Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH

CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Tài liệu điều tra đo đạc địa chính gồm bản đồ địa chính và sổ mục kê đất đai,

bản lưu Giấy chứng nhận được lập dưới dạng giấy và dạng số (nếu có);

+ Sổ địa chính được lập dưới dạng giấy hoặc dạng số;

+ Sổ đăng ký biến động đất đai lập dưới dạng giấy.

b. Nguyên tắc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính

- Hồ sơ địa chính được lập theo từng đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn.

- Việc lập, cập nhật, chỉnh lý hồ sơ địa chính phải theo đúng trình tự, thủ tục

hành chính theo quy định của pháp luật đất đai.

- Nội dung thơng tin trong hồ sơ địa chính phải bảo đảm thống nhất với Giấy

chứng nhận được cấp (nếu có) và phù hợp với hiện trạng quản lý, sử dụng đất.

c. Nội dung hồ sơ địa chính

Chương III, Thơng tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi

trường đã quy định nội dung hồ sơ địa chính được chia thành 6 nhóm dữ liệu [4]:

- Nhóm dữ liệu về thửa đất;

- Nhóm dữ liệu về đối tượng chiếm đất khơng tạo thành thửa đất;

- Nhóm dữ liệu về người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, người

quản lý đất;

- Nhóm dữ liệu về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất;

- Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất;

- Nhóm dữ liệu về sự thay đổi trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản gắn

liền với đất.



11



d. Giá trị pháp lý của hồ sơ địa chính

Điều 3, Thơng tư số 24/2014/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường

quy định về giá trị pháp lý của hồ sơ địa chính [4]:

- Hồ sơ địa chính làm cơ sở để xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng

đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất, xác định quyền và nghĩa vụ của người được

Nhà nước giao quản lý đất theo quy định của pháp luật đất đai.

- Hồ sơ địa chính dạng giấy, dạng số đều có giá trị pháp lý như nhau.

- Trường hợp có sự khơng thống nhất thông tin giữa các tài liệu của hồ sơ địa

chính thì phải thực hiện kiểm tra, đối chiếu các tài liệu trong hồ sơ địa chính và hồ sơ

thủ tục đăng ký để xác định thơng tin có giá trị pháp lý làm cơ sở chỉnh lý thống nhất

hồ sơ địa chính.

1.1.2. Vai trò của hồ sơ địa chính trong quản lý đất đai

Hồ sơ địa chính phản ánh hiện trạng sử dụng đất, xu hướng sử dụng đất cũng

như các biến động sử dụng đất trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó nó phản

ánh các vấn đề trong quá trình sử dụng đất [10]:

- Về các chính sách pháp luật đất đai: Thơng qua các thơng tin phản ánh trong

hồ sơ địa chính, các nhà quản lý đất đai có thể nhận thức được tính khả thi, hiệu quả

của các chính sách pháp luật đất đai, những lỗ hổng mà các chính sách chưa đề cập

đến, từ đó đưa ra các chính sách phù hợp với tình hình sử dụng và quản lý đất đai hiện

tại cũng như trong tương lai.

- Về quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất: Đầu tiên, hồ sơ địa chính là cơ

sở để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Hồ sơ địa chính thể hiện đầy đủ các thơng

tin về người sử dụng đất, mục đích sử dụng đất, diện tích, vị trí và những biến động

đất đai, qua đó có cái nhìn tổng qt về hiện trạng sử dụng đất, những thay đổi về mục

đích sử dụng đất và hiệu quả trong việc sử dụng đất, từ đó đưa ra phương án quy

hoạch, kế hoạch sử dụng đất hợp lý và hiệu quả. Mặt khác, hồ sơ địa chính cũng phản

12



ánh kết quả của quá trình thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng dụng đất để có những

điều chỉnh hợp lý trong kì quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất tiếp theo.

- Về quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng

đất: Hồ sơ địa chính cung cấp các thơng tin chính xác và cụ thể những thông tin về

giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và chuyển mục đích sử dụng đất để theo dõi tình

hình sử dụng đất cũng như thanh tra, kiểm tra việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

của cơ quan quản lý đất đai.

- Về quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất: Nhà nước thu

hồi đất trong 3 trường hợp: Thu hồi đất vì mục đích quốc phòng - an ninh, phát triển

kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, cộng đồng; thu hồi đất do vi phạm pháp luật về đất

đai và thu hồi đất do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất,

có nguy cơ đe dọa đến tính mạng con người. Đối với trường hợp Nhà nước thu hồi đất

vì lợi ích quốc gia, thì hồ sơ địa chính là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định diện

tích, mục đích sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất để phục vụ công tác bồi thường khi

nhà nước thu hồi đất. Đối với trường hợp, người sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất

đai, Nhà nước thông qua việc đối chiếu hồ sơ địa chính với hiện trạng sử dụng đất thực

tế để quyết định việc thu hồi đất do vi phạm quy định nào của pháp luật.

- Về đăng ký đất đai, cấp GCN: Hồ sơ địa chính ghi nhận và lưu trữ đầy đủ các

thơng tin về nguồn gốc sử dụng đất, chủ sử dụng đất, thời gian sử dụng đất, mục đích

sử dụng đất, thời hạn sử dụng đất, là cơ sở để thực hiện việc đang kí đất đai, cấp GCN,

xác định nghĩa vụ tài chính và các hạn chế về quyền trong quá trình sử dụng đất.

- Về thống kê, kiểm kê đất đai: Kết quả thống kê, kiểm kê đất đai được tổng

hợp từ các tài liệu trong hồ sơ địa chính. Mặt khác, thơng qua q trình thống kê, kiểm

kê đất đai đánh giá được chất lượng cũng nhưu việc cập nhật của hồ sơ địa chính.

- Về việc giải quyết tranh chấp về đất đai, giải quyết kiếu nại, tố cáo trong quá

trình quản lý và sử dụng đất: Hồ sơ địa chính là tài liệu quan trọng trong việc giải



13



quyết tranh chấp đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quá trình quản lý và sử

dụng đất.

Như vậy, hồ sơ địa chính có vai trò quan trọng trong q trình quản lý Nhà

nước về đất đai, nó được sử dụng thường xuyên, là cơ sở cho Nhà nước quản lý đất đai

chặt chẽ và hiệu quả, bảo vệ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai. Do đó, chất lượng của

hồ sơ địa chính có ảnh hưởng rất lớn đến việc quản lý đất đai. Tuy nhiên, ở nhiều địa

phương, việc lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính còn tồn tại nhiều hạn chế, bất cập

như: hồ sơ địa chính chưa được cập nhật thường xuyên, các loại giấy tờ trong hồ sơ bị

mất, bị thất lạc trong quá trình sử dụng, nhiều loại giấy tờ thiếu, bản đồ địa chính thiếu

chính xác,… làm giảm chất lượng của các tài liệu, chưa phát huy được hết vai trò của

hồ sơ địa chính trong quản lý đất đai.

1.1.3. Các vấn đề về xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác hồ sơ địa chính

Hiện nay, việc xây dựng, cập nhật hồ sơ, quản lý và khai thác hồ sơ địa chính

bộc lộ một số bất cập, hạn chế [12]:

- Hồ sơ địa chính thiếu tính đồng bộ, khơng được chỉnh lý kịp thời. Một số nơi

còn sử dụng hồ sơ địa chính cũ từ năm 1988, cũ, rách nát, kém chất lượng. Hồ sơ địa

chính đang được sử dụng hiện nay đang sử dụng được lập theo 4 thời kì [12]:

+ Trước năm 1991: Hồ sơ địa chính chủ yếu là sản phẩm của kết quả thực hiện

Chỉ thị 299/TTg ngày 10/1/1980, bao gồm: bản đồ (thường gọi là bản đồ giải thửa, hay

bản đồ 299), Sổ mục kê, Sổ ruộng đất... Bản đồ giải thửa được lập bằng công cụ thô

sơ: thước dây, thước tre, máy bàn đạc cải tiến của Việt Nam, can sao bằng tay, biến

động lớn nhưng không được chỉnh lý kịp thời, nên độ chính xác chưa cao; sau khi

chỉnh lý không được ký và xác nhận, lưu giữ chưa được tốt. Về sổ sách: khơng có chữ

ký của người vẽ, chữ ký và dấu của UBND xã và cơ quan quản lý đất đai, các loại sổ

chưa được lập theo đúng nguyên tắc, bị tẩy xóa, gạch bỏ; nhiều hồ sơ bị rách nát, hư

hỏng và thất lạc. Hiện nay, một số địa phương vẫn đang sử dụng tài liệu này do chưa

được đo đạc, lập mới bản đồ địa chính.

14



+ Giai đoạn 1991-1999: Bản đồ địa chính được thành lập theo Quy phạm tại

Quyết định 220/QĐ-ĐC ngày 01/7/1991 của Tổng cục Địa chính về ban hành Quy

phạm đo vẽ bản đồ địa chính tỉ lệ 1/1.000, 1/2.000, 1/5.000. Công cụ đo đạc gồm máy

đo kinh vĩ, máy bàn đạc, công nghệ vẫn thủ công. Bản đồ ở thời kỳ này tương đối

chính quy nhưng khơng được chỉnh lý biến động thường xuyên, nhất là một số địa

phương có biến động sử dụng đất lớn, sổ sách khơng được lưu trữ đầy đủ ở 3 cấp.

+ Giai đoạn 1999-2008: Bản đồ được thành lập theo quy phạm tại Quyết định

720/1999/QĐ-ĐC ngày 30/12/1999 của Tổng cục Địa chính về ban hành quy định đo

vẽ bản đồ tỉ lệ 1/500, 1/1.000, 2.000, 1/5.000, 1/1.0000 (quy phạm 720/QĐ-ĐC).

Trước năm 2004, kí hiệu các loại đất trong bản đồ địa chính theo quy định trong Quyết

định số 499 QĐ/ĐC ngày 27/7/1995 của Tổng Cục địa chính (T, Lúa, Vườn…). Tuy

nhiên, trong quá trình thực hiện nhận thấy quy định này khơng phù hợp, bản đồ địa

chính đo vẽ sau năm 2004 vẫn thực hiện theo quy phạm tại Quyết định 720/1999/QĐĐC nhưng ký hiệu loại đất theo hệ thống phân loại mới quy định tại Thông tư số

28/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trường

(ONT,ODT,…). Công cụ đo đạc gồm máy tồn đạc điện tử, chụp ảnh viễn thám, cơng

nghệ số. Bản đồ được thành lập theo quy phạm 720/QĐ-ĐC với cơng nghệ đo đạc hiện

đại, độ chính xác cao do đó dẫn đến việc chênh lệch diện tích, ranh giới, hình dạng

thửa so với bản đồ cũ được sử dụng để cấp GCN vào năm 1993, gây khó khăn trong

việc cấp đổi GCN đối với các trường hợp hết thời hạn sử dụng đất, tranh chấp đất đai.

+ Giai đoạn từ 2008 – nay: Trước khi Luật Đất đai năm 2013 ban hành, bản đồ

được thành lập theo quy phạm tại Quyết định 08/2008/QĐ-ĐC ngày 10/11/2008 của

Bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành quy định đo vẽ bản đồ tỉ lệ 1/500, 1/1.000,

2.000, 1/5.000, 1/1.0000 (quy phạm 2008/QĐ-ĐC). Sau năm 2013, bản đồ địa chính

được thành lập theo Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT quy định về bản đồ địa chính.

Bản đồ địa chính được lập bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp ở thực địa bằng máy toàn

đạc điện tử, phương pháp sử dụng công nghệ GPS đo pha hoặc phương pháp sử dụng

ảnh hàng không kết hợp với đo vẽ trực tiếp ở thực địa nên nhìn chung có độ chính xác

15



cao hơn so với các giai đoạn trước. Tuy nhiên, các địa phương chưa tiến hành đo đồng

loạt dẫn đến sự không phù hợp giữa các loại bản đồ, giữa bản đồ và GCN đã cấp.

- Hồ sơ địa chính chưa cập nhật đầy đủ các thông tin về thửa đất và người sử

dụng đất. Người dân cũng chưa đi kê khai, đăng ký đất đai, chỉnh lý biến động đầy đủ,

gây khó khăn trong việc xây dựng, chỉnh lý hồ sơ địa chính.

- Hồ sơ địa chính hiện nay chủ yếu được lưu trữ ở dạng giấy, gây khó khăn cho

việc tìm kiếm, cập nhật và sử dụng hồ sơ địa chính. Mặt khác, do tác động của mơi

trường cũng như trong q trình sử dụng hồ sơ ở nhiều nơi bị hư hỏng, rách nát, thất

lạc.

- Hồ sơ địa chính được lưu trữ ở các cơ quan nhà nước, dưới dạng giấy và chưa

có quy định cụ thể trong việc khai thác các dữ liệu về đất đai, do đó người dân ít có cơ

hội tiếp cận các thông tin về đất đai, là một trong những nguyên nhân dẫn đề sự phát

triển của thị trường bất động sản thiếu tính lành mạnh, gây ra nhiều hệ quả xấu như:

lừa đảo bằng giấy tờ giả, nâng giá đất, tranh chấp đất đai,…

Như vậy, hệ thống hồ sơ địa chính hiện nay còn khá nhiều bất cập và hạn chế,

dẫn đến nhà nước phải đưa ra những biện pháp để cải thiện và nâng cao chất lượng của

hồ sơ địa chính. Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề còn tồn

tại trong cơng tác quản lý đất đai hiện nay.

1.2. Tổng quan về cơ sở dữ liệu địa chính

1.2.1. Khái niệm về cơ sở dữ liệu địa chính

Theo Điều 3, Thông tư số 75/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi

trường, “Cơ sở dữ liệu đất đai là tập hợp các dữ liệu đất đai được sắp xếp, tổ chức để

truy cập, khai thác quản lý và cập nhật thông qua phương tiện điện tử”. Cơ sở dữ liệu

đất đai bao gồm các cơ sở dữ liệu thành phần sau [6]:

- Cơ sở dữ liệu địa chính;

- Cơ sở dữ liệu quy hoạch sử dụng đất;

16



- Cơ sở dữ liệu giá đất;

- Cơ sở dữ liệu thống kê, kiểm kê đất đai.

Trong đó, cơ sở dữ liệu địa chính là thành phần cơ bản của cơ sở dữ liệu đất

đai, làm cơ sở để xây dựng và định vị không gian và các cơ sở dữ liệu thành phần

khác.

Cơ sở dữ liệu địa chính là tập hợp thơng tin có cấu trúc của dữ liệu địa chính.

Dữ liệu địa chính là dữ liệu khơng gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa chính và các

dữ liệu khác có liên quan [10], trong đó:

- Dữ liệu khơng gian địa chính: là dữ liệu về vị trí, hình thể của thửa đất, nhà ở

và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về hệ thống thủy văn, hệ thống thủy lợi; hệ

thống đường giao thông; dữ liệu về điểm khống chế; dữ liệu về biên giới, địa giới; dữ

liệu về địa danh và ghi chú khác; dữ liệu về đường chỉ giới và mốc giới quy hoạch sử

dụng đất, quy hoạch xây dựng, quy hoạch giao thông và các loại quy hoạch khác, chỉ

giới hành lang an toàn bảo vệ cơng trình.

- Dữ liệu thuộc tính địa chính: là dữ liệu về người quản lý đất, người sử dụng

đất, chủ sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, tổ chức và cá nhân có liên quan

đến các giao dịch về đất đai, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu thuộc tính

về thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về tình trạng sử dụng của

thửa đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu về quyền và nghĩa vụ trong sử

dụng đất, sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; dữ liệu giao dịch về đất đai,

nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

Như vậy, cơ sở dữ liệu địa chính là tập hợp thơng tin có cấu trúc của dữ liệu

khơng gian địa chính, dữ liệu thuộc tính địa chính và các dữ liệu khác có liên quan;

được sắp xếp, tổ chức để truy cập, khai thác quản lý và cập nhật thông qua phương

tiện điện tử.



17



1.2.2. Vai trò của cơ sở dữ liệu địa chính

Cơ sở dữ liệu địa chính có thể hiểu là hồ sơ địa chính dạng số và các thơng tin

khác có liên quan đến đất đai, do đó nó mang đầy đủ các vai trò của hồ sơ địa chính.

Ngồi ra, nó có những vai trò khác thể hiện tính ưu việt, nổi trội hơn hồ sơ địa chính

dạng giấy [10]:

- Cơ sở dữ liệu địa chính được xây dựng một cách có hệ thống, chính xác, đầy

đủ và lưu trữ dưới dạng số tạo điều kiện cho những nhà làm chính sách đất đai có cái

nhìn tồn diện về tình hình sử dụng và quản lý đất đai của cả nước và của từng địa

phương từ đó đưa ra các chính sách mới phù hợp. Việc sử dụng cơ sở dữ liệu địa chính

sẽ mở ra một phương thức quản lý đất đai mới, đó là quản lý bằng cơng nghệ số, giảm

thiểu các chi phí, thủ tục cho các cơng việc hành chính đất đai.

- Cơ sở dữ liệu địa chính cho phép sử dụng các phần mềm trong việc tính tốn

giá đất, quy hoạch sử dụng đất.

- Cơ sở dữ liệu địa chính giúp cho các nhà quản lý đất đai dễ dàng quản lý, truy

xuất dữ liệu, cập nhật và thực hiện các thủ tục hành chính.

- Cơ sở dữ liệu địa chính góp phần tạo nên một thị trường bất động sản minh

bạch, phát triển do người dân được tiếp cận với nhiều thông tin về đất đai hơn, thủ tục

hành chính đơn giản hơn và người quản lý đất đai cũng có thể quản lý chặt chẽ và hiệu

quả hơn.

Như vậy, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai nói chung và cơ sở dữ liệu địa chính

nói riêng là tất yếu để hướng tới việc quản lý đất đai minh bạch, đơn giản, hiệu quả và

liên thông.

1.2.3. Nội dung của cơ sở dữ liệu địa chính

Nội dung của cơ sở dữ liệu địa chính gồm 4 phần: dữ liệu khơng gian đất

đai nền, dữ liệu khơng gian địa chính, dữ liệu thuộc tính đất đai và siêu dữ liệu

địa chính [7]. Thơng tư số 75/2015/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi

trường đã quy định [6]:

18



- Dữ liệu không gian đất đai nền bao gồm:

+ Nhóm lớp dữ liệu điểm khống chế đo đạc gồm lớp dữ liệu điểm thiên

văn, điểm tọa độ quốc gia, điểm địa chính cơ sở, điểm địa chính, điểm khống chế

đo vẽ chôn mốc cố định; lớp dữ liệu điểm độ cao quốc gia, điêm độ cao kỹ thuật

có chơn mốc;

+ Nhóm lớp dữ liệu biên giới, địa giới gồm: lớp dữ liệu mốc biên giới, địa giới;

lớp dữ liệu đường biên giới, địa giới; lớp dữ liệu địa phận của cấp tỉnh; lớp dữ liệu địa

phận của cấp huyện; lớp dữ liệu địa phận cấp xã;

+ Nhóm lớp dữ liệu thủy hệ gồm lớp dữ liệu thủy hệ dạng đường, lớp dữ liệu

thủy hệ dạng vùng;

+ Nhóm lớp dữ liệu giao thông gồm lớp dữ liệu tim đường, lớp dữ liệu mặt

đường bộ, lớp dữ liệu ranh giới đường, lớp dữ liệu đường sắt;

+ Nhóm lớp dữ liệu địa danh và ghi chú gồm lớp dữ liệu điểm địa danh, điểm

kinh tế, văn hóa, xã hội; lớp dữ liệu ghi chú.

- Dữ liệu khơng gian địa chính bao gồm:

+ Lớp dữ liệu thửa đất;

+ Lớp dữ liệu tài sản gắn liền với đất;

+ Lớp dữ liệu đường chỉ giới;

+ Mốc giới của hành lang an toàn bảo vệ cơng trình, quy hoạch xây dựng, quy

hoạch giao thơng và các loại quy hoạch khác có liên quan đến thửa đất theo quy định

về bản đồ địa chính hiện hành.

- Dữ liệu thuộc tính đất đai bao gồm:

+ Nhóm dữ liệu về thừa đất;



19



+ Nhóm dữ liệu về đối tượng chiếm đất khơng tạo thành thửa đất;

+ Nhóm dữ liệu về tài sản gắn liền với đất;

+ Nhóm dữ liệu về người sử dụng đất, người quản lý đất, chủ sở hữu tài sản gắn

liền với đất;

+ Nhóm dữ liệu về quyền sử dụng đất, quyền quản lý đất, quyền sở hữu tài sản

gắn liền với đất;

+ Nhóm dữ liệu tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất, quyền quản lý - đất,

quyên sở hữu tài sản gắn liền với đất;

+ Nhóm dữ liệu về sự biến động trong quá trình sử dụng đất và sở hữu tài sản

gắn liền với đất;

+ Nhóm các dữ liệu khác có liên quan tới thửa đất.

- Nội dung siêu dữ liệu địa chính gồm những thơng tin cần thiết về dữ liệu địa

chính như: hệ quy chiếu toạ độ, dữ liệu địa chính, chất lượng dữ liệu địa chính và cách

thức trao đổi, phân phối dữ liệu địa chính, …

1.2.4. Các vấn đề về xây dựng, cập nhật, quản lý và khai thác cơ sở dữ liệu địa

chính

a. Quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính

Chương II, Thơng tư số 05/2017/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi

trường đã quy định quy trình xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính gồm 11 bước [7]. Cụ

thể như sau:

Bước 1: Cơng tác chuẩn bị

Công tác chuẩn bị cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính bao gồm việc lập

kế hoạch thi công chi tiết, chuẩn bị về nhân lực, vật tư, trang thiết bị, địa điểm.



20



Bước 2: Thu thập tài liệu, dữ liệu

Tài liệu, dữ liệu thu thập cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu địa chính gồm: Hồ sơ

địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất cấp xã.

Bước 3: Rà soát, đánh giá, phân loại và sắp xếp tài liệu, dữ liệu

Nội dung rà soát, đánh giá phải xác định được thời gian xây dựng, mức độ đầy

đủ thông tin, khả năng liên kết của các thửa đất liền kề trên một nền khơng gian, tính

pháp lý của từng tài liệu, dữ liệu để lựa chọn sử dụng cho việc xây dựng cơ sở dữ liệu

địa chính.

Bước 4: Xây dựng dữ liệu khơng gian đất đai nền

Chuẩn hóa dữ liệu bản đồ tiếp giáp, các lớp đối tượng không gian, chuyển đổi,

gộp các lớp đối tượng tiếp giáp, tích hợp các dữ liệu khơng gian nền.

Bước 5: Xây dựng dữ liệu khơng gian địa chính

Xây dựng dữ liệu khơng gian địa chính bao gồm:

- Chuẩn hóa các lớp đối tượng khơng gian địa chính;

- Chuyển đổi các lớp đối tượng khơng gian địa chính;

- Gộp các thành phần tiếp giáp nhau của cùng một đối tượng khơng gian địa

chính thành một đối tượng duy nhất;

- Chỉnh lý các thửa đất có biến động;

- Bổ sung, chỉnh sửa thửa đất bị chồng lấn;

- Rà soát dữ liệu khơng gian của từng đơn vị hành chính để xử lý các lỗi dọc

biên giữa các xã tiếp giáp nhau.



21



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×