Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN

Tải bản đầy đủ - 0trang

hạn là các khoản vay có thời hạn cho vay từ 12 tháng đến 60 tháng; Cho vay dài

hạn là các khoản cho vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng đổ lên”.

Loại hình cho vay này được ngân hàng cấp cho các khách hàng để đáp ứng

nhu cầu mua sắm tài sản cố định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản

xuất, xây dựng các dự án có quy mơ nhỏ, vừa và lớn. Theo đó, ngân hàng cho các

khách hàng vay trong một thời gian nhất định theo thoả thuận giữa ngân hàng và

doanh nghiệp với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết.

Thời hạn cho vay ở đây là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu

nhận vôn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay được thoả thận trong

hợp đồng cho vay giữa ngân hàng và khách hàng.

1.1.2. Đặc điểm về hoạt động cho vay trung và dài hạn

Một là, quy định vốn chủ sở hữu tham gia vào dự án, phương án:

Cho vay trung và dài hạn với thời gian dài, độ rủi ro cao hơn so với cho vay

ngắn hạn, để giảm bớt rủi ro ngồi việc quy định khách hàng phải có vốn chủ sở hữu

tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh và đời sống. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu tham

gia vào tính chất của từng dự án, mức độ rủi ro và hiệu quả của dự án.

Hai là, quy định thời hạn trả nợ, cách thanh toán nợ và nguồn trả nợ:

Thời hạn trả nợ vốn vay phụ thuộc vào tính chất, đặc điểm dự án đầu tư

nhưng thời hạn trả nợ cũng có thể rút ngắn trong trường hợp hiệu quả của dự án

mang lại cao.

Nguồn trả nợ đối với khoản cho vay trung và dài hạn nhìn chung khác với

cho vay ngắn hạn. Các khoản cho vay trung và dài hạn được dùng chủ yếu cho nhu

cầu mua sắm tài sản cố định,.. cho nên nguồn trả nợ chính cho khoản vay này là từ

nguồn khấu hao và một phần lợi nhuận do dự án mang lại.

Ba là, quy định giải ngân trong cho vay trung và dài hạn:



11



Đối với khoản cho vay trung và dài hạn có thể giải ngân một lần, hoặc nhiều

lần nhằm đảm bảo cho khách hàng sử dụng tiền vay đúng mục đích. Ngân hàng

khơng cho rút vốn khi các nhu cầu chi tiêu liên quan chưa phát sinh.

Ngân hàng và khách hàng thoả thuận rút hết toàn bộ tiền vay một lần trong trường

hợp vay để mua sắm máy móc, thiết bị. Đối với các tài sản hình thành trong một

thời gian dài thì việc giải ngân được thực hiện theo tiến độ cơng việc hồn thành.

Bốn là, quy định lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay trung và dài hạn thường cao hơn lãi suất cho vay ngắn hạn,

nó có thể là lãi suất cố đinh trong suốt thời kỳ vay vốn, cũng có thể là lãi suất biến

đổi tuỳ thuộc vào sự biến động của thị trường. Sự biến đổi của lãi suất có thể dựa

trên lãi suất cơ bản của ngân hàng, hay lãi suất liên ngân hàng của một số thị

trường như: LIBOR, SIBOR ... Việc thu tiền lãi có thể theo kỳ hạn tháng, q, năm

dựa vào số dư ở mỗi kỳ hạn trả nợ và lãi suất cho vay. Khách hàng có thể trả tiền

lãi cùng nợ gốc tại mỗi kỳ hạn trả nợ hay trả tiền lãi vào một ngày nào đó trong kỳ

theo thoả thuận.

1.1.3. Một số quy định về hoạt động cho vay trung và dài hạn

1.1.3.1. Thời hạn cho vay

Điểm khác biệt cơ bản đầu tiên giữa cho vay trung và dài hạn với cho vay

ngắn hạn là thời hạn cho vay.

Nếu như, cho vay ngắn hạn có thời hạn cho vay được xác định phù hợp với

chu kỳ sản xuất kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng nhưng khơng q 12

tháng. Thì cho vay trung,dài hạn lại có thời hạn cho vay được xác định phù hợp với

thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư,khả năng trả nợ của khách hàng và tính chất

của nguồn vốn cho vay,trong đó:

 Cho vay trung hạn thường có thời gian từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc 60

tháng tuỳ theo quy định của từng ngân hàng.

 Cho vay dài hạn có thời gian trên 36 tháng hoặc 60 tháng.

12



1.1.3.2. Đối tượng cho vay

Đối tượng cho vay trung dài hạn là tồn bộ các chi phí cấu thành trong tổng

mức vốn đầu tư của các dự án xây dựng mới,mở rộng cải tạo cơng nghệ… Trong

quan hệ tín dụng ngân hàng, đối tượng cho vay trung dài hạn là các cơng trình,hạng

mục cơng trình hoặc dự án đầu tư xây dựng,mua sắm tài sản cố định…của các đơn

vị kinh tế có luận chứng kỹ thuật tốt,xác thực và tổng dự toán đã phê duyệt.

1.1.3.3. Nguyên tắc và điều kiện vay vốn

Khách hàng muốn vay vốn của Ngân hàng phải đảm bảo được ba ngun tắc

tín dụng cơ bản. Đó là:

Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thoả thuận trong hợp đồng tín

dụng. Khi vay trung dài hạn,người vay phải soạn thảo dự án,chương trình sản xuất

kinh doanh.Các dự án này phải được thể hiện một cách đầy đủ,rõ ràng việc sử dụng

vốn theo các mục đích cụ thể.Mục tiêu này phải nằm trong mục tiêu chiến lược

phát triển kinh tế chung của vùng và cúa đất nước.Để cho dự án được thực hiện,cần

có sự thơng qua,cho phép của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ hai, phải hồn trả tiền vay và lãi theo đúng thời hạn đã thoả thuận trong

hợp đồng tín dụng.

Thứ ba, phải đảm bảo tiền vay theo đúng quy định của Chính phủ,của Ngân

Hàng Nhà Nước.

Trên cơ sở các nguyên tắc trên,mỗi Ngân hàng sẽ đề ra các điều kiện ràng

buộc,các quy định mang tính chất bắt buộc có thể thực hiện vốn vay của Ngân

hàng. Các quy định này về cơ bản là giống nhau nhưng các điều khoản cụ thể thì

khác nhau phụ thuộc vào mỗi ngân hàng và thời điểm lịch sử.

Do các đặc trưng của tín dụng trung dài hạn nên thời gian thu hồi vốn là rất

lâu,có khả năng gặp nhiều rủi ro trong quá trình sử dụng nên việc cho vay trung dài

hạn phải tuân theo quyết định 367/QĐNH1 của thống đốc NHNN Việt Nam về thể

lệ tín dụng trung dài hạn như sau:

13



a. Đối với các doanh nghiệp

Doanh nghiệp vay vốn phải là đơn vị sản xuất kinh doanh có lãi,có vốn tham

gia tối thiểu bằng 20% tổng dự tốn cơng trình đầu tư.

Doanh nghiệp vay vốn phải chấp hành đầy đủ các quy định của Nhà nước về

quản lý đầu tư xây dựng cơ bản và thể lệ tín dụng trung dài hạn của ngân hàng.

Doanh nghiệp vay vốn phải mua bảo hiểm cho tài sản hình thành bằng vốn

vay tại một cơng ty bảo hiểm được phép hoạt động hợp pháp tại Việt Nam,nếu tài

sản đó quy định phải mua bảo hiểm và cam kết sử dụng số tiền bồi thường khi gặp

rủi ro để trả nợ.Trường hợp không mua bảo hiểm do tổng giám đốc ngân hàng quy

định.

b. Đối với các cơng trình xây dựng mới

Đối với các cơng trình xây dựng mới để có thể thực hiện vay trung và dài

hạn tại ngân hàng thì đòi hỏi phải có đầy đủ các điều kiện sau đây:

Phải có giấy phép xây dựng và giấy phép sử dụng đất do các cấp có thẩm

quyền cấp để đảm bảo được tính pháp lý cho cơng trình.

Phải có lệnh hoặc hợp đồng phân phối vật tư máy móc thiết bị và nếu là nhập

khẩu trực tiếp thì phải có giấy phép nhập khẩu hợp pháp.

Đối với cơng trình dự án của các đơn vị kinh tế của các đơn vị kinh tế đã và

đang hoạt động kinh doanh ổn định,đang có lãi thực sự,có xu hướng phát triển tốt

phù hợp với cơ chế kinh tế mới,phải có vốn tham gia tối thiểu 30% tổng dự tốn

cơng trình.

Hiện nay theo quy định mới của chính phủ,các đơn vị kinh doanh một số

ngành nghề cụ thể nếu chứng minh được mình làm ăn có hiệu quả thì sẽ có khả

năng vay vốn mà không cần thế chấp.



14



1.1.4. Một số loại hình cho vay trung và dài hạn

Có nhiều cách để phân loại các khoản vay trung và dài hạn tại các ngân hàng,

tuy nhiên có thể xem xét các khoản vay trung và dài hạn của các ngân hàng thương

mại theo các khoản sau:

1.1.4.1. Cho vay theo dự án đầu tư

Hiện nay có nhiều các tiêu chí khác nhau để xem xét về cho vay trung và dài

hạn với các dự án đầu tưnhưng nhìn chung, các góc độc quan sát để cho vay này

đều có những đặc điểm khác nhau khi tiếp cận dự án đầu tư. Các khía cạnh xem xét

đó thường là như sau:

 Dự án đầu tư có mục tiêu rõ ràng cần đạt tới khi thực hiện và có mục đích sử

dụng vốn vay phù hợp.

 Dự án đầu tư phải chứng minh được các căn cứ pháp lý của chủ đầu tư cụ

thể.

 Dự án đầu tư phải giải trình được tài sản và thu nhập ròng hàng năm.

 Dự án đầu tư phải có giấy tờ kinh doanh ngành nghề, giấy tờ thuê địa điểm

đầy đủ.

 Dự án đầu tư phải cho thấy được khả năng trả nợ và khả năng tài chính tự có

của chủ đầu tư.

Xét về mặt hình thức thì dự án đầu tư khi đi vay trung và dài hạn thì cần phải

trình bày một cách chi tiết và có hệ thống các chương trình hoạt động, các quy trình

thực hiện và các khoản phải thu chi tương ứng trong dòng tiền của mình. Các

khoản cho vay dự án có thể được thế chấp trên cơ sở bảo lãnh, theo đó ngân hàng

cho vay có thể khơi phục vốn từ những tổ chức thực hiện bảo lãnh nếu dự dự án

không thể trả nợ đúng kế hoạch đã định.

Tuy nhiên, các khoản vay này cũng có thể cung cấp khơng dựa trên cơ sở

bảo lãnh, khơng có người đứng ra bảo lãnh, dự án tồn tại hay sụp đổ dựa trên chính

15



giá trị của nó. Trong trường hợp này, ngân hàng cho vay có thể phải đối mặt với rủi

ro rất lớn và họ yêu cầu một mức lãi suất cao hơn những khoản cho vay có bảo

đảm. Các khoản vay như vậy, ngân hàng thường đòi hỏi các tổ chức tài trợ dự án

phải thế chấp tài sản cho đến khi dự án hoàn tất.

1.1.4.2. Cho thuê tài chính

Cho thuê tài chính là một hoạt động tín dụng trung và dài hạn thông qua việc

cho thuê máy móc, thiết bị, phương tiện vận chuyển và các động sản khác trên cơ

sở hợp đồng cho thuê với bên thuê. Bên cho thuê cam kết mua máy móc, thiết bị,

phương tiện vận chuyển và các động sản khác theo yêu cầu của bên thuê vầ nắm

quyền sở hữu tài sản đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và

thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đươc hai bên thoả thuận.

Cho thuê tài chính về bản chất là một hoạt động tín dụng trong đó mục đích

của người cho th cũng giống như mục đích của người vay là thu lãi tiền vốn đầu

tư, còn mục đích của người đi vay cũng như người đi thuê là sử dụng vốn. Nhưng

cho thuê tài chính vẫn có đặc trưng riêng biệt cụ thể:

Hình thức cấp tín dụng của cho thuê tài chính là bằng tài sản, người đi thuê

chỉ có quyền sử dụng tài sản, định kỳ thanh toán tiền thuê theo thoả thuận.

Thời gian cho thuê thường chiếm phần lớn thời gian hoạt động của tài sản, trong

thời gian này người đi thuê không được huỷ hợp đồng ngang. Hết thời hạn của hợp

đồng thuê có thể chuyển nhượng quyền sở hữu tài sản hay tiếp tục thuê theo thoả

thuận hai bên.

Bên cho thuê dễ dàng kiểm tra việc sử dụng tài sản đánh giá hiệu quả tài sản

thuê, phát hiện sớm những rủi ro tiềm ẩn để có những biện pháp xử lý kịp thời.

Tất cả các tài sản cho thuê phải được bảo hiểm trong suốt thời gian cho thuê, việc

mua bảo hiểm phải được thực hiện dựa trên cơ sở hợp đồng bảo hiểm tại một công

ty bảo hiểm được phép hoạt động tại Việt Nam do bên cho thuê tài chính chỉ định.



16



Quy trình quản lý và theo dõi hồ sơ bảo hiểm tài sản cho thuê do giám đốc bên cho

thuê quyết định.

1.1.4.3. Cho vay tiêu dùng

Nhằm giúp người tiêu dùng có nguồn vốn tài chính để trang trải nhu cầu về

nhà ở, đồ dùng gia dình,…. Ngân hàng thương mại thực hiện cho vay tiêu dùng,

căn cứ vào cách thức hồn trả, cho vay tiêu dùng có thể chia làm 3 loại sau:

Cho vay tiêu dùng trả một lần: Theo cách cho vay này, khách hàng thanh

toán cho ngân hàng một lần cho đến khi đáo hạn. Loại cho vay này thường áp dụng

đối với khoản vay có giá trị nhỏ, thời gian cho vay khơng q dài.

Cho vay tiêu dùng trả góp: Loại cho vay này thường áp dụng đối với các

khoản vay có giá trị lớn hay thu nhập định kỳ của người vay không đủ khả năng

thanh toán hết một lần số nợ vay.

Cho vay tiêu dùng tuần hoàn: Cho vay tiêu dùng tuần hồn là khoản cho vay

trong đó ngân hàng cho phép khách hàng sử dụng thẻ tín dụng. Trong thời gian thoả

thuận, căn cứ vào nhu cầu chi tiêu và thu nhập từng thời kỳ, khách hàng thực hiện

vay và trả nợ một cách tuần hồn theo một hạn mức tín dụng. Hình thức vay này có

rủi ro tương đối thấp nhưng có lãi suất cao, tuy nhiên ngân hàng chịu những khoản

chi phí cao về dịch vụ và quản lý.

1.1.4.4. Cho vay hợp vốn

Cho vay hợp vốn là hình thức cho vay trong đó có từ 2 hay nhiều tổ chức tín

dụng tham gia vào một dự án đầu tư hay phương án sản xuất kinh doanh của một

khách hàng vay vốn. Bên cho vay hợp vốn là hai hay nhiều tổ chức tín dụng cam

kết với nhau để thực hiện đồng tài trợ cho một dự án. Bên nhận tài trợ là pháp nhân

hay tổ chức có nhu cầu và được bên đồng tài trợ cấp tín dụng để thực hiện dự án.

Các điều kiện cho vay hợp vốn cụ thể như sau:

 Nhu cầu xin cấp tín dụng để thực hiện dự án của bên nhận tài trợ vượt quá

giới hạn cho vay của một ngân hàng theo quy định hiện hành.

17



 Khả năng tài chính và nguồn vốn của một ngân hàng không đáp ứng được

nhu cầu cấp tín dụng của dự án đầu tư.

 Nhu cầu phân tán rủi ro của ngân hàng.

 Bên nhận tài trợ có nhu cầu huy động vốn từ nhiều ngân hàng.

 Các nguyên tắc tổ chức việc cho vay hợp vốn:

 Các thành viên tự nguyện tham gia và phối hợp với nhau để thực hiện.

 Các thành viên thống nhất lựa chọn một ngân hàng để làm đầu mối.

Hình thức cấp tín dụng và phương thức giao dịch giữa các bên tham gia cho

vay hợp vốn với bên nhận tài trợ phải được các bên thoả thuận ghi trong hợp đồng

cho vay hợp vốn.

Trường hợp có vấn đề phát sinh trong quá trình hợp vốn, các bên tham gia

cho vay hợp vốn cùng thoả thuận và thống nhất với bên nhận tài trợ để xử lý theo

hợp đồng. Mọi tranh chấp do vi phạm hợp đồng cho vay hợp vốn và hợp đồng tín

dụng được các bên giải quyết trên cơ sở đàm phán thoả thuận. Trường hợp không

giải quyết được các bên có quyền khởi kiện theo quy định của pháp luật.

1.1.5. Nội dung của hoạt động cho vay trung và dài hạn

1.1.5.1. Quy trình cho vay trung và dài hạn

Quy trình cho vay trung và dài hạn bao gồm những quy định cần phải thực

hiện trong quá trình cấp vốn, thu nợ nhằm đảm bảo an tồn vốn cho vay. Nó được

bắt đầu tư khi điều tra, thẩm định, thiết lập hồ sơ, xét duyệt cho vay, giải ngân,

kiểm tra quá trình sử dụng vốn vay, thu lãi cho đến khi thu hồi được nợ. Chất lượng

cho vay trung và dài hạn đảm bảo hay không phụ thuộc vào việc thực hiện tốt các

quy định ở từng bước và thực hiện nhịp nhàng giữa các bước trong quá trình cho

vay.

Trong quá trình cho vay, bước điều tra, thẩm định cho vay, thiết lập hồ sơ

cho vay và xét duyệt cho vay là rất quan trọng, là cơ sở định lượng rủi ro trong quá

18



trình cho vay. Cho vay trung và dài hạn được sử dụng để tài trợ cho các dự án lớn

nên thực chất công tác kiểm định và xem xét dự án đầu tư nhằm đưa ra đánh giá

tính khả thi, hiệu quả kinh tế, khả năng trả nợ, mức độ rủi ro có thể xảy ra của dự

án để quyết định cho vay hoặc từ chối, số tiền cho vay, thời hạn cho vay và mức thu

nợ hợp lý,…. Giúp ngân hàng lựa chọn được những phương án tốt nhất. Tiếp theo,

bước kiểm tra quá trình cho vay giúp ngân hàng nắm được nguyên nhân, diễn biến

của khoản cho vay đã cung cấp để có các hoạt động điều chỉnh hoặc can thiệp khi

cần thiết nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra.

Thu nợ, thu lãi và thanh lý nợ là khâu có vai trò quan trọng quyết định đến sự

tồn tại của ngân hàng. Do đó, ngân hàng phải tích cực trong công tác thu lãi, thu

nợ. Việc nhạy bén của ngân hàng thông qua việc thu lãi, thu nợ để phát hiện kịp

thời những hiện tượng bất thường của mỗi món vay và biện pháp xử lý chính xác,

kịp thời, đúng lúc sẽ giúp giảm các khoản nợ quá hạn tránh thất thoát vốn.

1.1.5.2. Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay trung và dài hạn

a. Chỉ tiêu tổng doanh số cho vay

Tổng doanh số cho vay khi được đề cập để đánh giá chất lượng tín dụng bao

gồm cho vay ngắn hạn,trung và dài hạn,cho vay uỷ thác. Chỉ tiêu này được đo bằng

số tuuệt đối,nó phản ánh doanh số cho vay của ngân hàng trong một kỳ(một năm)

là bao nhiêu. Tổng dư nợ thấp phản ánh chất lượng tín dụng thấp vì chỉ ra rằng

ngân hàng khơng có khả năng mở rộng hoạt động cho vay,khả năng tiếp thị khách

hàng kém,trình độ của đội ngũ nhân viên khơng cao…

Tuy nhiên không phải bất kỳ thời điểm nào chỉ tiêu này cao cũng là tốt và

ngược lại,do vậy khi xét chỉ tiêu này chúng ta cũng không nên xem xét chúng theo

từng thời kỳ riêng rẽ mà phải xem xét chúng trong cả một quá trình trên cơ sở phân

tích các yếu tố tác động bên ngồi để chỉ số này phản ánh một cách tốt nhất có thể

thực tế hoạt động tín dụng cuả ngân hàng trong nền kinh tế.

b. Doanh số thu nợ

19



Bên cạnh tổng doanh số cho vay thì doanh số thu nợ cũng là một trong

những chỉ tiêu quan trọng thể hiện khả năng thu nợ của ngân hàng hoặc khả năng

trả nợ khoản vay của khách hàng.

Doanh số thu nợ cao cho thấy ngân hàng đã triệt để trong công tác thu nợ

hoặc khách hàng thực hiện tốt nhiệm vụ trả nợ theo quy định, qua đó thấy được khả

thu hồi vốn từ các khoản cho vay cao, chứng tỏ khoản vay tốt. Ngược lại nếu doanh

số thu nợ thấp cho thấy ngân hàng đang lỏng lẻo trong việc giám sát, kiểm tra và

đôn đốc thu nợ hoặc khả năng tài chính của khách hàng có sự giảm sút vì vậy năng

lực chi trả các khoản nợ kém, nên ngân hàng cần xem xét các khoản vay này để có

phương án đề phòng rủi ro.

c. Chỉ tiêu dư nợ cho vay

Dư nợ cho vay: là số tiền khách hàng còn nợ ngân hàng, khơng phụ thuộc và

doanh số cho vay và thu nợ vì dư nợ có thể tồn tại năm này qua năm khác, miễn là

còn trong thời hạn hợp đồng( nhưng nếu tính trong 1 nam thì dự nợ = doanh số cho

vay – doanh số thu nợ). Phản ánh số nợ mà ngân hàng đã cho vay và chưa thu được

vào một thời điểm nhất định. Để xác định được dư nợ, ngân hàng sẽ so sánh giữa

hai doanh số cho vay và doanh số thu nợ.

Tổng dư nợ cho vay bao gồm tổng dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn. Tổng

dư nợ cho vay cao và tăng trưởng nhìn chung phản ánh một phần hiệu quả hoạt

động tín dụng tốt và ngược lại tổng dư nợ tín dụng thấp, ngân hàng khơng có khả

năng mở rộng hoạt động cho vay hay mở rộng thị phần, khả năng tiếp thị của ngân

hàng kém.

Tuy nhiên tổng dư nợ cao chưa hẳn đã phản ánh hiệu quả tín dụng của ngân

hàng cao vì đơi khi nó là biểu hiện cho sự tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng,

vượt q khả năng về vốn cũng như khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, hoặc

mức dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của ngân

hàng thấp hơn so với thị trường dẫn đến tỷ suất lợi nhuận giảm.

d. Chỉ tiêu về nợ quá hạn

Để đánh giá các khoản cho vay trung và dài hạn thì tỷ lệ về nợ quá hạn là

một trong những chỉ tiêu phản ánh rõ nhất chất lượng của khoản vay đó, nó cho

thấy cơng tác thu nợ, và nợ xấu tồn đọng của ngân hàng đang ở mức độ tốt, xấu hay

chấp nhận được. Cụ thể:

20



Tỷ lệ nợ quá hạn cho vay trung và dài hạn=

Chỉ tiêu này có thể nói là một chỉ tiêu quan trọng nhất khi xem xét chất

lượng tín dụng của một ngân hàng thương mại. Đến kỳ trả nợ,nếu người vay không

trả và không được gia hạn nợ thì ngân hàng sẽ chuyển tồn bộ nợ đến hạn sang nợ

quá hạn và đương nhiên người đi vay phải chịu lãi suất quá hạn thường là cao gấp

rưỡi lãi suất trong hạn,vì thế doanh nghiệp đã khó sẽ càng trở nên khó khăn hơn

trong việc trả nợ. Tỷ lệ nợ quá hạn quá cao biểu hiện hiện tượng chất lượng tín

dụng của ngân hàng là thấp,rủi ro cao vì với một số lớn các khoản nợ khơng được

hồn trả đúng hạn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong việc phân phối luồng vốn

vào ra,với việc khơng thu được nợ thì ngân hàng sẽ phải đối mặt với việc mất khả

năng thanh toán hoặc tệ hơn là phá sản.

Khi xem xét các chỉ tiêu nợ khó đòi, người ta thường xem xét cả về số tương

đối lẫn số tuyệt đối. Số tuyệt đối ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hàng năm của

ngân hàng. Số tương đối được xác định bởi tỷ lệ nợ khó đòi:

Tỷ lệ nợ khó đòi =

Mục đích của các Ngân hàng thương mại là làm cho các tỷ lệ này càng nhỏ

càng tốt, Thông thường tỷ lệ này dưới 4% là chấp nhận được. Cả hai chỉ tiêu này

đều giúp ngân hàng quản lý rủi ro các khoản cho vay và đều càng nhỏ càng tốt .Tuy

nhiên khác biệt cơ bản của hai tỷ lệ này là tỷ lệ quá hạn chỉ xem xét đến giá trị của

khoản nợ quá hạn,trong khi đó thì tỷ lệ nợ khó đòi xem xét đến giá trị các khoản nợ

khó đòi trong nợ quá hạn. Hai chỉ tiêu này đều chịu ảnh hưởng của chính sách xố

nợ của ngân hàng,một ngân hàng có chính sách tốt phải thiết lập được quĩ dự phòng

rủi ro đủ mạnh và thông báo định kỳ về những món vay khơng có khả năng thu hồi

để tránh tình trạng trong một lúc ngân hàng phải thông báo con số nợ khơng có khả

năng thu hồi q lớn và làm giảm tài sản của ngân hàng một cách nghiêm trọng.

Tuy nhiên,nếu như ngân hàng thực hiện xóa nợ quá nhanh thì hai tỷ lệ này ở mức

thấp nhất nhưng khơng có ý nghĩa thực tiễn.

e. Chỉ tiêu lợi nhuận thu được từ hoạt động cho vay trung và dài hạn

21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY TRUNG VÀ DÀI HẠN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×