Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các khái niệm liên quan

Các khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ - 0trang

ngày 14/12/2004 quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương

trong các công ty Nhà nước; Nghị định 206/2004/N ĐCP ngày14/12/2004 quy định quản

lý lao động , tiền lương và thu nhập trong các công ty Nhà nước.

1.3.



Tiền lương trong khu vực công



Khu vực công là các tổ chức, nhân sự, nguồn lực tài chính được hình thành để thực

hiện mục tiêu quản lý nhà nước và cung cấp hàng hóa, dịch vụ cơng theo yêu cầu phát

triển chung của toàn xã hội.

Đặc điểm của khu vực công

Tuân thủ và chịu sự tác động của các quy luật kinh tế-xã hội nói chung.

Các hoạt động của khu vực công cũng diễn ra với sự khan hiếm nguồn lực nói

chung.

Chính phủ điều hành khu vực cơng bằng quyền hành nhà nước, tuy nhiên vẫn phải

tôn trọng và thừa nhận sự tác động của các quy luật kinh tế và sự phát triển của nền kinh

tế thị trường.

Các hoạt động của khu vực công chủ yếu phục vụ xã hội và mục tiêu quản lý của

nhà nước.

Theo Phó Giáo Sư, Tiến sĩ Lê Chi Mai tiền lương trong khu vực công là phần tiền

trả cho công chức, viên chức theo ngạch bậc do nhà nước quy định.

Là số tiền mà các cơ quan, tổ chức của Nhà nước trả cho người lao động theo quy

định và được thể hiện trong hệ thống thang bảng lương do Nhà nước quy định.

Vai trò của tiền lương trong khu vực công

Thước đo giá trị sức lao động

Tái sản xuất sức lao động

Vai trò kích thích tiền lương

Bảo hiểm tích lũy

Thể hiện đánh giá chính xác của Xã hội đối với tài năng, trí tuệ, năng lực, kết quả

lao động và cống hiến của mỗi người

Thu hút nhân tài

Yêu cầu của tổ chức tiền lương

Đảm bảo tái sản xuất sức lao động

4



Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động

Dựa trên cơ sở thỏa thuận.

Trả theo loại công việc, chất lượng và hiệu quả thực hiện.

Phân biệt theo điều kiện lao động, cường độ lao động.

Thúc đẩy tăng năng suất lao động, chất lượng và hiệu quả lao động.

Tính đến các quy định của pháp luật.

Đơn giản, dễ hiểu, dễ tính tốn.



5



Chương 2. Thực trạng tiền lương khu vực công của Nhật Bản

2. Thực trạng tiền lương khu vực công ở Nhật Bản

2.1. Đặc điểm kinh tế- chính trị của Nhật Bản

Nhật Bản nằm ở phía Đơng của Châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương. Gồm 4

đảo chính: Honshu, Hokkaido, Kyushuy và Shikoku, nhiều dãy đảo và khoảng 3900 đảo

nhỏ. Tổng diện tích của Nhật Bản là 377.815 km2, đứng thứ 60 trên thế giới về diện tích

và chiếm chưa đầy 0.3% tổng diện tích tồn thế giới.

Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên, ngoại trừ gỗ và hải sản, trong khi

dân số quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ

trong chiến tranh. Tuy nhiên, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã

nhanh chóng phục hồi trong những năm 1945 – 1954, phát triển cao độ trong những năm

1955 – 1973 khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục.

Nhật Bản là một nước có nền kinh tế cơng nghiệp tài chính thương mại dịch vụ

khoa học kĩ thuật đứng thứ hai trên thế giới (đứng sau Hoa Kỳ). Cán cân thương mại và

dự trữ ngoại tệ đứng hàng đầu thế giới, nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều, là nước

cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới. Nhật Bản có nhiều tập đồn tài

chính, ngân hàng đứng hàng đầu thế giới. Đơn vị tiền tệ là đồng n Nhật.

Hệ thống chính trị

Hồng gia Nhật do Nhật hồng đứng đầu. Theo Hiên pháp Nhật thì “Hồng đế Nhật

là biểu tượng của quốc gia và cho sự thống nhất của dân tộc”. Nhật hoàng sẽ tham gia vào

các nghi lễ của quốc gia nhưng khơng giữ bất kì quyền lực chính trị nào, thậm chí trong

các tình huống khẩn cấp của quốc gia. Quyền lực này sẽ do thủ tướng và các thành viên

nghị viện đảm nhận.

2.2. Tiền lương trong khu vực công tại Nhật Bản

2.2.1. Hệ thống phân loại vị trí cơng việc

Các cơng chức trong khu vực công được chia làm hai loại “đặc biệt” và ‘ thường”.

Việc bổ nhiệm đối với những công chức hạng “đặc biệt” được chỉ đạo bởi các yếu tố

chính trị và một số yếu tố khác và không liên quan tới việc thi tuyển cạnh tranh. Công

chức hạng đặc biệt gồm: bộ trưởng nội các, người đứng đầu các cơ quan độc lập, thành

viên của lưc lượng tự phòng vệ, quan chức nghị viện và đại sứ.

Tuy nhiên lực lượng nòng cốt trong nền công vụ là các viên chức trong nhóm “

thường xun”, được tuyển dụng thơng qua thi tuyển cạnh tranh. Hàng năm Viện Nhân sự

Nhật Bản, cơ quan nhà nước độc lập với các bộ mở 3 kỳ thi. Kỳ thi tuyển chọn công chức

6



loại I (cấp cao) và các kỳ thi tuyển chọn công chức loại II và loại III (cấp thấp). Những

người trúng tuyển kỳ thi loại I sẽ được đào tạo để trở thành cán bộ lãnh đạo trong tương

lai. Còn những người trúng tuyển các kỳ thi loại II, loại III sẽ làm các công việc chuyên

môn nghiệp vụ cụ thể. Kỳ thi tuyển loại I được mở hàng năm vào tháng 6. Nước Nhật mỗi

năm tuyển khoảng 1.000 cán bộ loại này, nhưng số người dự thi gấp hơn 50 lần. Số người

thi thường là các sinh viên ưu tú đã qua các kỳ thi trước khi tham dự kỳ thi này. Ví dụ, họ

phải đỗ vào các trường đại học lớn, trong suốt q trình học tập, thành tích phải xuất sắc.

Theo thống kê thì có tới một nửa số người thi trúng tuyển vào kỳ thi loại I đều là sinh viên

ưu tú của đại học Tokyo, hầu hết là các sinh viên khoa luật và khoa kinh tế.

Trong số trên 1.000 cán bộ mới được tuyển chọn mỗi năm có khoảng một nửa là

cơng chức hành chính, số còn lại là cơng chức chun mơn kỹ thuật. Cơng chức hành

chính xuất thân từ khoa luật, khoa kinh tế hầu hết trở thành lãnh đạo cao cấp ở các bộ.

Công chức chun mơn kỹ thuật cũng có thể trở thành lãnh đạo ở một số bộ liên quan đến

khoa học kỹ thuật, khoa học tự nhiên như Bộ Giao thông, bưu điện, xây dựng, nông

nghiệp… Sau khi đỗ kỳ thi loại I, các quan chức tương lai được quyền chọn nơi làm việc.

Có một số bộ ứng cử viên q đơng, nên họ lại phải dự thi một lần nữa. Tại Nhật, Bộ Tài

chính, Bộ Cơng nghiệp và thương mại quốc tế, Bộ Ngoại giao, Cục Kinh tế kế hoạch là

những nơi có mức độ cạnh tranh gay gắt nhất. Các bộ này mỗi năm chỉ nhận 25 công

chức mới, nhưng số người thi vào cao gấp nhiều lần.

2.2.2. Tiền lương và chế độ đãi ngộ

Nhìn chung, cơng chức hành chính ở Nhật Bản cũng như nhân viên các công ty đều

hưởng chế độ lương theo thâm niên.

Cấu trúc: Tiền lương của những người làm công gồm 4 phần: lương cơ bản; tiền

thưởng, tiền trợ cấp cho thôi việc (tiền lương hưu) và các khoản trợ cấp khác.

+ Tiền lương cơ bản: Hàng năm bộ tài chính lấy thống kê lương bổng trong các

cơng ty tư nhân rồi tính ra bình quân lương bổng tư nhân. Mức lương khởi đầu cho cơng

chức cao cấp được định bởi mức lương trung bình của các kỹ sư hay nhân viên viên mới

tốt nghiệp đại học trong các công ty tư nhân cộng thêm một hằng số tương đối. Mức

lương cho công chức trung cấp cũng được định bởi mức lương trung bình của các công

nhân viên thuộc các công ty tư nhân mới tốt nghiệp trung học phổ thông (lớp 12) cộng

thêm một hằng số tương tự. Chính phủ Nhật Bản đã tăng mức lương tối thiểu từ 789

yên/giờ lên 823 yên/giờ tức là tăng 25 yên/giờ cho người lao động bắt đầu từ ngày

01/01/2017.

7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các khái niệm liên quan

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×