Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CNTT CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CNTT CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

Các thiết bị tin học đều được quản lý tại Trung tâm CNTT và bộ phận tin học tại

các Chi nhánh/Sở giao dịch, định kỳ 3 tháng/lần các đơn vị báo cáo tình hình sử dụng

thiết bị CNTT về HSC (Trung tâm CNTT)

1.2 Hệ thống mạng truyền thông.

NHPT đã triển khai dự án nâng cấp hạ tầng truyền thông với 3 giai đoạn triển khai,

đến nay đã hoàn thành việc triển khai cả 3 giai đoạn.

Mơ hình mạng của NHPT được chia làm 3 Trung tâm miền. NHPT đã thuê 2 kênh

truyền của 2 nhà cung cấp khác nhau, không chung hạ tầng của nhau là VNTP và FPT

để tránh quá tải trong giao dịch hàng ngày

Như vậy, hệ thống mạng truyền thơng của NHPT đã hồn tồn đáp ứng yêu cầu, là

cơ sở để triển khai các dịch vụ gia tăng khác như hội nghị truyền hình trực tuyến, điện

thoại nội bộ... trên hệ thống này.

1.3 Hệ thống trung tâm dữ liệu và trung tâm dự phòng

NHPT đã thành công trong việc triển khai tập trung dữ liệu tại HSC, tuy nhiên, tại

HSC hiện nay chưa thực sự là Trung tâm dữ liệu (Data Center) theo đúng tiêu chuẩn

mà chỉ là phòng chứa các máy chủ.

Hiện nay NHPT chưa có trung tâm dự phòng riêng mà chỉ có dự phòng ở mức đơn

giản nhất là “nhân đơi các thiết bị CNTT quan trọng”.

Trung tâm dữ liệu (và Trung tâm dự phòng) là cơ sở, là điều kiên rất quan trọng để

triển khai các dự án hiện đại hóa của NHPT trong tương lai. Đây là một điểm yếu quan

trọng của NHPT hiện nay.

2. Hệ thống phần mềm ứng dụng

1.2.1 Phần mềm lõi Core banking

Nhờ có sự tài trợ của World Bank, các ngân hàng tại Việt Nam được triển khai dự



Page 3 of 18



án hiện đại hóa, trong đó có tiểu dự án về CNTT. Theo đó các ngân hàng ứng dụng

phần mềm lõi (được gọi là CORE-BANKING) theo tiêu chuẩn quốc tế để quản lý và

triển khai hoạt động nghiệp vụ của mình.

Qua 2 năm xây dựng và triển khai, đến nay phần mềm VDB online đóng vai trò

như phần mềm CORE của NHPT, đã tạo một bước đệm quan trọng để NHPT từng

bước chuẩn hóa và hồn thiện quy trình nghiệp vụ, qua đó:

-



Kiểm sốt được số liệu tồn ngành chính xác, kịp thời



- Giảm được nhiều báo cáo mà Chi nhánh phải gửi về HSC

- Nâng cao trình độ cán bộ tồn ngành, thay đổi cách thức triển khai cơng việc

-



Giảm được nhiều sai sót nhờ việc tự động hạch toán



-



Quản lý thống nhất khách hàng, đáp ứng tốt việc thanh toán tập trung NHPT



Tuy nhiên, sau khoảng 3 năm sử dụng, phần mềm đã bộc lộ một số bất cập như

sau:

- Chưa bao phủ được hết các mảng nghiệp vụ hoạt động của NHPT

- Tính ổn định của phần mềm chưa cao. Công nghệ của phần mềm đã lạc hậu theo

thời gian, việc mở rộng/bổ sung nghiệp vụ ngày càng hạn chế

- Hệ thống hay bị quá tải khi số lượng giao dịch

- Hệ thống báo cáo tích hợp chung với hệ thống giao dịch

- Phụ thuộc vào đối tác có mức độ chuyên nghiệp chưa đạt đẳng cấp toàn cầu về

Core-banking

Việc thay thế phần mềm VDB online bằng phần mềm CORE-BANKING hiện đại

theo chuẩn quốc tế là nhu cầu rất cần thiết. Tuy nhiên, việc thay đổi sang sử dụng

CORE-BANKING từ nước ngoài là phức tạp, rất tốn kém về nguồn lực và đòi hỏi phải

có sự quyết liệt trong cơng tác triển khai dự án. Đây là vấn đề lớn nhất của hệ thống

CNTT tại NHPT hiện nay.

1.2.2 Các phần mềm vệ tinh (phần mềm ngoài Core)

Page 4 of 18



Đối với NHPT, hiện nay có những phần mềm vệ tinh sau đây:

• Quản lý mã khóa bảo mật

• Quản lý thanh tốn Thuỷ điện Sơn

• Thanh tốn điện tử Liên ngân hàng

Những phần mềm vệ tinh nói trên đang hoạt động tốt và đáp ứng yêu cầu của

NHPT.

1.2.3 Phần mềm tổng hợp báo cáo phục vụ quản lý điều hành

Để thực hiện việc tự động kết xuất các báo cáo đầu ra phục vụ hoạt động, các phần

mềm này kết xuất báo cáo với dữ liệu được lấy từ kho dữ liệu của phần mềm VDB

online:

Hệ thống báo cáo phục vụ điều hành HO Report

Hệ thống báo cáo thống kê gửi NHNN

Phần mềm tra cứu thơng tin tồn ngành

1.2.4 Các phần mềm cơng cụ khác

Đây là các phần mềm công cụ phục vụ cho những mục đích khác mà dữ liệu có sự

độc lập tương đối so với hệ thống giao dịch nghiệp vụ chính hàng ngày của NHPT.

Các phần mềm trên hiện nay đang đáp ứng cơ bản yêu cầu của các đơn vị, bộ phận

liên quan. Trong tương lai sẽ triển khai việc tích hợp 2 hệ thống thư tín điện tử nói trên

thành một hệ thống duy nhất với cơng nghệ mới nhằm thuận tiện cho việc sử dụng và

quản lý tồn ngành.

1.2.5 Các phần mềm có tính chất nền tảng hệ thống

Đây là các phần mềm riêng phục vụ cho việc triển khai, quản lý hệ thống hạ tầng

CNTT, bao gồm các phần mềm hệ thống như hệ điều hành, phần mềm quản trị cơ sở

dữ liệu, các phần mềm vận hành thiết bị, phần mềm công cụ, phần mềm lớp giữa, các



Page 5 of 18



phần mềm phòng chống virus, an ninh bảo mật v.v...

III. PHÂN TÍCH SWOT ĐỐI VỚI HỆ THỐNG CNTT CỦA NHPT

1. Những điêm

̉ manh

̣ cuả hệ thông

́ CNTT

Đến nay hệ thống CNTT của NHPT đã có những điểm mạnh như sau:

+ Dữ liệu tập trung, quản lý thống nhất số liệu toàn ngành hàng ngày

+ Số liệu khơng còn sai lệch

+ Hệ thống CNTT đã trở thành phương tiện làm việc không thể thiếu hàng

+ Đáp ứng yêu cầu cơ bản phục vụ điều hành hàng ngày và báo cáo các cơ quan nhà

nước.

+ Cho phép HSC theo dõi, kiểm sốt hoạt động của tồn ngành.

+ Cho phép thực hiện các loại giao dịch đặc thù “xuôi - ngược - chuyển đổi - điều

chỉnh” của NHPT

Nhìn chung, hệ thống CNTT hiện tại đã có nhiều tiến bộ song vẫn chưa thực sự

đáp ứng được hết yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai, nặng về

phục vụ cho nhu cầu hoạt động cấp thời của NHPT, vẫn còn nhiều mảng nghiệp vụ của

NHPT vẫn chưa được tin học hoá

2. Những điêm

̉ hạn chế của hệ thống CNTT:

Hệ thống CNTT của NHPT còn một số hạn chế sau:

+ Việc cung cấp/bổ sung trang thiết bị cho toàn ngành thường chậm so với yêu cầu do

quy trình thủ tục đầu tư kéo dài

+ Chưa có Trung tâm dữ liệu và Trung tâm dự phòng đạt tiêu chuẩn

+ Phần mềm lõi VDB online có nhiều bất cập, hạn chế về xử lý và công nghệ, chưa có

CORE hiện đại theo chuẩn mực quốc tế.

+ Nhiều mảng nghiệp vụ chưa được tin học hóa: Quản lý tài sản đảm bảo tiền vay,

phân loại nợ tự động, quản lý vốn ODA, bảo lãnh…



Page 6 of 18



+ Kho dữ liệu chưa được chuẩn hóa, phần mềm báo cáo còn ở mức đơn giản, chưa

chuyên nghiệp.

+ Triển khai các phần mềm ứng dụng khó khăn vì quy trình nghiệp vụ chưa ổn đinh,

xác định nhu cầu quản lý nghiệp vụ và việc lựa chọn đối tác xây dựng phần mềm. Mức

độ quan tâm của nhiều đơn vị nghiệp vụ về CNTT còn chưa cao, chưa chuẩn hóa được

và thiếu nhất quán về chỉ tiêu quản lý.

+ Chưa xây dựng được quy trình quản lý chất lượng phần mềm, hiệu quả sử dụng phần

mềm không đồng đều.

+ Lực lượng cán bộ CNTT còn mỏng, cơng tác đào tạo chưa được nâng cao và chuyên

sâu.

+ Công tác an ninh CNTT chưa được thẩm định, đánh giá độc lập. Chưa quản lý tập

trung và kiểm soát được việc sử dụng thiết bị CNTT của người dùng cuối.

+ Chưa xây dựng được chiến lược hiện đại hóa CNTT với phương pháp luận và tầm

nhìn hệ thống từ các tổ chức tư vấn quốc tế chuyên nghiệp

3. Những cơ hôị khi xây dưng hệ thông

́ CNTT cho NHPT VN

Như vậy, hệ thống CNTT hiện tại mới chỉ đáp ứng nhu cầu nghiệp vụ trong ngắn

hạn. Với định hướng chiến lược phát triển NHPT thành một tổ chức tài chính hùng

mạnh ngang tầm các ngân hàng phát triển quốc gia trong khu vực, nhu cầu hiện đại

hoá hệ thống tin học của NHPT càng trở nên bức thiết hơn lúc nào hết. Có thể khẳng

định: ngay từ bây giờ, nếu khơng nhanh chóng hồn thiện, phát triển hệ thống thơng

tin NHPT thì hệ thống tin học sẽ không thể đáp ứng được sự phát triển của hệ thống

NHPT trong tương lai.

4. Những thach

́ thưc khi xây dưng hệ thông

́ CNTT cho NHPT VN

- Các phần mềm ứng dụng tại NHPT chủ yếu thuê đối tác bên ngồi xây dựng,

Trung tâm CNTT đóng vai trò là cầu nối với các đơn vị nghiệp vụ để cùng xây dựng



Page 7 of 18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HỆ THỐNG CNTT CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×