Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

dài, tai dựng đứng, lông ngắn sát thân, màu đen pha vàng, chân khẳng khiu trông

giống hươu. Người ta thường cắt đi lúc còn nhỏ.

Chó Fox là giống chó rất ương ngạnh và bướng bỉnh. Chúng rất can đảm

và thích sủa nhiều. Rất trung thành với chủ, tình cảm, thơng minh, ln cảnh

giác với vật lạ. Chó Fox thường có chiều cao 25 - 30 cm, cân nặng 4 - 5 kg. Chó

cái cao 25 - 28 cm, cân nặng khoảng 4kg [43].

- Phốc sóc (pomeranians):

Giống chó này được lai tạo tại vùng Pomerania (Đức) từ những cá thể có

kích thước bé nhỏ thuộc giống German spitz. Mõm nhọn và bộ lơng dày điển

hình của giống Spitz nói lên nguồn gốc từ Bắc Cực. Ban đầu, Phốc sóc có kích

thước lớn hơn và có màu lơng sáng hơn hiện nay. Cá thể lớn nhất có kích thước

khoảng 13 kg và thường có màu lơng trắng. Chúng có thân hình thanh thoát với

chiều cao cân đối với chiều dài. Cổ ngắn linh hoạt, đầu dài, trán hơi lồi. Về sau do

quá trình tạo giống chọn tạo kích thước nhỏ đồng thời đã có thêm nhiều màu lơng

như kem, da cam, xám, nâu đen. Cân nặng 1,4 - 3 kg. Chiều cao 22 - 28 cm

(Borge và cs. (2011) [27]).

Phốc sóc mặc dù có kích thước nhỏ bé, nhưng vẫn giữ ngun tính tình

dũng cảm của những con chó lớn. Chúng sủa rất nhiều và to, làm cho chúng có

thể trở thành giống chó canh gác, thậm chí có thể thay thế giống chó khác. Đây

cũng là giống chó có tính hiếu kì và có khả năng tiếp thu tốt khi được dạy những

trò cần có sự khéo léo.

-Labrador:

Giống chó này có nguồn gốc từ Canada, con đực có kích thước: 56 – 57

cm, con cái có kích thước từ 54 – 56 cm. Trọng lượng từ 25 – 30 kg. Đầu tương

đối to và rộng, cổ chắc khỏe. Đôi tai rủ xuống khiến cho khuôn mặt của

Labrador trông rất cởi mở và hiền từ. Thân hình rắn chắc, rất nổi tiếng bởi khả

năng bơi lội giỏi, mũi rất thính và mắt rất tinh.



4



Là vua của các giống chó săn, Labrador rất năng nổ, lanh lợi, tự tin và

rất gan dạ nhưng nó lại rất điềm đạm mà khơng hề hung hăng nên nó là một con

vật rất đáng yêu. Được đánh giá là giống chó thân thiện nhất hiện nay [44].

- Bull Pháp:

Chó Bull Pháp khá nhỏ bé với chiều cao (tính từ chân đến vai) dưới 30cm,

đa số dưới 25cm, cân nặng từ 8 – 13kg.

Thân hình Bull Pháp tuy nhỏ bé nhưng rất cơ bắp, lông Bull pháp rất

ngắn, mỏng, mượt và thường có màu nâu, trắng, đen hoặc trộn lẫn. Chúng có đơi

tai to, mỏng và ln dựng đứng rất đặc trưng, trông như tai dơi. Đầu chúng tròn,

trán rộng và dơ cao. Bull Pháp rất hiền lành (Leighton và Robert (1907) [35])

-Poodle:

Được sinh ra ở những vùng đầm lầy hoang dã nước Đức, Pháp. Giống chó

Poodle có 3 kích thước phổ biến: Toy Poodle có chiều cao tối đa khoảng 25 cm

khi đứng, và nặng từ 2 – 5 kg khi trưởng thành. Vì rất nhỏ nhắn xinh xắn

nên Toy hầu như chỉ được nuôi để làm thú cưng. Miniature Poodle có chiều cao

tối đa khoảng 40 cm và nặng tối đa 9kg. Standard Poodle lớn nhất trong họ

Poodle với chiều cao phổ biến khoảng 40cm, cá biệt những con cao nhất có thể

cao tới 50cm và nặng tới 30kg.

Giống chó Poodle nổi tiếng vì sự tinh nghịch, vui vẻ và cực kỳ thơng

minh,có khả năng đi bằng 2 chân sau. Xét về việc huấn luyện, Poodle là một học

sinh xuất sắc. Chúng rất biết vâng lời, dễ huấn luyện và nhanh nhẹn

(Encyclopedia Britannica (2011) [29]).

- Alaska:

Theo Huson HJ và cs. (2010) [32] chó Alaska là một nhánh của giống chó

sói tuyết Bắc Cực, được biết đến đầu tiên bởi bộ tộc Mahlemut.

Chó Alaska là giống to khỏe, bền bỉ và chịu được thời tiết khắc nghiệt

của vùng Bắc Cực, chúng có khả năng phục vụ cơng việc kéo xe tuyết.

Sau khi vùng đất Alaska trở thành 1 bang của Mỹ thì giống chó này trở

thành một giống chó của đất Mỹ.

5



Alaska thuần chủng có chiều cao trung bình từ khoảng 60cm, nặng 30 –

50kg (trong đó dòng Alaska khổng lồ có thể cao tới gần 1m, nặng 80kg).

Lơng của chó Alaska dày, thơ nhưng mềm và bóng.

- Malinois:

Là một giống chó thuộc nhóm chó chăn cừu Bỉ có ngoại hình khá

giống chó chăn cừu Đức nhưng khác biệt với cái mõm đen do đó còn được gọi

là Béc-giê mõm đen.

Đặc điểm của giống chó Malinois là cơ thể chúng cân đối, vuông vắn,

trọng lượng vừa phải: con đực cao từ 61–66 cm, trọng lượng khoảng 25–30 kg;

con cái cao từ 56–61 cm, trọng lượng khoảng 20–25 kg. Ngực sâu, lưng hơi

thoải dần từ vai xuống.

Màu lông có thể là nâu sẫm tới đỏ, màu gụ tới đen, với những đầu sợi

lông màu đen. Màu nâu đỏ với mặt nạ đen. Mặt nạ và tai màu đen. Bên bụng

dưới cơ thể, đi và lưng có màu nâu nhạt hơn. Lông quanh cổ trông như một cổ

dề bởi vì nó hơi dài hơn. Bộ lơng mượt và ngắn.

Chúng rất thông minh và vâng lời, chúng thận trọng và canh chừng với

bản năng bảo vệ chủ và lãnh thổ mạnh mẽ (Leighton và Robert (1907) [35]).

Hình ảnh một số giống chó thường gặp ở Việt Nam:



Hình 1. Giống chó Poodle



Hình 2. Giống chó Labrado



Hình 4. Giống chó Alaska



Hình 3. Giống chó Bull Pháp

6



Hình 3. Giống chó Phốc sóc



Hình 4. Giống chó Fox hươu



2.1.2. Bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus

2.1.2.1. Lịch sử bệnh

Bệnh xuất hiện đầu tiên ở Mỹ vào năm 1978, sau đó lan dần trên phạm vi

tồn thế giới. Bệnh thường xảy ra ở dạng dịch địa phương hoặc ở nhiều ổ dịch

xảy ra cùng một lúc. Theo Trần Thanh Phong (1996) [17] bệnh xuất hiện vào

mùa thu năm 1977 ở Texas và đến mùa hè năm 1978 đã xảy ra nhiều vùng khác

nhau ở Hoa Kỳ và Canada. Đầu năm 1979 bệnh xuất hiện ở Úc, Hà Lan, Bỉ,

Anh, Pháp, bệnh đã được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 trên chó

nghiệp vụ.

Parvovirus chỉ gây nhiễm cho họ chó gồm chó nhà, chó sói, chó có lơng

bờm ở cổ, cáo ăn cua, gấu mèo Mỹ.

Chó ở mọi lứa tuổi đều nhạy cảm với bệnh, thông thường hầu hết các con

trưởng thành đều có kháng thể, tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trên chó con từ 6

- 12 tuần tuổi rất đáng kể do có sự hủy bỏ kháng thể mẹ truyền sang. Bệnh có

khả năng lây lan nhanh. Tỷ lệ mắc bệnh có thể lên đến 50%, tỷ lệ tử vong trên

chó con từ 50 - 100% (Trần Thanh Phong (1996) [17]).

2.1.2.2. Nguyên nhân gây bệnh

Là do Parvovirus gây ra. Theo Phạm Hồng Sơn và cs. (2002) [24]

Parvovirus có vị trí phân loại như sau:



7



Họ: Parvoviridae

Giống: Parvovirus

Lồi: Canine Parvovirus type 2

Các đặc tính sinh học của Parvovirus

Hình thái và cấu trúc: Là một DNA đơn virus khơng có vỏ bọc, có đường

kính 20 nm, 32 capsome.

Sức đề kháng với mơi trường bên ngồi: Parvovirus đề kháng mạnh với

mơi trường bên ngồi. Trong phân thì virus có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ

phòng. Nó đề kháng với tác động của Ete, Chloroforme, axit và nhiệt độ (56 0C

trong 30 phút) (Trần Thanh Phong (1996) [17]).

Đặc tính ni cấy của virus

Virus chỉ nhân lên trong nhân tế bào và gây bệnh tích tế bào trên tế bào

tim chó con còn bú hay trên tế bào ruột, tế bào lymphocyte của chó trong thời kỳ

cai sữa những tế bào trong thời kỳ gián phân thích hợp nhất.

Đặc tính kháng nguyên

Sự nhân lên của Parvovirus ở chó làm xuất hiện kháng thể gây ức chế

phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa huyết thanh. Kháng thể ức

chế phản ứng ngưng kết hồng cầu xuất hiện vào ngày thứ hai hoặc ngày thứ ba

sau khi nhiễm. Phản ứng này được sử dụng trong chẩn đoán huyết thanh học.

Phản ứng trung hòa huyết thanh rất khó thực hiện trong phòng thí nghiệm.

2.1.2.3. Dịch tễ học

Lồi vật mắc bệnh

Trong tự nhiên tất cả các giống chó đều cảm thụ với virus Parvo, nhưng

chó ngoại mẫn cảm hơn chó nội (Trần Thanh Phong (1996) [17]).

Trong phòng thí nghiệm, có thể gây bệnh cho chó con và chồn. Ngồi ra,

có thể dùng chuột lang, thỏ, chuột nhắt trắng, khỉ để gây nhiễm.

Lứa tuổi mắc bệnh

Trong tự nhiên hầu hết xảy ra ở chó từ 2 đến 12 tháng tuổi, nhiều nhất là

chó từ 3 đến 6 tháng tuổi. Việc gây bệnh thử nghiệm trên chó 6 tháng tuổi dễ

hơn chó 3 tuần tuổi do chó 3 tuần tuổi có miễn dịch thụ động thu nhận được từ

8



chó mẹ (Hồ Đình Chúc (1993) [4]).

Mùa vụ nhiễm bệnh

Tô Du và Xuân Giao (2006) [6] khi nghiên cứu về dịch tễ học bệnh viêm

ruột truyền nhiễm do Parvovirus cho rằng tất cả các lồi chó đều cảm thụ bệnh,

nhưng mẫn cảm hơn là lồi chó lai, chó cảnh, chó nội ít mẫn cảm hơn. Bệnh xảy

ra quanh năm nhưng xuất hiện nhiều khi có sự thay đổi thời tiết đặc biệt là

những ngày mưa, độ ẩm cao. Ở Việt Nam, bệnh thường diễn ra vào thời điểm

giao mùa, từ Xuân sang Hè.

2.1.2.4. Cơ chế sinh bệnh

Virus xâm nhập bằng đường miệng và mũi, thải ra ngoài qua phân, sau

khi xâm nhập đầu tiên virus nhân lên tại các mô lympho, gây nhiễm trùng huyết

vào ngày thứ 2 và ngày thứ 5, từ đó tạo phản ứng miễn dịch và kháng thể có thể

xuất hiện vào ngày thứ 5 và thứ 6. Trong thời gian này, virus có thể được thải ra

ngồi qua phân vào ngày thứ 4, tối đa là vào ngày thứ 5, sau đó giảm dần và

chấm dứt vào ngày thứ 9. Trong quá trình gây nhiễm trùng huyết, virus đồng

thời nhân lên ở tế bào lympho và tế bào tủy xương dẫn đến giảm thiểu số lượng

bạch cầu, hậu quả là làm suy giảm miễn dịch. Virus nhân lên trong tế bào ruột

dẫn đến hoại tử biểu mơ ruột bào mòn nhung mao ruột, giảm hấp thu và tiêu

chảy rồi chết.

Ở những chó con khơng có kháng thể mẹ truyền, virus thường gây bệnh

tích trên cơ tim và gây ra bệnh ở dạng tim mạch.

Các nghiên cứu đã chứng minh rằng chỉ cần đưa một lượng nhỏ

Parvovirus bằng 100 liều gây nhiễm mô nuôi cấy DICT (Dose Infectieuse

Culturede Tisu) đủ gây nhiễm cho chó. Điều này cho thấy tác hại về mặt dịch tễ

học do có lượng quá lớn virus trong phân (1 tỷ DICT/g phân) chó mắc bệnh

(Nguyễn Như Pho (2003) [16]; Tạ Thị Vịnh (1991) [23]).



9



Qua đường

miệng

Qua đường

Virusmiệng

vào máu

Virus vào máu

Hạch bạch huyết

và lách



Tủy xương



Ruột



Tủy xương



Ruột



Hạch bạch huyết

và lách

Hoại tử những tế bào

sinh lympho



Hoại tử biểu mô ruột

Hoại tử biểu mô ruột



Hoại tử những tế bào

sinh lympho

Giảm thiểu tế bào

lympho



Viêm ruột/ tiêu

chảy



Giảm thiểu tế bào

lympho

Chết



Viêm ruột/ tiêu

chảy

Khỏi bệnh



Hình 5. Sơ đồ sinh bệnh học của bệnh do Parvovirus trên chó

Chết



Sơ đồ 1:

Sinh bệnh

Sau khi nhiễm bệnh, chó có miễn dịch kéo dài trong 3 năm, hiệu giá

học của

kháng thể trung hòa hay ngăn trở ngưng kết hồng cầu

trêndonhững chó này sẽ lên

bệnh

rất cao. Những chó con sinh ra trong khoảng thờiParvoviru

gian lúc 9 - 12 tuần cảm

s trên

nhiễm. Sau 2 - 3 năm thì hiệu giá kháng thể sẽ giảmchó

thấp,

chó con sinh ra có thể

Khỏi

bệnh

cảm nhiễm Parvovirus sớm hơn vào lúc 5 - 6 tuần tuổi.

Khả năng sinh đáp ứng miễn dịch



10



Miễn dịch thụ động ở chó con có được do kháng thể mẹ truyền cho sẽ tồn

tại khoảng 9 ngày và thường được bài thải vào khoảng tuần thứ 10 hay 11 sau

khi sinh.

Một số kháng nguyên tương đồng giữa những dòng Parvovirus khác nhau

ở thú thịt: Virus Panleucopenie Felien (FPV). Virus gây viêm ruột ở chồn

(MEV). Sự tương đồng này có thể phát hiện bởi phản ứng trung hòa và phản

ứng HI. Mặc dù có sự tương đồng kháng nguyên nhưng nó có những giới hạn

riêng biệt trong tự nhiên. FPV chỉ gây nhiễm cho mèo, MEV chỉ gây nhiễm cho

chồn và CPV chỉ gây nhiễm cho chó.

2.1.2.5. Triệu chứng

Triệu chứng chủ yếu của bệnh là viêm ruột ỉa chảy, bệnh thường biểu hiện

ở 3 dạng:

Dạng đường ruột: Giai đoạn đầu chó thể hiện các triệu chứng như ủ rũ,

mệt mỏi, bỏ ăn, nằm lì một chỗ, nơn mửa cho đến khi hết thức ăn trong dạ dày.

Thân nhiệt tăng dần sau đó tăng cao. Thơng thường cơn sốt kéo dài từ khi chó

bắt đầu mệt tới lúc chó ỉa chảy nặng, thân nhiệt chỉ giảm khi chó kiệt sức và lịm

dần đi. Khi chó ỉa chảy nặng, phân có mùi thối khắm đặc trưng, trong phân lúc

đầu có màu xám vàng, về sau có máu tươi hoặc đã phân huỷ thành máu cá, niêm

mạc đường ruột bong ra lẫn máu trong phân (Lê Thanh Hải và cs. (1998) [7]).

Chó thường chết do ỉa chảy mất nước, mất cân bằng điện giải, sốc do nội độc tố

hoặc nhiễm trùng thứ phát. Những con khỏi bệnh có miễn dịch lâu dài.

Dạng tim: Thường thấy ở chó 4 - 8 tuần tuổi, biểu hiện của bệnh chủ yếu

là suy tim do virus tấn công gây hoại tử cơ tim. Con vật thường chưa có biểu

hiện triệu chứng gì nhưng lăn ra chết đột ngột. Những trường hợp khác có thể

thấy chó bị thiếu máu nặng, niêm mạc nhợt nhạt hay thâm tím, gan và túi mật

sưng to, thở khó, nơn mửa và kêu la rồi lăn ra chết. Tỷ lệ chết 50%.

Dạng kết hợp tim - ruột: Thường thấy ở chó từ 6 - 16 tuần tuổi. Chó ỉa

chảy nặng, mạch yếu và lặn, thiếu máu, chó chết rất nhanh trong vòng 24h.



11



2.1.2.6. Bệnh tích

Theo Nguyễn Như Pho (2003) [16] bệnh tích của bệnh Parvovivus biểu

hiện như sau:

Bệnh tích đại thể

Niêm mạc ruột: sung huyết, xuất huyết, lớp nhung mao ruột bị bào mòn

nhất là ở khơng tràng.

Lách: Màu sắc và hình dạng khơng đồng nhất.

Dạ dày: Niêm mạc xuất huyết một phần hay tồn bộ.

Gan: Có thể sưng, túi mật căng.

Hạch bạch huyết: Phù thũng, xuất huyết.

Thể tim: Phù thũng phổi, viêm cơ tim.

Bệnh tích vi thể

Ruột: Hoại tử biểu mơ tuyến Lieberkun, tồn bộ nhung mao ruột bị bào mòn.

Cơ quan lympho: Hoại tử và tiêu hủy những tế bào lympho trong màng

payer, trong trung tâm mầm, trong hạch bạch huyết màng treo ruột và những

hạch bạch huyết ở lách.

Dạng tim: Viêm cơ tim khởi phát, phân tán nặng nề.

2.1.2.7. Chẩn đoán

Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [3] cho biết việc chẩn đoán bệnh

viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus gây ra trên chó có thể tiến hành như sau:

Chẩn đoán lâm sàng:

Dựa vào triệu chứng, bệnh tích và yếu tố dịch tễ, chủ yếu dựa vào các đặc

điểm như sau:

Mức độ lây nhiễm lớn.

Thường gây ra trên chó từ 6 tuần tuổi đến 6 tháng tuổi.

Tỷ lệ tử vong cao (trên 50%).

Điều trị tốt khi mới phát hiện

Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh viêm ruột khác trên chó:



12



Viêm ruột do Coronavirus: Bệnh lây lan rất rộng nhưng không nguy hiểm

nhiều, tiêu chảy từ 6 - 14 ngày, con vật mất nước, tỷ lệ tử vong thấp.

Viêm ruột do Rotavirus: Bệnh gây tiêu chảy nhưng cách sinh bệnh chưa

được biết rõ ràng.

Viêm ruột trong bệnh Care: Rất khó phân biệt giữa bệnh Care và bệnh do

Parvovirus, bởi vì cả hai bệnh đều xảy ra ở chó con và ỉa chảy ra máu. Nhưng

cần chú ý một số khác biệt:

Trong bệnh Care phân thường có màu cà phê, còn ở bệnh do Parvovirus

phân thường có màu hồng.

Bệnh Care có dấu hiệu thần kinh và nốt sài ở da, tăng sinh các tổ chức da

ở bàn chân.

Viêm dạ dày ruột trong bệnh Leptospira gây ra tiến trình bệnh xảy ra

nhanh với đặc điểm gây suy thận và nhiễm trùng huyết.

Ngồi ra còn gặp trong các trường hợp viêm ruột ỉa chảy do ký sinh trùng

(cầu trùng trên chó, giun lươn,…) hoặc gây tiêu chảy do các tác động gây co thắt

hay tắc nghẽn.

Chẩn đốn trong phòng thí nghiệm

Tìm virus trong phân: Có thể thực hiện ni cấy trên môi trường tế bào

nhưng thời gian lâu dài và tốn kém. Cần lưu ý rằng sự tiêm chủng vacxin virus

nhược độc dẫn đến bài thải virus trong 4 - 10 ngày, tuy yếu nhưng sự bài thải

này có thể dẫn đến kết quả dương tính giả.

Chẩn đốn huyết thanh học: Dùng phản ứng HI (dễ thực hiện, cho kết quả

tương đối chính xác). Kháng thể xuất hiện trong máu khi bắt đầu tiêu chảy nhưng

với hiệu giá thấp. Trên thực tế thường dùng phản ứng ELISA để chẩn đoán (Trần

Thanh Phong (1996) [24]; Nguyễn Như Pho (2003) [23]).

Chẩn đoán bằng test CPV (Canine Parvovirus One – step Test Kit): Phát

hiện kháng nguyên virus Parvo trong các mẫu phân. Thời gian cho kết quả chỉ

từ 5 -10 phút.



13



Tóm lại, ở chó bị bệnh thì ta có thể tìm virus trong phân, ở chó bệnh bị chết

ta tiến hành chẩn đốn mô học (ruột và cơ quan lympho).

2.1.2.8. Điều trị

Cũng giống như các bệnh do virus gây ra, bệnh khơng có thuốc điều trị

đặc hiệu mà chỉ điều trị triệu chứng, kết hợp chống bội nhiễm và tăng sức đề

kháng, trợ sức, trợ lực.

Sử dụng kết hợp các biện pháp sau:

Truyền dịch nhằm bù lại lượng nước do ói mửa, tiêu chảy. Việc bù

lại lượng nước phải có tính hệ thống và thường truyền qua tĩnh mạch hoặc dưới

da. Dung dịch này gồm nước sinh lý mặn để điều chỉnh lượng nước mất ngoài tế

bào và nước sinh lý ngọt, acid amin thiết yếu để cung cấp năng lượng và protein.

Việc bù đắp nước phải đầy đủ, ít nhất là 20 - 30ml nước/kgP dùng trong 4 ngày.

Chống nôn: Atropin sulphat 0,1%.

Chống vi khuẩn bội nhiễm: sử dụng kháng sinh T- 5000

Trợ sức, trợ lực: Vitamin B, Vitamin C.

Cầm máu: vitamin K (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài (2004) [3])

2.1.2.9. Phòng bệnh

Để phòng bệnh do Parvovirus gây viêm ruột trên chó theo Vương Đức

Chất và Lê Thị Tài (2004) [3] cho biết có nhiều biện pháp phòng bệnh khác

nhau như sau:

Phòng bằng vệ sinh

Cách ly để theo dõi những chó mới nhập.

Thường xun sát trùng chuồng ni

Chó phải thường xun tắm rửa sạch sẽ. Những người tiếp xúc với chó

bệnh có thể trở thành vật mang trùng thụ động và thầm lặng.

Phòng bệnh bằng vaccine

Khó khăn lớn nhất trong việc phòng bệnh bằng vaccine là sự tồn tại của

hàm lượng kháng thể thụ động từ sữa mẹ truyền sang, ngay tại thời điểm mất



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×