Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương III Hiện Trạng Sử Dụng Trong Nền Nông Nghiệp Ở Việt Nam

Chương III Hiện Trạng Sử Dụng Trong Nền Nông Nghiệp Ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ - 0trang

1994



727,40



239,40



68,00



1034,8



1: 0,329: 0,093



1995



744,14



319,44



87,80



1151,38



1: 0,429: 0,118



1996



923,36



402,64



138,00



1464,0



1: 0,436: 0,149



1997



861,92



325,08



149,00



1336,0



1: 0,377: 0,173



1998



1042,6



347,31



239,28



1629,19



1: 0,333: 0,229



1999



852,00



317,35



194,00



1363,35



1: 0,372: 0,228



2000



946,00



365,50



210,00



1521,5



1: 0,386: 0,222



Nguồn:Nguyễn Xuân Trường, 2000

Tính từ năm 1985 tới 2009, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%,

nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517%. Theo tính tốn, lượng phân vơ cơ

sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa

lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với

lượng sử dụng của năm 1985. Ngồi phân vơ cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng

khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại (Trung

tâm KNVN, 2013).

Bảng 1.5: Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020

Đơn vị: nghìn tấn

Năm

Loại phân bón

2015



2020



Ure



2.000



2.100



DAP



700



700



SA



400



600



Supephotphat và lân nung chảy



1.700



1.700



KCl



900



1.000



NPK phối trộn



4.200



4.500



Nguồn: Nguyễn Như Hà và Nguyễn Văn Bộ, 2013

Bảng 1.6: Lượng phân bón vơ cơ sử dụng ở Việt Nam qua các năm

(ĐVT: 1000 tấn N, P2O5, K2O)

Năm



N P2O5



K2O



NPK



N+P2O5+K2O



1985



342,3



91,0



35,9



54,8



469,2



1990



425,4



105,7



29,2



62,3



560,3



1995



831,7



322,0



88,0



116,6



1223,7



2000



1332,0



501,0



450,0



180,0



2283,0



2005



1155,1



554,1



354,4



115,9



2063,6



2007



1357,5



551,2



516,5



179,7



2425,2



(Nguồn: Trương Hợp Tác, 2009).

Theo tính tốn, lượng phân vơ cơ sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm

qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa lượng N+P 2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4

triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với lượng sử dụng của năm 1985. Ngồi phân

bón vơ cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu

cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại.

Xét về tỷ lệ sử dụng phân bón cho các nhóm cây trồng khác nhau cho thấy

tỷ lệ phân bón sử dụng cho lúa chiếm cao nhất đạt trên 65%, các cây công

nghiệp lâu năm chiếm gần 15%, ngô khoảng 9% phần còn lại là các cây trồng

khác. Tuy nhiên so với các nước trong khu vực và trên thế giới, lượng phân bón

sử dụng trên một đơn vị diện tích gieo trồng ở nước ta vẫn còn thấp, năm cao

nhất mới chỉ đạt khoảng 195 kg NPK (Trương Hợp Tác, 2009).

2. Thuốc BVTV

Trong sản xuất nông nghiệp, ở Việt Nam thuốc BVTV đã được sử dụng lần

đầu tiên ở miền Bắc nhằm trừ sâu gai, sâu cuốn lá lớn bùng phát ở Hưng Yên

(vụ Đông Xuân 1956-1957). Vào giai đoạn năm 1957-1990 lượng thuốc BVTV



dùng không nhiều, khoảng 15000 tấn thành phẩm/ năm với khoảng 20 chủng

loại thuốc trừ sâu (chủ yếu) và thuốc trừ bệnh. Đa phần là các thuốc có độ tồn

lưu lâu trong mơi trường và có độ độc cao.

Theo số liệu của cục BVTV trong giai đoạn 1981 - 1986 số lượng thuốc sử

dụng là 6,5 - 9,0 ngàn tấn thương phẩm, tăng lên 20 - 30 ngàn tấn trong giai

đoạn 1991 - 2000 và từ 36 - 75,8 ngàn tấn trong giai đoạn 2001 - 2010. Lượng

hoạt chất tính theo đầu diện tích canh tác (kg/ha) cũng tăng từ 0,3kg (1981 1986) lên 1,24 - 2,54kg (2001 - 2010). Giá trị nhập khẩu thuốc BVTV cũng tăng

nhanh, năm 2008 là 472 triệu USD, năm 2010 là 537 triệu USD. Trong vòng 10

năm gần đây (2000 - 2011) số lượng thuốc BVTV sử dụng tăng 2,5 lần, số loại

thuốc nhập khẩu tăng khoảng 3,5 lần. Đáng chú ý là trong giai đoạn 1995-2000

diện tích gieo trồng hàng năm ở nước ta tăng cao nhất là 1,18 lần, còn khối

lượng thuốc nhập khảu và sử dụng tăng cao nhất là 2,85 – 3,37 lần. Như vậy chỉ

số gia tăng về thuốc bảo vệ thực vật cao hơn chỉ số gia tăng về diện tích gieo

trồng là 2,4-2,85 lần ( Theo Phạm Văn Lầm, 2002).

Hiện nay, theo thông tư số 03/2015/TT-BNNPTNT, nhà nước cho phép sử

dụng trong Nông nghiệp 769 hoạt chất thuốc trừ sâu với 1.690 tên thương

phẩm; 607 hoạt chất thuốc trừ bệnh với 1.295 tên thương phẩm; 223 hoạt chất

thuốc trừ cỏ với 678 tên thương phẩm... so với năm 2010 đã tăng lên gấp 1,1

lần.

Theo đánh giá của các chuyên gia quốc tế, có tới 80% thuốc BVTV tại VN

đang được sử dụng không đúng cách, khơng cần thiết và rất lãng phí.

Theo Phạm Văn Lầm - 2000, số lần phun thuốc bảo vệ thực vật cho chè ở

Thái Nguyên từ 6,2 đến 29,7 lần/năm, số hộ phun trên 25 lần là 15,2%. Số lần

phun cho lúa ở Đồng bằng Sông Cửu Long từ 1 - 5 lần/vụ, chủ yếu trên 3 lần

(69,6% hộ). Số lần phun cho lúa ở Đồng bằng Sông Cứu Long từ 2-6 lần/vụ,

trên 6 lần có 35,6% hộ. Số lần phun cho rau từ 7-10 lần/vụ ở ĐBSH, ở Thành

phố Hồ Chí Minh có 70,2% số hộ phun rau trên 20-30 lần.

Theo Đào Trọng Ánh – 2002, chỉ có 52,2% cán bộ kỹ thuật nông nghiệp khuyến nông cơ sở hiểu đúng kỹ thuật sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tỷ lệ này

ở người bán thuốc là 33%. Chỉ có 22,1-48% nơng dân sử dụng đúng nồng độ

liều lượng thuốc trên lúa, 0-26,7% trên rau và 23,5-34,1% trên chè, trong khi đó

có nhiều nơng dân tăng liều lượng lên gấp 3 -5 lần, có tới 100% nơng dân tăng

liêu lượng khi dùng sherpa gấp 5 lần (trên rau). Vùng rau quả, vùng thường

xuyên có dịch rầy nâu, vùng chè… có tới 35-60% nơng dân chỉ thực hiện thời

gian cách ly từ 1-3 ngày, 25-43,3% thực hiện cách ly 4-6 ngày trong khi phần

lớn các loại thuốc có yêu cầu cách ly từ 7-14 ngày hoặc hơn.



Theo kết quả điều tra của Nguyễn Hữu Huân về việc các hộ nông dân sử

dụng thuốc ở phía Nam năm 2000 chỉ ra rằng: Có 49,6% hộ dân sử dụng thuốc

đúng khuyến cáo của nhãn thuốc, 38,6% dùng liều lượng cao hơn, 29,7% tự hỗn

hợp các loại thuốc và 75,8% cho rằng dùng thuốc BVTV là biện pháp chủ yếu

nhất trong phòng trừ sâu bệnh.

Trình độ chun mơn người bán thuốc ở các cửa hàng đại lý chỉ có 1,1% là

đại học, 6,7% là Trung cấp và 90% không bằng cấp trong khi có tới 55-63%

nơng dân mua và sử dụng thuốc theo khuyến cáo và chỉ dẫn của người bán

thuốc.Một kết quả điều tra nông dân sau học IPM trong năm 2002 cho thấy, có

35,7% số hộ hiểu biết khá về bảo vệ thực vật và sử dụng thuốc bảo vệ thực vật,

41,2% có áp dụng IPM do vậy giảm sử dụng thuốc, 31% biết sử dụng thuốc

sinh học(Theo Trương Quốc Tùng - 2002).

Kết quả điều tra của Cục bảo vệ thực vật trong năm 2010 trên diện rộng còn

tới 10,22% nơng dân không đảm bảo thời gian cách ly. Đây là nguyên nhân gần

như chủ yếu dân đến tình trạng tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản quá

mức cho phép.

Điều tra những năm 2000-2002 (tức là đã có chương trình IPM, điều lệ quản

lý – sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đã ban hành danh mục thuốc bảo vệ thực

vật…) tại Vĩnh Phúc, Hà Nội, Hà Tây… có tới 20 – 88,8% số nơng dân vẫn

dùng thuốc cấm, thuốc ngồi danh mục, 60-78% nơng dân khơng thực hiện thời

gian cách ly quy định. Ngay năm 2010, số liệu của Cục Bảo vệ thực vật cho biết

còn 5,19% số hộ dùng thuốc cấm, ngồi danh mục, 10,22% khơng đúng thời

gian cách ly.

Điều tra ở các tỉnh phía Nam và phía Bắc, chỉ có từ 35-45% số nơng dân đã

được học IPM (tức là có hiểu biết về sử dụng thuốc bảo vệ thực vật) áp dụng

IPM (trong đó có sử dụng thuốc hạn chế, an tồn), 83,5% nơng dân có được đọc

và hiểu các nội dung nhãn thuốc nhưng có tới 51% khơng thực hiện theo

khuyến cáo của nhãn.

Theo Viện Môi trường nông nghiệp Việt Nam, lượng thuốc BVTV còn bám

lại trên vỏ bao bì bình qn chiếm 1,85% tỷ trọng bao bì. Trong khi đó, người

dân hồn tồn khơng có ý thức xử lý lượng thuốc BVTV còn tồn lại trên vỏ bao

bì. Có tới hơn 65% những người dân được hỏi khẳng định họ vứt vỏ bao bì tại

nơi pha thuốc

Mạng lưới sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV tăng nhanh và khó kiểm sốt.

Ðến năm 2010 cả nước có hơn 200 cơng ty sản xuất, kinh doanh thuốc BVTV,

93 nhà máy, cơ sở sản xuất thuốc và 28.750 cửa hàng, đại lý buôn bán thuốc

BVTV. Trong khi đó, hệ thống thanh tra BVTV mỏng, yếu, cơ chế hoạt động

khó khăn (Trương Quốc Tùng, 2013).



Bên cạnh đó, tình trạng thuốc giả, nhái và thuốc nhập lậu tràn lan trên thị

trường cũng là một vấn đề “nhức nhối” trong vấn đề quản lý và sử dụng thuốc

BVTV.



Chương IV Giải Pháp Và Kết Luận

1. Giải Pháp

1.1 Giải pháp chung

Các giải pháp về chính sách, công tác quản lý

Xã Hương Long cần quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng phân bón và

thuốc BVTV của người dân. Tăng cường kiểm tra, thanh tra các cơ sở kinh

doanh phân bón, thuốc BVTV trên địa bàn nhằm ngăn chặncác trường hợp kinh

doanh phân bón, thuốc BVTV giả, kém chất lượng, hoặc ngồi danh mục nhà

nước cho phép. Nếu phát hiện được cần xử lý nghiêm.

Ngồi ra xã cần có các chính sách thiết thực nhằm hỗ trợ người dân trong

việc sử dụng phân bón và thuốc BVTV hợp lý. Nghiên cứu đánh giá thực trạng

môi trường sản xuất nông nghiệp tại xã để có hướng giải quyết hợp lý nhất.

Tập huấn, tuyên truyền

Hiện nay mới chỉ có 37,7% hộ dân tham gia tập huấn. Cần nâng cao tỷ lệ

này, vì người dân có đi tập huấn mới biết được mức độ sử dụng và cách bón

phân, phun thuốc có hiệu quả,nâng cao được ý thức người dân thực hiện theo

khuyến cáo của CBKN xã. Tổ chức các buổi tập huấn lớn hơn 2 lần/năm và vận

động người dân tham gia đầy đủ. Nội dung của buổi tập huấn cần vận dụng

vàothực tế,chú trọng vào các lỗi nhân dân hay mắc phải khi sử dụng phân bón,

thuốc BVTV, đồng thời hướng dẫn kĩ thuật sử dụng thuốc BVTV an toàn, hiệu

quả, giới thiệu thuốc BVTV mới, ít độc, nhanh phân giải, có hiệu quả cao cùng

với đó hướng dẫn cách ủ phân đúng cách, kĩ thuật bón phân, và giới thiệu một

số loại phân mới có hiệu quả mà ít tác động tới mơi trường.

Nâng cao trình độ, vai trò của CBKN, người kinh doanh phân bón, thuốc

BVTV

- CBKN: cần tự nâng cao trình độ của mình. Cần nhiệt tình, năng động, tích

cực thăm đồng nhằm phát hiện sâu bệnh, cỏ dại để kịp thời phòng trừ, phát hiện

các hiện tượng thiếu thừa chất dinh dưỡng trên các laoij cây trồng để có biện

pháp khắc phục, khuyến cáo người dân. CBKN cần tạo niềm tin cho người nơng

dân, vì hiện nay tỷ lệ người dân tham khảo ý kiến của CBKN thấp.

- Người kinh doanh: Cần nâng cao mức hiểu biết về phân bón, thuốc BVTV

để tư vấn cho khách hàng sử dụng sản phẩm hiệu quả nhất. Cần có tâm với

nghề, kinh doanh có uy tín, chất lượng.



1.2 Đối với phân bón

Áp dụng bón phân đúng kĩ thuật theo 5 đúng (đúng chủng loại, đúng nhu

cầu sinh lí, đúng nhu cầu sinh thái, đúng vụ thời tiết, đúng phương pháp).

Sử dụng tích cực các biện pháp canh tác:

- Với cây lúa là làm đất, cày ải, vệ sinh đồng ruộng; Với ngô, lạc, đậu thì

xới xáo, cày bừa làm đất tơi xốp, sạch cỏ dại trước khi gieo trồng.

- Luân phiên lạc, đậu, ngơ trên một đơn vị diện tích:

- Sử dụng các giống lúa, ngơ, lạc, đậu có khả năng phát triển tốt.

1.3 Đối với thuốc BVTV

Theo kết quả điều tra, người dân thường xuyên gặp phải sâu, cỏ dại phá

hoại. Lượng thuốc BVTV được người dân sử dụng đều cao hơn khuyến cáo,

nồng độ đậm hơn mức cần thiết. Do vậy, Trạm BVTV của huyện kết hợp với

hội khuyến nông xã chỉ đạo công tác tập huấn cho CBKN và người nơng dân về

dịch hại và biện pháp phòng trừ. CBKN cần chú ý tới tình hình dịch hại ở địa

bàn xã để có phát hiện bệnh sớm, phòng trừ có hiệu quả. Thực hiện nguyên tắc

4 đúng (đúng thuốc, đúng lúc, đúng liều lượng, đúng cách).

Chọn giống cây trồng khỏe, chống chịu tốt với sâu bệnh, đa dạng hóa cây

trồng, thực hiện luân canh các loại cây trên địa bàn, cho đất nghỉ một thời gian

cũng giúp giảm tỷ lệ sâu bệnh gặp phải.

Khi phun, mặc đầy đủ đồ bảo hộ

Phương pháp xử lý bao bì phân bón, thuốc BVTV

- Phân bón: Những bao bì lớn có thể rửa sạch, sử dụng lại. Những bao bì

nhỏ có thể đốt. Cách đốt: Thu gom bao bì phân bón lại một chỗ, sau đó mang

đến vị trí cách xa nguồn nước và ruộng. Rồi tiến hành đốt, khi đốt nên tránh xa

đống đốt để tránh ảnh hưởng đến sức khỏe. Do lượng phát thải bao bì phân bón

khơng nhiều nên có thể áp dụng phương pháp này.

- Thuốc BVTV: 100% người dân vứt vỏ bao bì, thuốc BVTV ngay tại kênh

mương, ruộng. Điều này rất nguy hiểm, do vỏ, bao bì thuốc BVTV là rác thải

nguy hại, cần có biện pháp xử lý riêng biệt, nhất là với các loại thuốc BVTV có

độ độc cao. Tuy nhiên, điều kiện kinh tế tại xã chưa đáp ứng được u cầu đó vì

hiện nay rác thải sinh hoạt cũng chưa có khu xử lý, chủ yếu là đốt. Do vậygiải

pháp người dân có thể áp dụng là:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương III Hiện Trạng Sử Dụng Trong Nền Nông Nghiệp Ở Việt Nam

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×