Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Trong năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng, đặc biệt là tinh thần tự học. Kết thúc năm học có 785/817 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia và đạt kết quả bồi dưỡng thường xuyên (MN 178, TH 363, THCS 244), trong đó đ

Trong năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng, đặc biệt là tinh thần tự học. Kết thúc năm học có 785/817 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia và đạt kết quả bồi dưỡng thường xuyên (MN 178, TH 363, THCS 244), trong đó đ

Tải bản đầy đủ - 0trang

244), trong đó đạt loại giỏi 166 tỷ lệ 23,6%, loại khá 508 tỷ lệ

72,2%, loại TB 28 tỷ lệ 4% và khơng hồn thành 2 tỷ lệ 0,2%; có

745/755 giáo viên được đánh giá chuẩn nghề nghiệp cuối năm với

kết quả 255 đạt loại xuất sắc, 449 đạt loại khá, 47 đạt loại trung

bình và 04 đạt loại kém; có 81/81 cán bộ quản lý được đánh giá

chuẩn nghề nghiệp cuối năm với kết quả 54 đạt loại xuất sắc và 27

đạt loại khá.

*. Về cơ sở vật chất trường lớp

Thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục và đào

tạo trong toàn huyện, đảm bảo các điều kiện phát triển bền vững,

đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới.

Tổng hợp, thống kê, đánh giá tình hình CSVC, phòng học

trên từng trường trên địa bàn huyện nhằm tham mưu UBND

huyện, phối hợp với các ngành liên quan huy động nguồn lực đầu

tư xây dựng trường lớp học đảm bảo yêu cầu phát triển giáo dục.

Đầu năm học 2016 - 2017, UBND huyện phân bổ vốn đầu tư

sửa chữa phòng học, sân, hàng rào cho các đơn vị trường học, cụ

thể xây dựng sửa chữa nâng cấp điểm trường Đa măng trường TH

Liêng Srônh; điểm trường Boóp Lé, điểm trường Liêng Đơng,

điểm trường Bốp La điểm trường chính trường TH Phi Liêng;

điểm trường Pul trường TH Lăng Tơ; điểm trường chính trường



THCS Phi Liêng; điểm trường chính trường TH Lương Thế Vinh;

điểm trường TK 72 trường TH Đạ Long; trường THCS Võ

Nguyễn Giáp; trường TH Đạ Tơng; điểm trường chính trường MN

Phi Liêng; điểm trường Păng Pá, điểm trường Pul trường MN Đạ

K’Nàng; trường MN Bằng Lăng; điểm trường TK 76 trường MN

Đạ Long; điểm trường Cil Múp, điểm trường N’tôn trường MN

Đạ Tông; điểm trường Đạ M’bô trường MN Đạ Rsal; điểm trường

thôn 3, thôn 5, thôn 6 trường MN Liêng Srônh; điểm trường Dơng

Jri trường Mn Đạ M’rông; trường MN Đạ Long; điểm trường thôn

3, thôn 4 trường MN Rô Men.

Năm 2017, UBND huyện tiếp tục đầu tư xây dựng mới 04

phòng học trường TH Đạ M’rơng; 04 phòng học trường TH Đạ

Rsal; 06 phòng học trường MN Rơ Men; 04 phòng học, nhà hiệu bộ

và hạ tầng trường MN Đạ Rsal.

Sử dụng hiệu quả nguồn kinh phí ngân sách nhà nước kết

hợp với các nguồn huy động hợp pháp khác để tăng cường trang

bị cơ sở vật chất, thiết bị dạy học. Chú trọng xây dựng phòng học

bộ mơn, thư viện, vườn trường. Đẩy mạnh phong trào tự làm và

sử dụng thiết bị dạy học, đồ chơi trẻ em. Tăng cường hiệu quả

khai thác sử dụng thiết bị dạy học. Đầu tư xây dựng thư viện

trường học đạt chuẩn, thư viện tiên tiến quy định của Bộ GD-ĐT.



Nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện trường học, đáp ứng

yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học. Thực hiện kiểm tra, đánh

giá về chất lượng và hiệu quả khai thác sử dụng thiết bị dạy học.

Tham mưu với cấp uỷ, chính quyền củng cố, nâng cao vai

trò của Mặt trận và các đồn thể, Hội đồng giáo dục, Hội cựu giáo

chức, Hội khuyến học các cấp, cộng đồng trách nhiệm trong việc

chăm lo cho sự nghiệp giáo dục. Phát triển mơ hình khuyến học,

khuyến tài trong thơn xóm, trong cơ quan, đơn vị trường học. Vận

động, huy động các nguồn lực xã hội để xây dựng, cải tạo cảnh

quan đạt tiêu chuẩn xanh - sạch - đẹp, an tồn, xây dựng mơi

trường sư phạm lành mạnh thực sự để thu hút học sinh đến

trường. Tranh thủ các nguồn vốn của địa phương và huy động

nhân dân đóng góp nhằm đẩy nhanh tiến độ kiên cố hố trường

lớp theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa.

Tổng số các phòng hoc tính đến 31/5/2017 của 3 bậc học

(mầm non, tiểu học, THCS) là: 457 phòng, trong đó: 244 phòng

kiên cố; 207 phòng cấp 4; 3 phòng tạm.

*. Về cơng tác xã hội hóa giáo dục: Cơng tác xã hội hóa đã

được đẩy mạnh, góp phần xây dựng cơ sở vật chất, mua sắm trang

thiết bị đã đem lại hiệu quả thiết thực đối với phong trào xây dựng

trường đạt Chuẩn quốc gia, với việc hoàn thành phổ cập giáo dục



mầm non cho trẻ em năm tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học và phổ

cập giáo dục Trung học cơ sở, với phong trào khuyến học, khuyến

tài ở địa phương.

*. Công tác xây dựng trường Chuẩn quốc gia đã được tích

cực triển khai ở tất cả các cấp học, bậc học. Tính đến 31/5/2017,

tồn huyện có 10/34 trường đạt Chuẩn quốc gia (3/9 trường mầm

non; 5/15 trường tiểu học; 02/10 trường trung học cơ sở), các

trường còn lại đều đạt từ 3 đến 4 tiêu chuẩn so với 5 tiêu chuẩn

quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hiện nay, các trường MN,

TH, THCS đang tích cực xây dựng trường đạt Chuẩn quốc gia

theo kế hoạch đã được Sở Giáo dục và Đào tạo, UBND huyện phê

duyệt.

Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển giáo dục trong thời kỳ

cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, giáo dục huyện Đam

Rơng còn bộc lộ những hạn chế:

Cơng tác duy trì sỹ số học sinh thiếu tính bền vững.

Tiến độ xây dựng trường học đạt Chuẩn quốc gia còn chậm,

đặc biệt là bậc học THCS, số trường đạt Chuẩn quốc gia còn ít so

với mặt bằng chung của tỉnh.

Chất lượng giáo dục giữa các vùng chưa đồng đều. Khả năng



vận dụng kiến thức đã học vào thực tế sản xuất và đời sống của học

sinh còn hạn chế.

Cơng tác quản lý giáo dục, phương pháp dạy học ở các

trường chậm được đổi mới; năng lực quản lý của một số hiệu

trưởng còn nhiều hạn chế; chưa năng động trong công tác tham

mưu và đề xuất các biện pháp huy động học sinh ra lớp, chống bỏ

học hoặc trong việc đầu tư xây dựng trường lớp.

Công tác xã hội hóa giáo dục ở một số địa phương làm chưa

tốt.

Cơ sở vật chất của các trường còn rất yếu. Kinh phí giáo dục

đầu tư cho hoạt động dạy học, mua sắm trang thiết bị dạy học

hàng năm còn rất thấp so với yêu cầu thực tế.

- Tình hình phát triển giáo dục mầm non

Quy mô phát triển giáo dục

- Quy mô phát triển giáo dục



Năm học

Nội dung



10-



11-



12-



13-



14- 15-



16-



11



12



13



14



15



16



17



1. Tổng số trường



8



8



8



9



9



9



9



2. Tổng số lớp



70



80



85



82



89



89



91



3. TS trẻ ra lớp toàn

huyện

- TS trẻ DTTS

- TS trẻ Nhà trẻ ra lớp

- Tỷ lệ trẻ Nhà trẻ ra

lớp

- TS trẻ Mẫu giáo ra

lớp

- Tỷ lệ trẻ MG ra lớp



2056 2292 2425 2545



274 290 3170

5



1268 1156 1346 1418 1511

69

3.2



64

2,78



100

3,9



4,1



77,0 74,2 76,4 71,7

2



2



161 1765

5



101 127 141 110



1987 2228 2325 2444



7



7



5



4,9



5,8



6,3



261 276 3015

8



6



71,5 79,2



80,3

6



Năm học

Nội dung



- TS trẻ Mẫu giáo 5t

ra lớp

- Tỷ lệ trẻ MG5t ra

lớp



10-



11-



12-



13-



14- 15-



16-



11



12



13



14



15



17



996 1041 1078 1128



100



100



100



115

5



16

1189



100 100 100



1281



100



(Nguồn: Phòng Giáo dục và Đào tạo Đam Rông)

Từ số liệu ở bảng cho thấy: Tồn huyện có 9 trường mầm

non (năm 2016 đổi 4 trường mẫu giáo thành trường 4 trường mầm

non), mỗi xã có 1 trường mầm non, riêng xã Rơ Men có 2 trường.

Số lớp, số trẻ và tỷ lệ trẻ/dân số độ tuổi ra lớp ngày càng tăng, đặc

biệt là tỷ lệ trẻ 5 tuổi huy động ra lớp Mẫu giáo đạt cao. Như vậy,

với quy mô phát triển như hiện nay, giáo dục mầm non huyện

Đam Rông đã đáp ứng cơ bản nhu cầu học tập của trẻ và đáp ứng

tốt yêu cầu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em năm tuổi.

- Chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ

- Chất lượng chăm sóc, giáo dục



Năm học

Nội dung



1. Tổng số trường tổ

chức bán trú

2. Số lớp bán trú



10 -



11-



12



13



14-



15-



16 -



11



12



-13



-14



15



16



17



4



8



8



9



9



9



9



19



65



68



80



86



88



90



3. Tỷ lệ trẻ ăn tại 31,1 78,2 78,5 95,7 95,9 97,4 97,3

trường



2



7



6



6



9



2



1



4. Tỷ lệ trẻ SDD

+ Thể nhẹ cân

+ Trẻ thấp còi



9,04 9.46 6.88

11.7



12.2

3



6,3



4.96 4.77 4,17



2.32 7,82 6,74 5.98 5,11



Đến nay, tồn huyện có 9/9 trường tổ chức bán trú, tỷ lệ trẻ ăn

tại trường ngày càng cao hơn đạt tỷ lệ trên 90%; có khoảng 90% trẻ

đạt kết quả tốt về phát triển thể chất, nhận thức, ngôn ngữ giao tiếp

và tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng giảm dần hàng năm. Tính đến 5/2017

giảm còn 5,11% đối với trẻ thấp còi và 4,17 % đối với trẻ cân nặng.

9/9 trường mầm non thực hiện nghiêm túc nội dung, chương trình

giáo dục mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo



viên thực hiện chương trình vững vàng đã năng động, sáng tạo trong

việc tổ chức các hoạt động giáo dục cho trẻ; các trường mầm non đã

thực hiện đánh giá Chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi tốt, giáo viên vận

dụng tốt trong việc xây dựng kế hoạch giáo dục, tổ chức hoạt động

cũng như đánh giá trẻ cuối mỗi chủ đề.

- Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên

Hiện nay, tổng số cán bộ quản lý các trường mầm non là 25

người (9 Hiệu trưởng, 16 Phó hiệu trưởng); 100% cán bộ quản lý

đạt trên chuẩn về trình độ đào tạo; hầu hết cán bộ quản lý có phẩm

chất đạo đức tốt, có tinh thần trách nhiệm cao, có trình độ chun

mơn vững vàng, có năng lực điều hành và tổ chức các hoạt động

của nhà trường. Tổng số giáo viên mầm non là 157người; trong đó

có 154/157 người đạt chuẩn trở lên, tỷ lệ 98% giáo viên đạt chuẩn

trở lên về trình độ đào tạo, trong đó có 78,3% đạt trên chuẩn.

Tổng số cán bộ, giáo viên, nhân viên là đảng viên là 58, chiếm

24.89% đội ngũ.

- Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị đồ dùng,

đồ chơi

- Kinh phí đầu tư cơ sở vật chất - trang thiết bị đồ dùng, đồ chơi

Nội dung



Năm



2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017

1. Chi đầu tư

XDCB



(triệu 6.600 1.410 320



180



đồng)



12.29

8



9.900



24.15

0



2. Chi mua sắm

trang thiết bị đồ

dùng, đồ chơi



0



0



0



4.118 2.207 5.987 2.476



(triệu đồng)

Bằng việc sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, từ năm 2011

đến nay, ngành giáo dục đã đầu tư khoảng 54.858 triệu đồng để

xây dựng mới, sửa chữa và nâng cấp phòng học, phòng chức

năng, nhà hành chính quản trị, bếp ăn, nhà vệ sinh giáo viên nhân viên và HS, sân bê tông, hàng rào, hệ thống nước...; 14.788

triệu đồng mua sắm bàn ghế học sinh, đồ dùng trong lớp và đồ

chơi ngoài trời theo quy định. Nhờ vậy mà đến nay trường, lớp

càng được tầng hóa, khang trang, sạch đẹp.

- Khái quát quá trình khảo sát

Để tiến hành khảo sát thực trạng công tác quản lý xây dựng

trường mầm non đạt Chuẩn quốc gia của phòng Giáo dục và Đào



tạo huyện Đam Rông, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực tế 9

trường mầm non cụ thể như sau:

Chúng tôi đã xây dựng và chọn mẫu khảo sát là 9/9 trường

mầm non của huyện Đam Rông (thuộc loại hình trường cơng lập)

Kết hợp với phương pháp phỏng vấn, chủ yếu là phát phiếu

điều tra 9/9 lãnh đạo và chuyên viên PGD; 25/25 cán bộ quản lý là

Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng của 9 trường mầm non; 38 GV và

nhân viên của 2 trường mầm non Bằng Lăng và Rô Men.

Thời gian khảo sát trong học kỳ 1 năm học 2017-2018.

Quy trình khảo sát: Chúng tơi tiến hành xây dựng mẫu, in

mẫu, gửi mẫu điều tra đến các lãnh đạo, chuyên viên của phòng

Giáo dục; Hiệu trưởng và Phó hiệu trưởng 9 trường mầm non trên

địa bàn huyện và đội ngũ giáo viên nhân viên của 2 trường mầm

non Rô Men và Bằng Lăng thu hồi mẫu điều tra, xử lý mẫu điều

tra và đưa ra số liệu điều tra.

- Thực trạng xây dựng trường mầm non đạt Chuẩn quốc

gia

- Biện pháp và kết quả xây dựng trường mầm non đạt

Chuẩn quốc gia

Huyện Đam Rông (thuộc tỉnh Lâm Đồng) được thành lập ngày



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Trong năm học, Phòng Giáo dục và Đào tạo quan tâm chỉ đạo công tác đào tạo bồi dưỡng, đặc biệt là tinh thần tự học. Kết thúc năm học có 785/817 cán bộ quản lý, giáo viên tham gia và đạt kết quả bồi dưỡng thường xuyên (MN 178, TH 363, THCS 244), trong đó đ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×