây lan, giảm được những thiệt hại khơng đáng có về kinh tế

và vững an tinh thần cho người chăn ni chó.

4.2. Nghiên cứu các biểu hiện lâm sàng và một số chỉ tiêu huyết học của chó

mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus

4.2.1. Một số biểu hiện lâm sàng của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm

do Parvovirus

4.2.1.1. Kết quả theo dõi các triệu chứng điển hình của chó mắc bệnh viêm ruột

truyền nhiễm do Parvovirus

Tiến hành theo dõi những biểu hiện lâm sàng của 37 chó mắc bệnh viêm

ruột truyễn nhiễm do Parvovirus. Kết quả được trình bày tại bảng 4.4.



31



Bảng 4.4. Các triệu chứng điển hình ở chó mắc bệnh viêm ruột truyền

nhiễm do Parvovirus (n = 37)

Triệu chứng

Ủ rũ, mệt mỏi,bỏ ăn

Ỉa chảy, phân lẫn máu

Nôn mửa

Sốt

Co giật, trụy tim



Số con biểu hiện

37

35

37

30

2



Tỷ lệ (%)

100

94,59

100

81,08

5,41



Kết quả bảng 4.4 cho thấy:

Triệu chứng của những chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovivrus gây ra rất đa dạng nhưng chủ yếu là ủ rũ, nôn mửa, tiêu chảy ra

máu, sốt, bỏ ăn.

- 100% số chó bệnh chúng tơi theo dõi được đều xuất hiện triệu chứng ủ

rũ, mệt mỏi, bỏ ăn, nơn mửa. Chó bệnh nơn khan ra bọt dãi nhớt màu xanh,

vàng, có khi lẫn máu.

Sở sĩ như vậy là do virus gây bệnh này đều có hướng niêm mạc, do đó các

niêm mạc đường tiêu hố từ dạ dày đến ruột đều bị virus tác động gây viêm rất

nặng. Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (1992) [11], quá trình viêm ở niêm mạc đường

tiêu hố làm cho dịch rỉ viêm tăng tiết đồng thời các sản phẩm viêm cũng tác

động vào thần kinh thụ cảm trên niêm mạc đường tiêu hố, kích thích làm tăng

nhu động ruột. Vì thế, chó bệnh thường có biểu hiện nơn rất nhiều.

- Triệu chứng ỉa chảy, phân lẫn máu là triệu chứng điển hình nhất khi con

vật mắc bệnh. Trong 37 chó bệnh theo dõi, có 35 chó biểu hiện ỉa chảy, phân lẫn

máu, chiếm tỷ lệ 94,59%. Con vật ỉa chảy phân sền sệt, lỗng, lẫn máu, có thể

lẫn giun. Giai đoạn cuối gần như trong phân là nước và máu, mùi tanh khắm như

ruột cá mè phơi nắng.

Trong quá trình gây nhiễm trùng huyết, virus trong tế bào ruột, gây hoại

tử biểu mơ ruột, bào mòn nhung mao ruột, giảm hấp thu và rối loạn tiêu hóa gây

tiêu chảy (Nguyễn Như Pho (2003) [16]; Tạ Thị Vịnh (1991) [23]). Như vậy

nghiên cứu của chúng tôi phù hợp với kết luận trên của tác giả.

32



- Nhiệt độ của chó bệnh dao động trong khoảng 39,5 - 40,5 0C, biểu hiện

sốt chiếm tỷ lệ 81,08%. Mặc dù sốt không phải là một triệu chứng điển hình

cho một bệnh chun biệt nhưng nó báo hiệu cơ thể đang đáp ứng lại tác nhân

gây bệnh.

- Trong số chó mắc bệnh Parvovirus thì chó mắc bệnh ở thể tim chiếm tỷ

rất nhỏ chỉ chiếm 5,41%. Ở những chó con khơng có kháng thể mẹ truyền, virus

thường gây bệnh tích trên cơ tim và gây ra bệnh ở dạng tim mạch (Nguyễn Như

Pho (2003) [16]; Tạ Thị Vịnh (1991) [23]).

Tình trạng sốt cùng với hiện tượng nơn mửa, ỉa chảy làm chó bệnh mất

nước và rối loạn điện giải nghiêm trọng, chó bệnh suy sụp nhanh do thiếu máu

và mất nước. Qua đây, chúng tôi thấy được bệnh Parvovirus là bệnh truyền

nhiễm nguy hiểm ở chó, bệnh Parvovirus virus tác động chủ yếu đến hệ thống

niêm mạc đường tiêu hóa và hệ thống miễn dịch làm cho sức đề kháng của cơ

thể suy giảm trầm trọng do đó con vật chết nhanh.

4.2.1.2. Kết quả theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh viêm ruột

truyền nhiễm do Parvovirus

Bất kỳ các cơ quan nào trong cơ thể khi ở trạng thái tổn thương, nhiễm

trùng đều có biểu hiện của sốt. Mức độ phụ thuộc vào tổn thương hay nhiễm

trùng, bệnh xảy ra cấp tính hay mãn tính.

Để tìm hiểu về sự thay đổi các chỉ tiêu lâm sàng trong quá trình bệnh lý

của bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus. Chúng tôi tiến hành theo dõi

các chỉ tiêu lâm sàng trên chó khỏe, chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus.

Kết quả trình bày ở bảng 4.5.



33



Bảng 4.5. Các chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh viêm ruột

truyền nhiễm do Parvovirus

Chỉ tiêu theo dõi

Thân nhiệt (0C)

Tần số hô hấp (lần/phút)

Tần số tim mạch (lần/phút)



Giá trị dao động của chó



Chó mắc bệnh



ở trạng thái bình thường

Min – Max

37,5 - 38,5

22 – 45

73 – 128



(n=37)

X  mx

39,52 ± 1,08

42,05 ± 2.18

148,35 ± 8,00



Kết quả bảng 4.5 cho thấy:

- Về Thân nhiệt:

Thân nhiệt của chó ở trạng thái bình thường dao động trong khoảng:

37,5 – 38,50C (Hồ Văn Nam và cs., 1997, [13]).

Trong 37 ca mắc bệnh do Parvovirus, thân nhiệt trung bình của chó bệnh

là 39,52  1,080C. Thân nhiệt của chó bệnh tăng cao hơn so với chó ở trạng thái

bình thường.

Triệu chứng lâm sàng đầu tiên của chó khi bị virus tác động là sốt cao.

Như vậy hiện tượng sốt của chó mắc bệnh do Parvovirus đã biểu hiện rõ mức

xâm nhập của mầm bệnh. Theo chúng tôi, do tác động của virus và những chất

độc sinh ra trong quá trình bệnh lý của cơ thể theo máu tác động vào trung khu

điều hòa thân nhiệt, làm rối loạn chức năng điều hòa nhiệt dẫn đến mất cân bằng

giữa 2 quá trình sản nhiệt và thải nhiệt. Trong trường hợp này làm tăng quá trình

sản nhiệt và giảm quá trình thải nhiệt dẫn đến thân nhiệt tăng cao.

- Về tần số hô hấp:

Theo Hồ Văn Nam và cs. (1997) [13] tần số hô hấp của chó ở trạng thái

bình thường nằm trong khoảng 22 - 45 lần/phút.

Theo dõi tần số hơ hấp của chó mắc bệnh do Parvovirus chúng tôi thấy:

Tần số hô hấp của chó mắc bệnh trung bình từ 42,05 ± 2,18 (lần/phút). So với

trạng thái dao động bình thường của cơ thể chó thì tần số hơ hấp của chó mắc

bệnh do Parvovirus tăng.

34



Theo chúng tôi tần số hô hấp của chó mắc bệnh do Parvovirus tăng lên là

do khi chó sốt cao, hàm lượng khí CO2 trong máu tăng, hàm lượng O2 giảm do

phổi không đảm nhiệm được chức năng của mình, trung khu hơ hấp hưng phấn

nên con vật thở nhanh dẫn tới tần số hô hấp tăng cao. Đồng thời, chó mắc bệnh

có triệu chứng sốt, đó cũng là một phản ứng sinh lý nhằm điều hòa quá trình cân

bằng nhiệt, tăng cường quá trình thải nhiệt qua hơi nước khi thở ra nhằm mục

đích làm hạ nhiệt độ của cơ thể.

- Về tần số tim mạch:

Ở chó bị mắc bệnh do Parvovirus theo kết quả theo dõi của chúng tôi, tần

số tim thay đổi giống sự biến đổi của thân nhiệt, tăng so với sinh lý bình thường

và tăng theo mức độ bệnh. Cụ thể:

Tần số tim ở chó ở trạng thái bình thường dao động trong khoảng 73

– 128 (lần/phút).

Theo dõi tần số tim đập trung bình của chó mắc bệnh do Parvovirus trung

bình từ 148,35 ± 8,00 (lần/phút). Như vậy, tần số tim mạch của chó bệnh cũng

tăng cao hơn so với tần số tim mạch của chó ở trạng thái bình thường.

Theo chúng tơi, tần số tim tăng là do khi chó mắc bệnh do Parvovirus

thân nhiệt tăng cao kích thích đến nút thần kinh tự động Keith - Flack trong tim,

làm nút Keith - Flack hưng phấn dẫn đến tim đập nhanh. Đồng thời, độc tố của

virus thấm qua thành ruột vào máu, kích thích hệ thần kinh trung ương, tăng

cường tuần hồn, hô hấp nhằm để thải độc tố của virus làm toan máu qua đường

hơ hấp và đường tiết niệu.

Tóm lại, ở chó mắc bệnh do Parvovirus cả 3 chỉ số lâm sàng: thân nhiệt,

tần số hô hấp, tần số tim đều cao hơn chó ở trạng thái bình thường.

4.2.2. Một số chỉ tiêu huyết học của chó bị bệnh

Xét nghiệm máu là một trong những phương pháp quan trọng trong chẩn

đốn bệnh. Vì vậy, chúng tơi đã tiến hành xét nghiệm máu của chó mắc bệnh

viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus và chó khỏe mạnh, để thấy được sự thay



35



đổi các chỉ tiêu huyết học giữa chó bệnh và chó khỏe mạnh. Kết quả được thể

hiện như sau:

4.2.2.1. Một số chỉ tiêu sinh lý của chó bị bệnh

Bảng 4.6. Chỉ tiêu sinh lý của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm

do Parvovirus (n = 8)

Chỉ tiêu

SL Hồng cầu

(Tera/L)

SL Bạch cầu

(Giga/L)

SL Huyết sắc tố Hb

(g/dL)

Hematocrit (fL)

Tỷ lệ bạch cầu

lympho (%)

Tỷ lệ bạch cầu

mono (%)

Tỷ lệ bạch cầu hạt



Chó khỏe

( X  mx )

Min - Max



Chó bị bệnh Parvovirus

( X  mx )

Min - Max



7,03a ± 1,03



5,5 – 8,5



4,16b ± 0,94



11,70a ± 3,73



6,0 – 17,0



4,73b ± 0,48



4,3 – 5,6



15,01a ± 2,94



11,0 – 19,0



10,11b ± 0,64



9,4 – 11



67,47a ± 3,93



62,0 – 72,0



47,68b ± 3,84



40 – 50



21,27a ± 5,27



12,0 – 30,0



35,87b ± 0,83



6,32a ± 2,39



2,0 – 9,0



1,63b ± 0,2



72,41a ± 4,51



60,0 – 83,0



62,50b ± 5,77



3,1 – 5,4



32,0 –

36,0

1,0 – 2,0



49 – 64

(%)

Ghi chú: - Các số trong cùng một hàng ngang mang những chữ cái khác



nhau thì sai khác nhau về mặt thống kê ở mức ý nghĩa P < 0,05.

1 Giga/l = 109/l; 1 Tera/l = 1012/l; fL (femtolit) = 10 -15 l.

Kết quả bảng 4.6 cho thấy: Số lượng hồng cầu, bạch cầu, hemoglobin, và

hematocrit đều giảm cụ thể:

- Số lượng hồng cầu (Tera/L) giảm từ 7,03 ± 1,03 xuống còn 4,16 ± 0,94.

- Hàm lượng huyết sắc tố Hb (g/dL) giảm từ 15,01 ± 2,94 xuống còn

10,11 ± 0,64.

Do đặc tính của bệnh, Parvovirus tấn công mạnh mẽ vào niêm mạc đường

ruột gây nên tình trạng viêm ruột, tiêu chảy, xuất huyết, máu theo phân ra ngoài

(Lobetti (2003) [36]). Do một lượng lớn hồng cầu theo phân ra ngoài nên lượng

36



hồng cầu và một số thành phần của máu sẽ giảm đáng kể tùy theo mức độ bệnh.

Chó bệnh sẽ mất nhiều máu nên chỉ số hematocrit cũng giảm theo đáng kể. Các

chỉ số này giảm làm cho con vật trở nên thiếu máu.

- Các chỉ số bạch cầu cũng giảm đáng kể số lượng bạch cầu trung bình

giảm từ 11,70 ± 3,73 xuống còn 4,73 ± 0,48.

Theo McCandlish (1999) [37], khi Parvovirus xâm nhập vào các tế bào

lympho chúng sẽ bắt đầu nhân lên và phá hủy các tế bào lympho gây ra tình

trạng giảm các tế bào bạch cầu. Đối với chó bệnh do Parvovirus có thể làm

cho số lượng bạch cầu giảm thấp điều đó chứng tỏ chó bệnh do Parvovirus sẽ

dễ bị suy kiệt, sức đề kháng của bệnh hầu như khơng có (Trần Thị Minh Châu

(2005) [2]).

4.2.2.2. Một số chỉ tiêu sinh hóa máu của chó bị bệnh

Bảng 4.7. Kết quả theo dõi chỉ tiêu sinh hóa của chó mắc bệnh viêm ruột

truyền nhiễm do Parvovirus

Chỉ tiêu

GOT (U/L)

GPT (U/L)

Ure

(umol/L)

Creatin



Chó khỏe (n = 8)

X  mx

Min - Max

a

28,71 ± 8,22

12,00 – 130,00

a

33,73 ± 13,28

12,0 – 130,00



Chó bị bệnh Parvovirus (n = 8)

Min - Max

X  mx

b

133,52 ± 2,69 130,99 – 139,41

132,64b ± 1,43 130,14 – 134,81



6,68a ± 2,20



2,50 – 9,50



13,02b ± 1,10



109,04a ± 17,40



60,01- 180,01



35,11b ± 2,43



11,5 – 14,8



30 – 39

(umol/L)

Ghi chú: - Các số trong cùng một hàng ngang mang những chữ cái khác

nhau thì sai khác nhau về mặt thống kê ở mức ý nghĩa P < 0,05.

Qua số liệu bảng 4.7 cho thấy: Hàm lượng của cả 2 men GOT và GPT

đều cao hơn mức bình thường, với hàm lượng lần lượt là 133,52 ± 2,69 (U/L)

và 132,64 ± 1,43 (U/L).

Chỉ số GOT tăng cao là do một enzyme nội tế bào được giải phóng khi

tế bào chết và chúng sẽ đi vào máu. Theo Nguyễn Thế Khánh và Phạm Tử

Dương (2001) [10] GOT tăng trong nhồi máu cơ tim, viêm màng ngoài tim,



37



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×