Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đặc điểm của virus dại: Rabies virus

Đặc điểm của virus dại: Rabies virus

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bộ gene virus (khoảng 12kb) mang leader-sequence (trình tự để trắng hay trình

tự; trình tự mở đầu) có kích thước khoảng 50 nucleotide sau đó là các gene mã hóa cho

5 loại protein.



Bộ gene của virus dại (12kilobase) với đoạn trình "trắng" tại đầu 3', tiếp theo là

các gene mã hóa protein N, P, M, G và L với kích thước tương ứng

Lớp vỏ:

Hai loại phosphoprotein (P protein) và polymerase (L protein) liên kết với RNP.

Matrix protein (M protein) bao ngoài phần lõi, liên kết với RNP và lớp vỏ ngồi virus

có tác dụng quan trọng trong q trình lắp ráp tạo các virion. Glycoprotein (G protein)

tạo thành khoảng 400 "gai" có kích thước khoảng 10 nm trên bề mặt virus

Quá trình xâm nhập và nhân lên

Glycoprotein với các cấu trúc "gai" bề mặt đóng vai trò quan trọng trong quá

trình tiếp cận và tương tác với tế bào chủ. Sau khi gắn được với bề mặt tế bào, virus

xâm nhập nhờ các "bọng" được hình thành từ lớp màng tế bào chủ bao bọc lấy virus để

đưa virus vào tế bào chất (pinocytosis). Lớp màng bao của virus hợp nhất với màng

của các bào quan dẫn đến quá trình giải phóng lõi virus trong nguyên sinh chất của tế

bào (q trình cởi áo virus). Sau khi được giải phóng, RNA của virus bắt đầu quá trình

tổng hợp các mRNA (bước khởi đầu cho quá trình nhân lên trong tế bào chủ).

Polymerase của virus tiến hành sao mã phần leader sequence và mRNA của các

loại protein. Quá trình giải mã để tổng hợp các protein của virus được tiến hành tại các

ribosome của tế bào chủ (các glycoproteiin được hoàn thiện tại các ty thể và mạng lưới

golgi nội bào). Tỷ lệ đoạn trình tự lãnh đạo (leader strand) và protein N là "cơng tắc"

điều khiển q trình nhân lên của virus. Khi "công tắc" này được bật, bộ gene của

virus bắt đầu được sao mã (bước khởi đầu là tạo bản sao của toàn bộ các gene, các

"stop-codon" và "nonstop-codon" được bỏ qua).



25



Polymerase của virus tác động từ một ví trí đơn tại đầu 3' và bắt đầu cho quá

trình tổng hợp mạch dương. Các mạch dương trở thành khn cho q trình tổng hợp

tồn bộ bộ gene. Trong q trình lắp ráp, phức hợp N-P-L gói lấy RNA virus hình

thành "lõi" virus và protein M (matrix protein) hình thành lớp bao xung quanh lõi.

Tiếp theo, cCấu trúc M-RNP kết hợp với glycoprotein tạo các virion hoàn chỉnh. Các

virion thoát ra khỏi màng tế bào chủ (đặc biệt là khả năng thoát khỏi màng các tế bào

thần kinh thuộc hệ thần kinh trung ương (central nervous system; CNS). Trong các

tuyến nước bọt (salivary glands), các virion thoát khỏi màng tế bào vào các túi tuyến

(acinar lumen). Virus có mặt trong các tuyến nước bọt của động vật làm tăng nguy cơ

lây nhiễm khi những con vật ở trạng thái kích thích cắn các con vật khác và người.

Virus dại có khả năng phát triển trong nhiều hệ thống tế bào được ni cấy

trong phòng thí nghiệm, khơng chỉ những tế bào của động vật máu nóng (warm

blooded animals) mà cả trong tế bào động vật biến nhiệt có xương sống

(poikilothermic vertbrate). Virus phát triển trên hệ thống tế bào lưỡng bội của người

được dùng để sản xuất vaccine. Virus còn được ni cấy thích nghi trên phơi gia cầm.

Dơi và các động vật gặm nhấm được cho là vật chủ tự nhiên của virus dại.

EBV1 và EBV2 được phân lập từ dơi ở châu Âu. Virus Duvenhage và EBV2 có liên

hệ mật thiết với quý trình lây nhiễm ở người, gây chết với biểu hiện giống bệnh dại

(rabies-like illness).

Các type huyết thanh:

Serotype 1: prototype rabies virus

Serotype 2: Logas bat

Serotype 3: Mokola

Serotype 4: Duvenhage

Serotype 5: EBL-1 (European bat lyssavirus)

Serotype 6: EBL-2

VII.



Dịch tễ

Bệnh dại là bệnh chung cho cả động vật và người (zoonosis). Các lồi mắc bệnh



chính ở các châu lục khác nhau:

26



Châu Âu: Cáo và dơi

Trung Đơng: Sói, chó

Châu Á: Chó

Châu Phi: Chó, cầy mangut, linh dương

Bắc Mỹ: Cáo, chồn, gấu trúc, dơi ăn sâu bọ

Nam Mỹ: Chó, dơi

Càng ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy vai trò quan trọng của dơi là

nguồn bệnh ở nhiều vùng khác nhau trên thế giới. Trường hợp người mắc bệnh cũng

được phát hiện sau khi bị dơi cắn. Cho đến nay, các thử nghiệm gây nhiễm virus dại

trên động vật có vú đều dương tính. Chó, mèo và đại gia súc là nhũng động vật đặc

biệt mẫn cảm. Chồn, dơi, cáo, sóc, gấu trúc, cầy mangut là những vật chủ chính của

virus trong tự nhiên.

VIII.



Sinh bệnh học

Con đường lây nhiễm virus dại phổ biến nhất là khi các động vật mang virus cắn



người hay những con vật khác hoặc các vết thương tiếp xúc với nước bọt của vật mắc

bệnh. Một sơ con đường khác cũng có thể sảy ra như lây qua niêm mạc miệng, kết

mạc, hậu môn , cơ quan sinh dục ngồi.

Động vật thí nghiệm cũng có thể bị nhiễm khi virus được đưa vào các hộp nuôi

dưới dạng phun sương. Người có thể bị nhiễm khi vào trong các hang dơi bị có virus

dại. Một số trường hợp đặc biệt phát hiện trên người được cấy gép giác mạc từ người

khác bị nhiễm virus.

Khi xâm nhiễm các tế bào trong trung ương thần kinh, virus thường gây chết vật

chủ. Sau khi xâm nhiễm, virus nhân lên trong các mơ liên kết tại vị trí xâm nhập sau

đó vào hệ thần kinh ngoại biên thông qua các sinap thần kinh-cơ rồi tới các tế bào

trong hệ thần kinh trung ương. Tuy vậy, không phải tất cả các tế bào thần kinh nhiễm

virus đều biểu hiện các cấu truc bất thường. Cơ chế làm biến đổi các biểu hiện thần

kinh ở múc độ tế bào và phân tử vẫn đang được nghiên cứu.

i. Biểu hiện lâm sàng



27



Giai đoạn ủ bệnh thay đổi rất lớn, có thể từ vài ngày cho đến vài năm phụ thuộc

vào các yếu tố:

- Số lượng virus nhiễm vào vật chủ;

- Tình trạng vết thương

- Vị trí vết thương (vết thương càng gần não bộ q trình phát bệnh càng

nhanh)

Bệnh khơng có giai đoạn tiền phát đặc thù. Các biểu hiện thường thấy là sốt,

khó chịu, chán ăn hoặc bỏ ăn, viêm họng, đau cơ, đau đầu, dễ bị kích thích, rối loạn

cảm giác xung quanh vết thương. Căn cứ vào biểu hiện, có thể phân thành hai thể:

(1) thể kích thích hay "hung dữ" với các biểu hiện ở trạng thái kích thích, co

giật, sợ nước

(2) thể ức chế hay "lầm lì" hoặc dạng "câm" với biểu hiện tê liệt. Thể này

thường có thời gian sống sau khi phát bệnh dài hơn.

Các biến thường gặp là các rối loạn hoạt động hệ tim mạch, trung ương thần

kinh, rối loạn hô hấp, tăng áp lực xoang sọ dẫn đến co giật, rối loạn cảm giác về nhiệt

độ, rối loạn thần kinh tự chủ.

Các biêu hiện bệnh dễ gây nhầm lẫn với một số bệnh như uốn ván (tetanus),

viêm tủy (poliomyelitis), hội chứng Guillain-Bare, viêm não do virus , ngộ độc.

2. Chuẩn đoán bệnh

Chuẩn đoán trong phòng thí nghiệm bao gồm các phương pháp:

- Phương pháp mô bệnh học (histopathology)

- Nuôi cấy mô và phân lập virus (tisue culture and virus íolation)

- Huyết thanh học (serology)

- Phát hiện kháng nguyên của virus (viral antigen detection)

Mỗi phương pháp có một ưu điểm riêng

+ Phương pháp mơ bệnh học tìm thể Thể Negri (là biểu hiện bệnh lý đặc thù

của virus dại

Thể Negri trong tế bào thần kinh nhiễm virus (mũi tên chỉ)

28



Tuy vậy, cũng chỉ phát hiện ở khoảng 70% trường hợp nhiễm virus.



+ Phương pháp nuôi cấy virus: Một số dòng tế bào được dùng trong nuôi cấy

phân lập virus bao gồm WI-38 (nguyên bào sợi từ phổi), BHK-21 (tế bào thận chuột),

tế bào từ phôi gia cầm (CER).

Tìm bệnh tích tế bào (cytopathic effect): Bao gồm các thay đổi hình thái

(altered shape), bong tách khỏi các đĩa cấy (detachted from substrate), làm tan tế bào

(lysis), khả năng gắn kết và "lai" với màng tế bào (membrane fusion), thay đổi tính

thấm của màng (membrane permeability), tạo thể vùi (inclusion body) và gây chết

(apoptosis).

Xác định yếu tố khởi sự (initiation factor; IF) được sử dụng để phát hiện sự hiện

diện của kháng nguyên virus trong môi trường ni cấy.

Phương pháp thường được sử dụng trong chẩn đốn virus dại là tiêm dịch mô

tuyến nước bọt và mô từ não bộ vào não chuột. Nếu trong mô chứa virus dại, chuột

biểu hiện triệu chứng liệt và chết khoảng 28 ngày sau khi gây nhiễm. Kiểm tra não tìm

virus bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang.

+ Chẩn đoán huyết thanh học:

Kháng thể virus dại xuất hiện chậm sau khi cơ thể bị nhiễm nhưng thường có

thể phát hiện khi bắt đầu có biểu hiện lâm sàng:



29



Phản ứng trung hòa trên chuột (mouse infection neutralization test: MNT) và

phản ứng ức chế điểm huỳng quang tức thì (rapid fluorescent focus inhibition test:

RFFIT) có thể được dùng nhưng hiện được thay thế bằng các phương pháp miễn dịch

sử dụng enzyme (enzyme immunoassays: EIAs). Chẩn đốn huyết thanh học được cho

là có hiệu quả nhất trong chẩn đoán bệnh dại.

+ Phát hiện nhanh kháng nguyên virus:

Trong những năm gần đây, việc phát hiện bằng cách xác định các yếu tố khởi

đầu (IF) được sử dụng rộng rãi. Các mơ cần chẩn đốn (thường là màng giác mạc hay

da cổ) được ủ với kháng thể được đánh dấu huỳnh quang sau đó kiểm tra dưới kính

hiển vi huỳnh quang tìm các thể vùi trong tế bào chất của các tế bào thần kinh cảm

giác trong các mơ này.

IX.



Phòng chống bệnh

+ Đối với những người có nguy cơ nhiễm virus cao như bác sỹ thú y, nhân viên



phòng thí nghiệm, cơng nhân chăn ni, những nhà nghiên cứu động vật hoang dã

v.v. , việc tạo miễn dịch chủ động bằng cách tiêm vaccine rất quan trọng. Miễn dich

thiết lập sau 3 liều tiêm. Kháng thể được xác định ở gần như 100% trường hợp được

tiêm. Tiêm nhắc lại đều đặn 1-3 năm một lần cho những người tiếp tục làm việc với

các đối tượng có nguy cơ.

Việc xử lý các vết thương cùng cần được chú ý (kế cả đối với những người đã

được tiêm vaccine)

+ Khi bị gia súc (đặc biệt là chó mèo trong vùng có dịch) cắn, cần phải theo dõi

những con vật đó ít nhất 10 ngày. Nếu có các biểu hiện nghi bị nhiễm virus dại, cần

phải giết con vật và kiểm tra trong phòng thí nghiệm.

+ Điều trị vết thương: Loại bỏ các tổ chức dập nát, rửa vết thương bằng các dung

dịch sát trùng, và không nên khâu kín vết thương. Thực nghiệm cho thấy có thể hạn

chế nhiễm virus nếu vết thương được xử lý tốt.

+ Tạo miễn dịch bị động: Human rabies immunoglobulin tiêm trong da xung

quanh vết thương có thể tạo khả năng phòng virus trong một thời gian ngắn. Việc tạo

miễn dịch chủ động kết hợp với phương pháp này có hiệu quả cao hơn việc nếu chỉ

dùng đơn thuần tạo miễn dịch chủ động. Equine rabies immunoglobulin (dùng các tế

30



bào của ngựa) được sản xuất ở nhiều nước và rẻ hơn Human rabies immunoglobulin

(dung các tế bào của người).

+ Tạo miễn dịch chủ động: 5 liều vaccine thường được đưa vào cơ thể bằng cách

tiêm vào vùng cơ delta (vaccine từ nuôi cấy virus trên các tế bào lưỡng bội của người

được ưa thích hơn)!!!!!

+ Tiêm vaccine phòng bệnh cho chó, mèo cũng như việc theo dõi phát hiện sớm

các biểu hiện của bệnh rất quan trọng trong phòng bệnh dại.

+ Các loại vaccine phòng bệnh dại:

Một số loại vaccine nhược độc phòng dại được dùng cho động vật nhưng khơng

thích hợp cho người. Vaccine phòng dại cho người hiện tại là các vaccine bất hoạt:

- Vaccine tạo mô thần kinh nhiễm virus

- Vaccine tạo trên phôi vịt

- Vaccine tạo trên các tế bào lưỡng bội của người

X.

1.



Vaccin phòng bệnh do virus

Các loại vaccine

- Vaccin giảm độc lực: Virus đã bị biến đổi nhiều lần làm giảm tính độc của



virus, đến khi virus khơng còn khả năng gây bệnh thì sử dụng chủng này cho người và

động vật.

- Vaccin bất hoạt: Virus bị giết chết bằng hóa chất, do vậy chúng khơng còn khả

năng gây bệnh nữa. Nó được đưa vào cơ thể để tạo ra đáp ứng miễn dịch. Vi sinh vật

có thể bị bất hoạt bằng nhiệt hoặc bằng hóa chất. Hóa chất thường sử dụng để giết chết

virus là: Formalin, propanol...

- Vaccin tái tổ hợp: Một hoặc nhiều gen đặc hiệu của virus được tách riêng ra,

sau đó được chuyển gen vào loại tế bào có khả năng nhân lên nhanh, thích hợp với quy

mơ cơng nghiệp, biểu hiện được và dễ tinh chế kháng nguyên (thường sử dụng nấm

men).

- Vaccin DNA: Loại vaccin này xâm nhập tương tự cơ chế tự nhiên của cơ thể

khi tiếp xúc với virus.



31



- Vaccin từng phần: Dùng một phần của virus chứ không dùng cả virion của

virus.

2.



Chất lượng vaccine

Chất lượng của vaccin được đánh giá theo một thường quy thống nhất trên toàn



thế giới hoặc theo tiêu chuẩn của mỗi quốc gia dựa trên cơ sở tiêu chuẩn của tổ chức y

tế thế giới để lập ra tiêu chuẩn của quốc gia (cho phù hợp với điều kiện riêng của mỗi

nước).

Tùy thuộc vào mỡi loại vaccin khác nhau mà có các tiêu chuẩn đánh giá khác

nhau và được quy định theo một thường quy thống nhất tồn quốc. Có thể tìm quy

định về điểm này ở Dược điển Việt Nam, xuất bản lần thứ 3, năm 2002.

Hai tiêu chuẩn nổi bật của chất lượng vaccin đó là an tồn và cơng hiệu. Nếu

đạt tiêu chuẩn an tồn thì đã đạt các yếu tố khác như: thành phần hoá học của vaccin,

yếu tố gây sốt khơng có, vaccin vơ trùng. Nếu vaccin an tồn nhưng khơng có cơng

hiệu thì khơng có tác dụng gây miễn dịch. Vì vậy 2 tiêu chuẩn này là hàng đầu trong

đánh giá chất lượng vaccin.

Ngoài 2 tiêu chuẩn trên còn các tiêu chuẩn về chất tồn dư, trợ chất, pH, hàm

lượng Protein, hàm lượng chất bảo quản, vô khuẩn, chất gây sốt... Tùy thuộc vào mỗi

loại vaccin với các phương pháp sản xuất khác nhau lại có quy định cụ thể với loại

vaccin đó.

XI.



Phương pháp ni cấy vius

Virus là sinh vật ký sinh nội bào bắt buộc. Có rất nhiều loại virus, virus của: vi



khuẩn, xạ khuẩn, vi khuẩn lam, nấm, tảo, thực vật, động vật (nguyên sinh, không

xương sống, cơn trùng, có xương sống). Bệnh do virus gây ra thường rất khó chữa mà

phần lớn trơng chờ vào khả năng miễn dịch của cơ thể. Virus có tính đặc hiệu rất cao

với từng loại tế bào nên việc phân lập và ni cấy virus có nhiều khó khăn.

ùy loại virus mà người ta phải dùng các phương pháp nuôi cấy khác nhau:

I.



Nuôi cấy trên mô tế bào:

Đây là một thành tựu lớn trong virus học, ngày nay được sử dụng rộng rãi để



phân lập, định loại và chuẩn độ virus. Ngồi ra còn dùng trong nghiên cứu huyết thanh

học và dùng để chế tạo vắc xin. Phương pháp này sử dụng nguyên tắc: nếu lấy một số

32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đặc điểm của virus dại: Rabies virus

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×