Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương II ẢNH HƯỞNG CỦA HOÁ CHẤT DÙNG TRONG NÔNG NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG

Chương II ẢNH HƯỞNG CỦA HOÁ CHẤT DÙNG TRONG NÔNG NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

dưỡng, ví dụ bón đạm nhiều cho đất có chưa vi khuẩn cố định ni tơ sẽ làm giảm

khả năng này của chúng (Bộ nông nghiệp và PTNN, 2011).

Phân hữu cơ chưa qua xử lý gây ô nhiễm đất nghiêm trọng do trong phân có

chưa một số lượng lớn các vi sinh vật gây bệnh như vi khuẩn E.Coli gây bệnh

đường ruột, các ấu trùng sán lá, thương hàn, ký sinh trùng giun, sán,… các kim

loại nặng còn được lưu giữ trong đất nếu đất dược bón phân hữu cơ có nguồn

gốc từ các bùn thải hố xí, bùn cống, …

1.2 Ảnh hưởng đến môi trường nước:

Một lượng lớn phân bón bị rửa trơi từ đất vào nước làm nước bị ô nhiễm

gây ô nhiễm môi trường nước. Anion NO 3- trong phân bón có tính linh động cao

nên dễ bị rửa trôi xuống các tầng sâu hoặc xuống các thủy vực, ô nhiễm các

mạch nước ngầm, thủy vực. Hàm lượng N, P, K dư thừa khi bị rửa trôi vào môi

trường nước hoặc thấm qua các tầng đất tới các mạch nước ngầm làm làm lưu

vực đó bị phú dưỡng, nước ngầm thì bị ơ nhiễm và chứa các kim loại nặng (Bộ

nông nghiệp và PTNN, 2011).

Phân hữu cơ có chứa những ấu trùng gây bệnh, hệ vi sinh vật gây nhiễm

khuẩn cho người và động vật khi bị rửa trôi vào hệ mạch nước ngầm và hệ

thống nước bề măt sẽ khiến nước bị ô nhiễm.

1.3 Ảnh hưởng đến mơi trường khơng khí

Q trình phân huỷ các chất vơ cơ trong phân hóa học, các chất hữu cơ

trong phân hữu cơ tạo ra các khí nhà kính. Các q trình phân hủy hảo khí tạo ra

CO2, phân hủy kỵ khí tạo ra các khí như CH4, H2S, NOx, SO2, … đều là những

khí nhà kính mạnh.

Q trình phản ứng nitrat hóa biến NO3- trong đất thành NOx, N2, … hoặc

khi bón phân vào ngày nắng thì NH4- biến thành NH3 bay vào khí quyển gây

mùi hơi thối trong khơng khí và góp phần giữ nhiệt trên bề mặt trái đất, tham

gia vào sự làm nóng lên trên tồn cầu một cách tích (Bộ nơng nghiệp và PTNN,

2011).

1.4 Ảnh hưởng đến con người

Đạm dư thừa bị chuyển thành dạng Nitrat (NO 3-) hoặc Nitrit (NO2-) là

những dạng gây độc trực tiếp cho các động vật thuỷ sinh, gián tiếp cho các động

vật trên cạn do sử dụng nguồn nước (Tabuchi và Hasegawa, 1995). Đặc biệt gây

hại cho sức khoẻ con người thông qua việc sử dụng các nguồn nước hoặc các

sản phẩm trồng trọt, nhất là các loại rau quả ăn tươi có hàm lượng dư thừa

Nitrat. Theo các nghiên cứu gần đây, nếu trong nước và thực phẩm hàm lượng

nitơ và photpho, đặc biệt là nitơ dưới dạng muối nitrit và nitrat cao quá sẽ gây ra



một số bệnh nguy hiểm cho người đặc biệt là trẻ em. Theo Lê Thị Hiền Thảo

(2003) đã xác định, trong những thập niên gần đây, mức NO 3- trong nước uống

tăng lên đáng kể mà nguyên nhân là do sự sử dụng phân đạm vơ cơ tăng, gây rò

rỉ NO3- xuống nước ngầm. Hàm lượng NO3- trong nước uống tăng gây ra nguy

cơ về sức khoẻ đối với cộng đồng. Ủy ban châu Âu quy định mức tối đa của

NO3-trong nước uống là 50 mg/l, Mỹ là 45 mg/l, Tổ chức y tế thế giới (WHO) là

100 mg/l. Y học đã xác định NO2- ảnh hưởng đến sức khoẻ với hai khả năng

sau: gây nên chứng máu Methaemoglobin và ung thư tiềm tàng.

Các nghiên cứu về y học gần đây đã xác định, dư thừa Phospho trong các

sản phẩm trồng trọt hoặc nguồn nước làm giảm khả năng hấp thu Canxi vì chất

này lắng đọng với Canxi tạo thành muối triphosphat canxi khơng hòa tan và tạo

thuận lợi cho q trình sản xuất para thormon, điều này đã huy động nhiều

Canxi của xương, và nguy cơ gây loãng xương ngày một tăng, đặc biệt ở phụ nữ

(Trương Hợp Tác, 2013).

2. Ảnh hưởng của thuốc BVTV trong sản xuất nông nghiệp tới mơi

trường

Một số loại thuốc BVTV có tính năng hóa học ổn định, khó phân hủy, nên

sẽ tích lũy trong mơi trường. Sau nhiều lần sử dụng, lựơng tích lũy tăng lên và

gây ảnh hưởng tới môi trường đất, nước, không khí. Đặc biệt, hiện nay, sự lạm

dụng thuốc BVTV càng ngày càng trở nên phổ biến, khó kiểm sốt, thì sự ô

nhiễm môi trường do thuốc BVTV càng trở nên nghiêm trọng. Một số cơng

trình nghiên cứu đã chỉ ra sự tồn lưu thuốc BVTV trong đất, nước, khơng khí,

hậu quả đã ảnh hưởng xấu đến động vật và cả con người.

2.1 Đối với mơi trường khí

Thuốc BVTV có nhiều loại, trong đó, có một số loại có thể bay hơi sau khi

phun. Tuy nhiên có ít bằng chứng về sự tiếp xúc với thuốc BVTV trong khơng

khí gây ảnh hưởng nghiêm trọng lên sức khỏe con người trừ những nơi mà

thuốc BVTV được sử dụng trong những khu vực qy kín, thơng khí khơng

được thơng thống.

2.2 Đối với mơi trường đất

Trong đất có tới 50% lượng thuốc BVTV được phun để bảo vệ mùa màng

hoặc được sử dụng diệt cỏ đã phun khơng đúng vị trí và dải trên mặt đất. Mặc

dù một lựợng lớn đã bay hơi nhưng một vài thuốc BVTV như clo hữu cơ có thể

tồn tại trong đất nhiều năm. Khi vào trong đất một phần thuốc được cây hấp thụ,

phần còn lại được keo đất giữ lại. Thuốc tồn tại trong đất dần dần được phân

giải qua hoạt động sinh học của đất và qua tác động của các yếu tố hóa lý. Tuy



nhiên tốc độ phân giải chậm nếu thuốc tồn tại trong mơi trường đất với lượng

lớn, nhất là trong đất có hoạt tính sinh học kém (Lê Văn Khoa, 2001).

2.3 Đối với mơi trường nước

Mơi trường nước xung quanh vẫn có thể bị nhiễm hóa chất khi nơng dân đổ

thuốc thừa hoặc tráng rửa bình phun xuống ao, kênh mương. Hoặc phun thuốc

BVTV cho cây trồng gần mép nước. Hoặc cũng có thể từ mơi trường đất qua

q trình rò rỉ, xói mòn, rửa trơi. Hoặc từ khơng khí bị ơ nhiễm qua hiện tượng

mưa và sương mù. Hoặc trực tiếp sử dụng thuốc BVTV để giết cá. Nguyễn

Đình Mạnh (2000) cho rằng tính di động của nó chịu ảnh hưởng lớn nhất của

nước và lực dòng chảy của nước, khả năng di động của nó được quyết định bởi

độ tan, độ hấp phụ trong keo đất, cường độ hấp phụ, vận tốc hấp phụ của đất với

nhóm thuốc BVTV. Khả năng thấm sâu của thuốc BVTV phụ thuộc vào nước,

lực thấm sâu của dòng nước, tính linh động của thuốc BVTV.

2.4 Ảnh hưởng đến sức khỏe con người

Sử dụng thuốc BVTV với nồng độ cao, số lượng lớn, thời gian cách ly

không đảm bảo làm cho dư lượng thuốc trong sản phẩm lớn, gây ảnh hưởng tới

sức khỏe người tiêu dùng. Theo Trung tâm Khuyến nơng Việt Nam (2013) chỉ

tính riêng trong năm 2009 trong cả nước đã có 4.515 người bị nhiễm độc thuốc

BVTV với 138 trường hợp tử vong. Nhiễm độc cấp thường là các vụ tự tử, các

vụ nhiễm độc hàng loạt do thức ăn bị nhiễm thuốc BVTV, sự tiếp xúc nghề

nghiệp trong nông nghiệp,...

Đây là nguyên nhân của phần lớn các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng có liên

quan đến thuốc BVTV. Các ảnh hưởng mãn tính do sự tiếp xúc với thuốc BVTV

trong thời gian dài với liều lượng nhỏ có liên quan đến nhiều rối loạn và các

bệnh khác nhau. Các nhà khoa học đã tìm thấy bằng chứng về mối liên quan

giữa thuốc BVTV với các bệnh ung thư, các hậu quả sinh sản như đẻ non, vô

sinh, thai dị dạng, chất lượng tinh dịch, rối loạn thần kinh thực vật, rối loạn

hành vi, tổn thương chức năng miễn dịch và dị ứng, tăng cảm giác da, ...

Thủy ngân ở một hàm lượng nào đó sẽ khơng ảnh hưởng đến người mẹ

nhưng gây hại cho não của bào thai, dư lượng thuốc BVTV đã được tìm thấy

trong sữa các bà mẹ đang cho con bú khi thường xuyên tiếp xúc với thuốc

BVTV, đây cũng là nguyên nhân của nhiều trường hợp sảy thai, đẻ non,... rất

nguy hiểm.

2.5 Ảnh hưởng đến hệ sinh thái

Thuốc BVTV làm đảo lộn hệ sinh thái nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu

gây lên những đợt dịch sâu bệnh trầm trọng trên cây trồng những năm sau.



Khi phun thuốc BVTV trên đồng ruộng không chỉ tiêu diệt các lồi sâu,

bệnh, cỏ dại... gây hại cây trồng mà còn tiêu diệt các lồi thiên địch có ích (thiên

địch là những côn trùng hoặc nhện... lấy sâu hại làm thức ăn hoặc ký sinh sâu

hại như các loài ong mắt đỏ, ong đen kén trắng ký sinh trứng và sâu non của

một số loài sâu hại, bọ cánh cứng 3 khoang ăn các lồi sâu hại, bọ xít nước ăn

rầy nâu, nhện lưới bắt sâu...); đa số các loài thiên địch bị tiêu diệt trước và chết

nhiều hơn do chúng dễ mẫn cảm với thuốc BVTV hơn nhiều so với các lồi sâu

hại. Bên cạnh đó, các lồi sâu hại sau khi bị phun thuốc, những cá thể còn sống

sẽ phục hồi quần thể nhanh hơn nhiều so với các lồi thiên địch vì các loại thuốc

BVTV hiện nay khơng thể tiêu diệt được hết các loài sâu, bệnh khi phun trên

đồng ruộng (hiệu quả của thuốc BVTV chỉ đạt từ 80 – 85%). Vì vậy, ở những

nơi nào người dân dùng nhiều thuốc để phòng trừ các đối tượng sâu bệnh hại

lúa hoặc các cây rau mầu khác... thì ở chính những nơi đó sẽ thường xun

bùng phát dịch sâu bệnh vào những vụ và năm sau do thiên địch chưa kịp hồi

phục để đủ sức khống chế sâu hại. Ngồi ra, khi sử dụng thuốc BVTV khơng

đúng kỹ thuật sẽ gây hiện tượng sâu hại quen thuốc dẫn đến kháng thuốc và

chống thuốc (Phạm Văn Phú, 2011).



Chương III Hiện Trạng Sử Dụng Trong Nền Nông

Nghiệp Ở Việt Nam

1. Phân bón

Theo Báo cáo Hiện trạng mơi trường quốc gia 2005: Ơ nhiễm do sử dụng

phân hóa học: sử dụng phân bón khơng đúng kỹ thuật trong canh tác nơng

nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượng kali và

xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trường

đất.

Bảng 1.2: Lượng và tỷ lệ các chất dinh dưỡng chính trong phân bón tiêu thụ

ở Việt Nam

Lượng tiêu thụ (1.000 tấn)



Tỷ lệ tiêu thụ



Năm

N



P2O5



K2O



Tổng



N: P2O5: K2O



1991



717,17



134,76



13,00



864,93



1: 0,188: 0,018



1992



466,34



173,78



40,96



681,08



1: 0,373: 0,088



1993



558,71



139,14



17,00



714,85



1: 0,249: 0,030



1994



727,40



239,40



68,00



1034,8



1: 0,329: 0,093



1995



744,14



319,44



87,80



1151,38



1: 0,429: 0,118



1996



923,36



402,64



138,00



1464,0



1: 0,436: 0,149



1997



861,92



325,08



149,00



1336,0



1: 0,377: 0,173



1998



1042,6



347,31



239,28



1629,19



1: 0,333: 0,229



1999



852,00



317,35



194,00



1363,35



1: 0,372: 0,228



2000



946,00



365,50



210,00



1521,5



1: 0,386: 0,222



Nguồn:Nguyễn Xuân Trường, 2000

Tính từ năm 1985 tới 2009, diện tích gieo trồng ở nước ta chỉ tăng 57,7%,

nhưng lượng phân bón sử dụng tăng tới 517%. Theo tính tốn, lượng phân vơ cơ

sử dụng tăng mạnh trong vòng 20 năm qua, tổng các yếu tố dinh dưỡng đa

lượng N+P2O5+K2O năm 2007 đạt trên 2,4 triệu tấn, tăng gấp hơn 5 lần so với

lượng sử dụng của năm 1985. Ngồi phân vơ cơ, hàng năm nước ta còn sử dụng

khoảng 1 triệu tấn phân hữu cơ, hữu cơ sinh học, hữu cơ vi sinh các loại (Trung

tâm KNVN, 2013).

Bảng 1.5: Nhu cầu phân bón thương phẩm ở Việt Nam đến năm 2020

Đơn vị: nghìn tấn

Năm

Loại phân bón

2015



2020



Ure



2.000



2.100



DAP



700



700



SA



400



600



Supephotphat và lân nung chảy



1.700



1.700



KCl



900



1.000



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương II ẢNH HƯỞNG CỦA HOÁ CHẤT DÙNG TRONG NÔNG NGHIỆP ĐẾN MÔI TRƯỜNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×