Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực trạng tiền lương khu vực công ở Nhật Bản

Thực trạng tiền lương khu vực công ở Nhật Bản

Tải bản đầy đủ - 0trang

loại I (cấp cao) và các kỳ thi tuyển chọn công chức loại II và loại III (cấp thấp). Những

người trúng tuyển kỳ thi loại I sẽ được đào tạo để trở thành cán bộ lãnh đạo trong tương

lai. Còn những người trúng tuyển các kỳ thi loại II, loại III sẽ làm các công việc chuyên

môn nghiệp vụ cụ thể. Kỳ thi tuyển loại I được mở hàng năm vào tháng 6. Nước Nhật mỗi

năm tuyển khoảng 1.000 cán bộ loại này, nhưng số người dự thi gấp hơn 50 lần. Số người

thi thường là các sinh viên ưu tú đã qua các kỳ thi trước khi tham dự kỳ thi này. Ví dụ, họ

phải đỗ vào các trường đại học lớn, trong suốt quá trình học tập, thành tích phải xuất sắc.

Theo thống kê thì có tới một nửa số người thi trúng tuyển vào kỳ thi loại I đều là sinh viên

ưu tú của đại học Tokyo, hầu hết là các sinh viên khoa luật và khoa kinh tế.

Trong số trên 1.000 cán bộ mới được tuyển chọn mỗi năm có khoảng một nửa là

cơng chức hành chính, số còn lại là cơng chức chun mơn kỹ thuật. Cơng chức hành

chính xuất thân từ khoa luật, khoa kinh tế hầu hết trở thành lãnh đạo cao cấp ở các bộ.

Cơng chức chun mơn kỹ thuật cũng có thể trở thành lãnh đạo ở một số bộ liên quan đến

khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên như Bộ Giao thông, bưu điện, xây dựng, nông

nghiệp… Sau khi đỗ kỳ thi loại I, các quan chức tương lai được quyền chọn nơi làm việc.

Có một số bộ ứng cử viên quá đông, nên họ lại phải dự thi một lần nữa. Tại Nhật, Bộ Tài

chính, Bộ Cơng nghiệp và thương mại quốc tế, Bộ Ngoại giao, Cục Kinh tế kế hoạch là

những nơi có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất. Các bộ này mỗi năm chỉ nhận 25 công

chức mới, nhưng số người thi vào cao gấp nhiều lần.

2.2.2. Tiền lương và chế độ đãi ngộ

Nhìn chung, cơng chức hành chính ở Nhật Bản cũng như nhân viên các công ty đều

hưởng chế độ lương theo thâm niên.

Cấu trúc: Tiền lương của những người làm công gồm 4 phần: lương cơ bản; tiền

thưởng, tiền trợ cấp cho thôi việc (tiền lương hưu) và các khoản trợ cấp khác.

+ Tiền lương cơ bản: Hàng năm bộ tài chính lấy thống kê lương bổng trong các

công ty tư nhân rồi tính ra bình qn lương bổng tư nhân. Mức lương khởi đầu cho công

chức cao cấp được định bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên viên mới

tốt nghiệp đại học trong các công ty tư nhân cộng thêm một hằng số tương đối. Mức

lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các cơng

nhân viên thuộc các cơng ty tư nhân mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng

thêm một hằng số tương tự. Chính phủ Nhật Bản đã tăng mức lương tối thiểu từ 789

yên/giờ lên 823 yên/giờ tức là tăng 25 yên/giờ cho người lao động bắt đầu từ ngày

01/01/2017.

7



Bảng2.1: Bảng lương tối thiểu tại 47 tỉnh thành Nhật Bản trên 1 giờ của người lao

động

(Đơn vị tính: n/giờ)

Tỉnh/Thành

Phố

Hokkaido



Mức Lương Tối Thiểu Mới

786



Aomori



(764)



Ngày Có Hiệu

Lực

01/10/2016



(695)



Iwate



716



(695)



05/10/2016



Miyagi



748



(726)



05/10/2016



Akita



716



(695)



06/10/2016



Yamagata



717



(696)



07/10/2016



Fukushima



726



(705)



01/10/2016



Ibaraki



771



(747)



01/10/2016



Tochigi



775



(751)



01/10/2016



Gunma



759



(737)



06/10/2016



Saitama



845



(820)



01/10/2016



Chiba



842



(817)



01/10/2016



Tokyo



932



(907)



02/10/2016



Kanagawa



930



(905)



03/10/2016



Niigata



753



(731)



04/10/2016



Toyama



770



(746)



05/10/2016



Ishikawa



757



(735)



06/10/2016



Fukui



754



(732)



07/10/2016



Yamanashi



759



(737)



08/10/2016



Nagano



770



(746)



09/10/2016



Gifu



776



(754)



10/10/2016



Shizuoka



807



(783)



05/10/2016



Aichi



845



(820)



01/10/2016



Mie



795



(771)



01/10/2016



Shiga



788



(764)



06/10/2016



Kyoto



831



(807)



02/10/2016



Osaka



883



(858)



01/10/2016



8



Hyogo



819



(794)



01/10/2016



Nara



762



(740)



06/10/2016



Wakayama



753



(731)



01/10/2016



Tottori



715



(693)



12/10/2016



Shimane



718



(696)



01/10/2016



Okayama



757



(735)



01/10/2016



Hiroshima



793



(769)



01/10/2016



Yamaguchi



753



(731)



01/10/2016



Tokushima



716



(695)



02/10/2016



Kagawa



742



(719)



03/10/2016



Ehime



717 



(696)



04/10/2016



(693)



05/10/2016



Kochi

Fukuoka



765



(743)



06/10/2016



Saga



715



(694)



02/10/2016



Nagasaki



715



(694)



06/10/2016



Kumamoto



715



(694)



01/10/2016



Oita



715



(694)



02/10/2016



Miyazaki



714



(693)



03/10/2016



Kagoshima



715



(694)



04/10/2016



Okinawa



714



(693)



05/10/2016



(798)



-



Bình Qn



Nguồn:

http://www.mhlw.go.jp/stf/seisakunitsuite/bunya/koyou_roudou/roudoukijun/minimumichiran/



Các tiêu chí cơ bản của việc trả lương:

+ Công Chức được trả lương trên cơ sở nhiệm vụ và trách nhiệm thuộc vị trí và

chức trách của mình.

+ Việc trả lương do pháp luật xác định và cần được xem xét nhằm đáp ứng những

điều kiện thông thường của Xã hội.

+ Chính phủ có những biện pháp đãi ngộ Công Chức bằng việc tạo điều kiện làm

việc tốt và bảo đảm việc trả lương cao cho họ.



9



Tiền thưởng: Công chức Nhật Bản nhận được tiền thưởng 3 lần trong 1 năm và số

tiền đó khơng vượt q 5 tháng lương.

Các khoản phụ cấp khác: là tiền trả thêm bổ sung vì nhiều mục đích. ( phụ cấp quản

lý, phụ cấp làm việc trong các dịp lễ đối với Công Chức lãnh đạo, phụ cấp động viên

người mới vào làm việc, phụ cấp cho gia đình, phụ cấp đắt đỏ thành phố, phụ cấp tiền

thuê nhà , phụ cấp đi lại, phụ vùng sâu vùng xa, phụ cấp làm thêm giờ, phụ cấp nghị phép,

phụ cấp hàng quý, phụ cấp cho giáo viên,...). Vì thế, mức lương trung bình của công chức

khá cao.

Tăng lương: Việc tăng lương hàng năm cũng làm theo phương pháp như cách tính

mức lương cơ bản. Cứ khoảng 2-3 năm họ lại được tăng lương 1 lần. Nhìn chung, lương

khởi điểm và lương cơ bản của cơng chức có xu hướng tăng, song mức tăng khá chậm.

Điều muốn nói thêm là, tăng mức lương lên tùy thuộc vào việc đánh giá thành tích năm

qua Chính phủ đưa khung nhằm giới hạn việc tăng thâm niên công tác hàng năm không

cao 6% mức lương.

Chế độ lương hưu .

- Tuổi nghỉ hưu bắt buộc: 60 tuổi

- Để lĩnh lương hưu, hàng tháng cơng chức phải đóng bảo hiểm xã hội 3% tiền

lương số tiền đưa vào tài khoản để sau lĩnh lương hưu

- Một công làm việc cơng vụ >10 năm có quyền nhận tiền phụ cấp nghỉ hưu 1 lần,

Công chức làm việc 25 năm lựa chọn nhận tiền hưu cục tiền hưu hàng tháng

- Phụ cấp lần cho cơng chức nghỉ hưu tính lương tháng cuối trước nghỉ hưu nhân

với năm công tác:

+ Đối với cơng chức có từ 25 năm cơng tác trở lên, số tiền tính theo cách sau :

Lương tháng cuối nhân số năm công tác chia cho 50

+ Đối với Công Chức có số năm cơng tác 25 năm lương tháng cuối nhân số năm

công tác chia cho 55.



10



Chương 3. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

Theo như một bài viết của Ban chỉ đạo trung ương về đẩy mạnh cải cách chế độ

công vụ cho biết tại Hội thảo khoa học “Về bối cảnh và khả năng cải cách tiền lương” do

Bộ Nội vụ tổ chức câu chuyện về mức lương công chức lại một lần nữa được mang ra mổ

xẻ.

“Lương công chức hiện nay không phản ánh đúng giá trị sức lao động”, ông Thang

Văn Phúc, nguyên Thứ trưởng Bộ Nội Vụ nhấn mạnh.

Do vậy, các giá trị xã hội của công chức bị giảm sút, làm cho hiệu lực thực thi công

vụ thấp, dễ bị tổn thương và là mảnh đất để tình trạng quan liêu, tham nhũng có cơ hội

phát triển.

Một vị chuyên gia khác, lại chỉ ra: “Chế độ tiền lương cơ sở (lương áp dụng đối với

cán bộ, công - viên chức) hiện nay lấy hệ số trung bình là người tốt nghiệp đại học (có hệ

số 2,34) - tức là dựa trên trình độ chun mơn. Trong khi đó, hệ số cao nhất trong bảng

này lại lấy là Tổng bí thư, Chủ tịch nước, tức dựa trên chức danh.

Như vậy, theo chế độ này, với hệ số cao nhất là 13, nhân với mức lương cơ sở thì

mức lương vị trí lãnh đạo cao nhất đất nước chỉ là hơn 15 triệu đồng. Trong khi đó, theo

quy định tại Nghị định 51/2013 thì mức lương cơ bản thấp nhất của kế tốn trưởng một

cơng ty hạng III (hạng thấp nhất) đã là 16 triệu đồng và vị trí Chủ tịch Hội đồng thành

viên một tập đồn kinh tế là 36 triệu.

“Chính sách tiền lương giống như chiếc áo lâu ngày đang bục dần. Nó cần được

thay thế nhanh hơn để thay đổi diện mạo của một con người”, vị này nói.

Tuy nhiên, vị này cũng cho biết thêm, đấy là sự vô lý dựa trên quy định hiện nay,

còn thực tế lại là câu chuyện khác.

Mặt khác, ước tính được ở Việt Nam cũng đang có đến 700.000 cơng chức đang

khơng làm được việc, tiêu tốn 17.000 tỷ đồng ngân sách mỗi năm. Như vậy, theo ý kiến

của nhiều chuyên gia, bộ máy hành chính Nhà nước phải được sắp xếp tinh giản lại, giảm

bớt những dư thừa. Từ đó, tạo thêm được nguồn tài chính để trả lương cho cán bộ, cơng

chức tương xứng với giá trị sức lao động. Mặc dù trong những năm qua Việt Nam ln có

những cải cách về cải cách tiền lương rong khu vực công nhưng vẫn còn nhiều bất cập.

Từ nhhuwxng kinh nghiệm trong việc trả lương cho khu vực công của Nhật Bản rút ra

một số kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

Thứ nhất,cần đổi mới trong đánh giá công chức, đảm bảo sự hài trong việc thiết lập

một cơ chế lương linh hoạt, dựa vào đó hồn thiện hơn trong xây dựng và thực thi chính

11



sách tạo những chuyển biến về chất trong cải cách hành chính ở nước ta. cần lưu ý đến

một số công việc quan trọng khi tiến hành cải cách như: xác định mục đích cải cách rõ

ràng; tuyên truyền, tạo nhận thức đúng về cải cách; thể chế hóa các nội dung cơ bản của

cải cách (đưa các nội dung chính sách lớn vào luật và nghiêm túc thực hiện); thành lập

hoặc chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm thực hiện ; lập kế hoạch hành động theo lộ trình

các bước và giám sát, quản lý các mốc tiến độ; có cơ chế, cách thức khuyến khích, khen

thưởng, phê bình các bên tham gia thực hiện cải cách; và tạo ra được những kết quả tích

cực, rõ nét, có ý nghĩa để công chúng tin tưởng, ủng hộ.

Thứ hai, cải cách tiền lương cần làm rõ mối quan hệ giữa chính sách tiền lương với

các chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục và phần tiền nhà ở, điện, nước,

phương tiện đi lại, trang bị đồ dùng cho chuyên gia cao cấp và cán bộ lãnh đạo trong cơ

cấu tiền lương.

Thứ ba, thu hẹp phạm vi công chức trong khối các doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp

cơng lập thơng qua việc khuyến khích sự phát triển của khư vực tư nhân. Đây cũng chính

là trực tiếp góp phần tinh giản biên chế giúp Nhà nước thuận tiện hơn trong việc trả lương

và giúp cho cán bộ công chức nhận được tiền lương cao hơn (trả lương cho nhiều cơng

chức mỗi người chỉ được một ít thay vào đó là ít người nhưng tiền lương được chi trả cao

hơn.

Thứ tư, cần thực hiện việc trả lương theo hiệu quả công việc chứ không phải theo

ngạch, bậc đơn thuần- một việc khó và chưa có tiền lệ ở Việt Nam, tuy nhiên cần thiết

phải được thực hiện để tạo nên thay đổi căn bản và đột phá về chính sách tiền lương. Tiền

lương phải bảo đảm tái sản xuất sức lao động. Tiền lương tối thiểu phải tương ứng chỉ số

giá sinh hoạt từng thời kỳ và phải có sự phù hợp từng ngành, nghề cũng như đặc thù riêng

của từng khu vực. Đồng thời, phải có sự so sánh với mức lương tối thiểu trong khu vực

doanh nghiệp. Cần chú trọng hơn vào các khoản phụ cấp cho phù hợp với từng công việc,

khu vực sinh sống của cán bộ công chức.

Thứ năm, cần thay đổi cơ bản kết cấu tiền lương cơng chức, trong đó bao gồm phần

lương “cứng” theo thang, bậc lương quy định chung và bằng với mức lương tối thiểu mà

từng người đang được hưởng; và phần lương “mềm” thưởng theo năng suất, hiệu quả

cơng việc và mức độ hồn thành nhiệm vụ, được chi trả từ nguồn kinh phí tăng lương do

Chính phủ phân bổ cho mỗi đơn vị.



12



KẾT LUẬN

Trong các thời kỳ phát triển đất nước, Việt Nam đã nhiều lần cải cách chính sách

tiền lương để phù hợp với xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

và hội nhập. Tuy nhiên, mức lương cứng của cán bộ công chức viên chức hiện nay vẫn

khá thấp. Chính điều này đã tạo cho vấn đề tham nhũng, tiêu cực ngày càng nhức nhói…

Từ chính sách tiền lương trong khu vực công của Nhật Bản bài viết đã rút ra những bài

học kinh nghiệm quý báu trong điều chỉnh các chính sách tiền lương tại Việt Nam. Hy

vọng với những bài học quý báu trên sẽ giúp cải thiện tình trạng tham nhũng, tiêu cực

hiện tại trong khu vực công tại Việt Nam./.



13



TÀI LIỆU THAM KHẢO



1.



Nguyễn Thị Huệ. 26/09/2014. Kinh nghiệm một số nước trong cơng tác

quản



cơng

chức

hành

chính

nhà

nước.

Khai

thác

từ:

http://caicachcongvu.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/71/0/1010101/0/5250/Kinh_nghiem_mot

_so_nuoc_trong_cong_tac_quan_ly_cong_chuc_hanh_chinh_nha_nuoc

2.



https://tradingeconomics.com/japan/minimum-wages



3.

Nhật Bản du lịch và việc làm. Tổng quan về đất nước Nhật Bản. Khhai thác

từ: http://nhatban.net.vn/hoi-dap/trang-tu-van-nhat-ban/187-tong-quan-ve-dat-nuoc-nhatban.html

4.

Cải cách chế độcông vụ, cơng chức. 17/10/2016. Nhìn cơng chức Singapore

được trả lương, cơng chức Việt Nam có chạnh lòng?. Khai thác từ:

http://caicachcongvu.gov.vn/Plus.aspx/vi/News/71/0/1010101/0/5859/Nhin_cong_chuc_S

ingapore_duoc_tra_luong_cong_chuc_Viet_Nam_co_chanh_long_

5.

Nguyễn Tiệp và Lê Thanh Hà, (2011) Giáo trình Tiền lương – tiền công,

Nhà xuất bản Lao động – Xã hội, Hà Nội.



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực trạng tiền lương khu vực công ở Nhật Bản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×