Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

b. Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Tải bản đầy đủ - 0trang

phải nghiên cứu hậu quả của việc sử dụng phân bón và thuốc trừ sâu, nghiên cứu

ảnh hưởng của việc tăng đầu tư thâm canh đến quá trình sử dụng đất.

- Khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm đến những

ảnh hưởng của sản xuất nông nghiệp đến môi trường xung quanh. Cụ thể, khả năng

thích hợp của các loại hình sử dụng đất nơng nghiệp có phù hợp với đất đai hay

khơng? Việc sử dụng hóa chất trong nơng nghiệp có để lại tồn dư hay không?

- Hoạt động sản xuất nông nghiệp mang tính xã hội rất sâu sắc. Nói đến

nơng nghiệp khơng thể khơng nói đến nơng dân, đến các quan hệ sản xuất trong

nơng thơn. Vì vậy, khi đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cần quan tâm

đến những tác động của sản xuất nông nghiệp, đến các vấn đề xã hội (như giải

quyết việc làm, tăng thu nhập, nâng cao trình độ dân trí trong nơng thơn… (Ngơ

Thế Dân, 2001).

* Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Việc nâng cao hiệu quả là mục tiêu chung, mục tiêu chủ yếu xuyên suốt

mọi quá trình sản xuất của xã hội. Tùy theo nội dung hiệu quả mà có những tiêu

chuẩn đánh giá hiệu quả khác nhau ở mỗi thời kỳ phát triển kinh tế - xã hội khác

nhau. Tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là một vấn để phức tạp và có nhiều ý kiến

chưa được thống nhất. Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế đều cho rằng tiêu chuẩn

cơ bản và tổng quát khi đánh giá hiệu quả là mức độ đáp ứng nhu cầu xã hội và

sự tiết kiệm lớn nhất về chi phí và tiêu hao các nguồn tài nguyên, sự ổn định lâu

dài của hiệu quả.

Tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả đối với toàn xã hội là khả năng thỏa mãn

nhu cầu của sản xuất và tiêu dùng cho xã hội bằng của cải vật chất sản xuất ra.

Đối với nông nghiệp, tiêu chuẩn để đánh giá hiệu quả là mức đạt được các mục

tiêu kinh tế - xã hội, môi trường do xã hội đặt ra như tăng năng suất cây trồng,

vật nuôi, tăng chất lượng và tổng sản phẩm hướng tới thỏa mãn tốt nhu cầu nông

sản cho thị trường trong nước và xuất khẩu, đồng thời đáp ứng yêu cầu bảo vệ

hệ sinh thái nông nghiệp bền vững.

Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp cũng có đặc thù riêng, trên 1

đơn vị đất nơng nghiệp có thể sản xuất đạt được những kết quả cao nhất với chi

21



phí bỏ ra ít nhất, ảnh hưởng ít nhất đến môi trường. Sử dụng đất phải đảm bảo

cực tiểu hóa chi phí các yếu tố đầu vào, theo nguyên tắc tiết kiệm khi cầu sản

xuất ra một lượng nông sản nhất định.

Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất

nơng nghiệp, đến hệ thống môi trường, đến những người lao động ngành nơng

nghiệp. Vì vậy, đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải theo quan điểm sử dụng đất

bền vững hướng đến ba tiêu chuẩn:

Thứ nhất, bền vững về mặt kinh tế. Trong hoạt động sản xuất nông

nghiệp, năng suất và chất lượng được đặt lên hàng đầu. Năng suất, chất lượng

càng cao thì khả năng khai thác, sử dụng càng hiệu quả. Hệ thống sử dụng đất

phải có mức năng suất sinh học cao trên mức bình qn vùng có cùng điều kiện

đất đai. Một hệ thống nông nghiệp bền vững phải có năng suất trên mức bình

qn vùng, nếu khơng sẽ không cạnh tranh được với cơ chế thị trường. Mặt

khác, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn tiêu thụ tại địa phương, trong nước và

hướng tới xuất khẩu tùy theo mục tiêu của từng vùng.

Thứ hai, bền vững về mơi trường. Loại hình sử dụng đất phải bảo vệ được

độ phì đất, ngăn ngừa sự thối hóa đất, bảo vệ mơi trường sinh thái. Độ phì

nhiêu của đất tăng dần là yêu cầu bắt buộc đối với việc quản lý và sử dụng đất

nông nghiệp bền vững.

Thứ ba, bền vững về mặt xã hội. Thu hút được nguồn lao động trong nông

nghiệp, tăng thu nhập, tăng năng suất lao động, đảm bảo đời sống xã hội. Đáp

ứng được các nhu cầu của nông hộ là điều cần quan tâm trước tiên nếu muốn họ

quan tâm đến lợi ích lâu dài. Sản phẩm thu được phải thỏa mãn cái ăn, cái mặc

và nhu cầu hàng ngày của người nông dân, đảm bảo sự hợp tác trong sản xuất và

tiêu thụ sản phẩm, trong cung cấp tư liệu sản xuất có hiệu quả.

Tóm lại, việc đánh giá hiệu quả sử dụng đất phải được xem xét, đánh giá

một cách toàn diện cả về mặt khơng gian và thời gian. Nó phải đáp ứng được

nhu cầu ngày càng cao của xã hội cả về mặt số lượng và chất lượng. Vì thế, đánh

giá hiệu quả sử dụng đất phải phù hợp với đặc điểm và khả năng khai thác trong

từng thời kỳ.

22



1.2.3. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

* Nguyên tắc lựa chọn chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Hệ thống chỉ tiêu phải có tính thống nhất, tính tồn diện và tính hệ thống.

Các chỉ tiêu có mối quan hệ hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang

bậc.

- Để đánh giá được chính xác, tồn diện cần phải xác định các chỉ tiêu

chính, các chỉ tiêu cơ bản hiệu quả một cách khách quan, chân thật và biểu hiện

mặt cốt yếu của hiệu quả theo quan điểm và tiêu chuẩn đã chọn, các chỉ tiêu bổ

sung để hiệu chỉnh chỉ tiêu chính, làm cho nội dung kinh tế biểu hiện đầy đủ

hơn, cụ thể hơn.

- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nơng

nghiệp ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại

nhất là những sản phẩm có khả năng xuất khẩu.

- Hệ thống chỉ tiêu phải dựa trên cơ sở khoa học của hiệu quả, đảm bảo

được tính thực tiễn, yêu cầu nghiên cứu hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và

phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển.

* Chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

- Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế:

+ Hiệu quả kinh tế trên 1 ha đất nơng nghiệp:

Giá trị sản xuất (GO): là tồn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ được

tạo ra trong một thời kỳ nhất định (một vụ, một năm, tính cho từng cây trồng,

…).

Chi phí trung gian (IC): là khoản chi phí vật chất thường xuyên bằng tiền

mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và dịch vụ sử dụng trong

quá trình sản xuất (giống, phân bón, thuốc hóa học, nguyên liệu, vật liệu).

Giá trị gia tăng (VA): là giá trị sản phẩm vật chất mới tạo ra trong quá

trình sản xuất hoặc trong một chu kỳ sản xuất và được xác định bằng giá trị sản

xuất trừ chi phí trung gian.

VA = GO – IC



23



Giá trị sản xuất/Chi phí trung gian (GO/IC): là giá trị trên 1 đồng chi phí

trung gian.

Giá trị gia tăng/Chi phí trung gian (VA/IC): là giá trị gia tăng trên 1 đồng

chi phí trung gian.

+ Hiệu quả kinh tế trên một ngày công lao động: GTGT/ 1 ngày công lao

động. Thực chất là đánh giá kết quả đầu tư lao động sống cho từng kiểu sử dụng

đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người lao

động.

+ Hiệu quả kinh tế trên một đồng chi phí: GTGT/ 1 đơn vị chi phí.

- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:

Hiệu quả xã hội chính là mối tương quan so sánh giữa kết quả xã hội và

tổng chi phí bỏ ra. Theo hội khoa học đất Việt Nam (2000), hiệu quả xã hội được

phân tích bởi các chỉ tiêu sau:

+ Thu hút được nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân.

+ Đáp ứng được mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng.

+ Góp phần định canh, định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật…

+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nơng dân.

- Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả môi trường:

Hiệu quả môi trường hiện nay được rất nhiều các nhà môi trường học

quan tâm. Hoạt động sản xuất được coi là có hiệu quả khi hoạt động đó khơng

có những tác động xấu đến vấn đề môi trường, là hiệu quả đạt được khi q trình

sản xuất diễn ra khơng làm cho mơi trường xấu đi, đem lại một môi trường tốt

hơn, xanh sạch đẹp hơn. Hiệu quả đó được phân tích qua các chỉ tiêu sau:

- Mức độ ô nhiễm môi trường (đất, nước, khơng khí, động thực vật).

- Tỷ lệ diện tích đất được cải tạo, bảo vệ, bị ô nhiễm và thối hóa.

- Mức độ phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khi thay đổi kiểu

sử dụng đất. Môi trường nông nghiệp chịu ảnh hưởng bởi các biện pháp làm đất,

bón phân, tưới tiêu, … vì vậy, nếu như canh tác không hợp lý sẽ làm dẫn đến

tình trạng ơ nhiễm đất bởi các chất hóa học, đất bị chua, làm giảm độ phì nhiêu



24



của đất, gây ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất, chất lượng và làm suy thối mơi

trường.

Việc xác định hiệu quả về mặt mơi trường của q trình sử dụng đất nơng

nghiệp là rất phức tạp và khó xác định. Vì vậy, sử dụng đất hợp lý hiệu quả và

bền vững phải kết hợp chặt chẽ giữa ba hệ thống kinh tế, xã hội và môi trường.

1.3. Cơ sở thực tiễn

1.3.1. Trên thế giới

Dân số ngày càng tăng trong khi diện tích đất đai có hạn, việc nâng cao

hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài là

vấn đề quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà khoa học trên thế giới.

Các phương pháp đã được nghiên cứu, áp dụng dùng để đánh giá hiệu quả sử

dụng đất nông nghiệp được tiến hành ở các nước Đông Nam Á (như phương

pháp phân tích chuyên gia, phương pháp phân tích kinh tế, phương pháp mơ

phỏng, …). Bằng những phương pháp đó, các nhà khoa học đã tập trung nghiên

cứu đánh giá hiệu quả đối với từng loại cây trồng, từng giống cây trồng trên mỗi

loại đất để từ đó có thể bố trí lại cơ cấu cây trồng phù hợp nhằm khai thác tốt

hơn lợi thế so sánh của từng vùng.

Hàng năm, các Viện nghiên cứu nông nghiệp ở các nước đã đưa ra nhiều

giống cây trồng, công thức luân canh mới giúp sử dụng đất ngày càng có hiệu

quả hơn. Các nhà khoa học Nhật Bản cho rằng: quá trình phát triển của hệ thống

nơng nghiệp nói chung và hệ thống cây trồng nói riêng là sự phát triển đồng

ruộng đi từ đất cao đến đất thấp, tức là hệ thống cây trồng đã phát triển trên đất

cao trước sau đó mới đến đất thấp. Đó là q trình hình thành của hệ sinh thái

đồng ruộng. Nhà khoa học Otak Tanaka đã nêu lên những vấn đề cơ bản về sự

hình thành của sinh thái đồng ruộng và từ đó cho rằng yếu tố quyết định của hệ

thống nông nghiệp là sự thay đổi về kỹ thuật, kinh tế - xã hội. Họ cho rằng hiệu

quả sử dụng đất thông qua hệ thống cây trồng trên các loại đất canh tác là sự

phối hợp giữa các cây trồng và gia súc, các phương pháp trồng trọt và chăn nuôi,

vốn đầu tư, cường độ lao động, tổ chức sản xuất, tính chất hàng hóa của sản

phẩm…

25



Kinh nghiệm của Trung Quốc cho ta thấy, việc khai thác và sử dụng đất

đai là yếu tố quyết định để phát triển kinh tế xã hội nông thơn. Chính phủ Trung

Quốc đã đưa ra các chính sách quản lý và sử dụng đất đai, ổn định chế độ sở

hữu, giao đất cho nông dân sử dụng, thiết lập hệ thống trách nhiệm và tính chủ

động sáng tạo của người nông dân trong sản xuất. Thực hiện chủ trương “ly

nơng bất ly hương” (Hồng Đạt, 1995) đã thúc đẩy phát triển KT – XH nơng

thơn phát triển tồn diện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.

Ở Thái Lan, Ủy ban chính sách Quốc gia đã có nhiều quy chế mới ngồi

hợp đồng cho tư nhân th đất dài hạn, cấm trồng những cây khơng thích hợp

trên từng loại đất nhằm quản lý việc sử dụng và bảo vệ đất tốt hơn (FAO, 1990).

Nhiều vùng trong điều kiện thiếu nước, từ sử dụng đất thông qua công thức luân

canh lúa xuân – lúa mùa hiệu quả thấp vì chi phí tưới nước q lớn và độc canh

cây lúa làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng đất đã đưa cây đậu thay thế lúa xuân

trong công thức luân canh. Kết quả là giá trị sản lượng tăng lên đáng kể, hiệu

quả kinh tế được nâng cao nhờ đó mà hiệu quả sử dụng đất được nâng cao.

Những năm gần đây, cơ cấu kinh tế nông nghiệp của các nước đã gắn

phương thức sử dụng đất truyền thống với phương thức hiện đại và chuyển dịch

theo hướng công nghiệp hóa nơng nghiệp, nơng thơn. Các nước Châu Á đã rất

chú trọng trong việc đẩy mạnh công tác thủy lợi, ứng dụng tiến bộ kỹ thuật về

giống, phân bón, các công thức luân canh để ngày càng nâng cao hiệu quả sử

dụng đất nông nghiệp, một mặt phát triển ngành công nghiệp chế biến nông sản,

gắn sự phát triển công nghiệp với bảo vệ môi trường.

Theo xu hướng nông nghiệp trên thế giới, những hạn chế của cuộc cách

mạng xanh và cơng nghiệp hóa nơng nghiệp đã dẫn đến việc nhiều nước quay

trở lại với nền nông nghiệp hữu cơ làm cho nông nghiệp hữu cơ ngày càng được

nâng cao vị trí. Đặc trưng của nơng nghiệp hữu cơ là khơng sử dụng các chất

hóa học tổng hợp như phân bón, thuốc trừ sâu và sử dụng hợp lý nguồn tài

nguyên thiên nhiên (đất, nước…). Xu hướng nông nghiệp này đang ngày càng

lan rộng khắp thế giới, cung cấp một loạt giải pháp để làm giảm nhẹ sự ảnh

hưởng cũng như tích lũy tồn lưu lâu dài do sử dụng khơng đúng hoặc q liều

26



các hóa chất nơng nghiệp làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng môi trường và

nông sản.

1.3.2. Ở Việt Nam

Việt Nam nằm trong vùng nhiệt đới ẩm Châu Á có nhiều thuận lợi cho

phát triển sản xuất nơng nghiệp. Tuy nhiên, nguồn tài ngun đất có hạn trong

khi dân số ngày càng đơng, bình qn đất tự nhiên trên người là 4.093,9 m 2, chỉ

bằng 1/7 mức bình qn thế giới; bình qn đất nơng nghiệp trên đầu người là

1,230 m2 bằng 1/3 mức bình quân thế giới (Bộ TN và MT, 2007). Mặt khác, dân

số tăng nhanh làm cho bình qn diện tích đất trên đầu người ngày càng giảm.

Vì thế, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp là vấn đề cần thiết đối với

Việt Nam trong những năm tới.

Hiệu quả sử dụng đất nơng nghiệp ở Việt Nam nhìn chung chưa cao, hệ số

sử dụng đất thấp, năng suất cây trồng thấp (chỉ có lúa, cà phê, ngơ đạt và vượt

mức trung bình trên thế giới). Ngồi ra, chất lượng dự báo nhu cầu quỹ đất cho

phát triển để đưa vào quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất ở các địa phương chưa

cao. Trong những năm qua, các nhà khoa học nước ta đã quan tâm giải quyết tốt

các vấn đề kỹ thuật và kinh tế nhiều cơng trình nghiên cứu cấp quốc gia đã được

tiến hành, việc nghiên cứu và ứng dụng được tập trung và ngày càng phát huy

hiệu quả (như: lai tạo giống cây trồng mới có năng suất cao, bố trí ln canh cây

trồng vật ni với từng loại đất, thực hiện thâm canh toàn diện, ứng dụng tiến bộ

kỹ thuật vào sản xuất…).

Theo Nguyễn Đình Bồng (2002), đất sản xuất nông nghiệp của nước ta

chỉ chiếm 28,38% và gần tương đương với diện tích này là diện tích đất chưa sử

dụng. Đây là tỷ lệ cho thấy cần có nhiều biện pháp thiết thực hơn để phục vụ

cho các mục đích khác nhau. Nước ta là nước có đa phần dân số làn nghề nơng,

nhưng tỷ lệ dùng đất nơng nghiệp lại thấp, bình qn diện tích đất canh tác trên

đầu người nông dân lại thấp và manh mún. Vì vậy, để phát triển nơng nghiệp

một cách toàn diện cần phải khai thác đất đai hợp lý, sử dụng đất có hiệu quả

cao trên cơ sở phát triển một nền nơng nghiệp bền vững. Chính vì thế, việc nâng

cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp hiện nay đối với Việt Nam là rất cần thiết.

27



Trong những năm qua, ở Việt Nam đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu

về vấn đề sử dụng đất đai. Các nhà khoa học đã chú trong đến công tác lai tạo và

chọn giống cây trồng mới năng suất cao, chất lượng tốt để đưa vào sản xuất, làm

phong phú hơn hệ thống cây trồng góp phần vào việc làm tăng năng suất cây

trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất.

GS. Bùi Huy Đáp (1960), đã nghiên cứu đưa cây lúa xuân giống ngắn

ngày và cây vụ đông vào sản xuất. Điều này đã tạo ra sự chuyển biến rõ rệt trong

sản xuất nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng. Trong những năm gần đây,

chương trình quy hoạch tổng thể vùng đồng bằng sông Hồng đã nghiên cứu đề

xuất các dự án phát triển đa dạng sản xuất nông nghiệp đồng bằng sơng Hồng

như:

Chương trình đồng trũng (1985 - 1987) do Ủy ban kế hoạch Nhà nước

chủ trì, chương trình bản đồ canh tác (1988 - 1990) do Ủy ban khoa học Nhà

nước chủ trì đã đưa ra những quy trình hướng dẫn sử dụng giống và phân bón có

hiệu quả trên các chân ruộng vùng úng trũng đông bằng sông Hồng góp phần

tăng năng suất, sản lượng cây trồng.

Các đề tài nghiên cứu trong chương trình KN - 01 (1991 - 1995) do Bộ

nông nghiệp và phát triển nông thôn chủ trì đã tiến hành nghiên cứu hệ thống

cây trồng trên các vùng sinh thái khác nhau như vùng núi và trung du phía Bắc,

vùng đồng bằng sơng Cửu Long… nhằm đánh giá hiệu quả các hệ thống cây

trồng trên từng vùng đất đó.

Bên cạnh đó, vấn đề luân canh tăng vụ, trồng gối, trồng xen nhằm sử dụng

nguồn lực đất đai, khí hậu để bố trí cây trồng, nâng cao hiệu quả sử dụng đất

cũng được nhiều tác giả đề cập đến. Ở đề tài đánh giá hiệu quả một số mơ hình

đa dạng hóa cây trồng vùng đồng bằng sông Hồng của Vũ Năng Dũng (1997)

cho thấy ở vùng này đã xuất hiện nhiều mơ hình ln canh 3 - 4 vụ/1 năm đạt

hiệu quả kinh tế cao. Đặc biệt, ở vùng tưới tiêu, vùng ven đô chủ động đã có

những điển hình về sử dụng đất đai đạt hiệu quả kinh tế cao. Nhiều loại cây

trồng có giá trị kinh tế lớn đã được bố trí trong các phương thức luân canh.



28



Ở vùng đồng bằng Bắc Bộ đã xuất hiện nhiều mơ hình ln canh cây

trồng 3 - 4 vụ một năm đạt hiệu quả kinh tế cao, đặc biệt ở vùng sinh thái ven

đô, tưới tiêu chủ động đã có những điển hình về chuyển đổi hệ thống cây trồng,

bố trí lại và đưa vào những cây trồng có giá trị kinh tế cao đạt giá trị sản lượng

bình quân từ 30 - 35 triệu đồng/năm.

Nhìn chung, các cơng trình nghiên cứu mới chỉ giải quyết được phần nào

những vấn đề được đặt ra trong việc sử dụng đất đai hiện nay. Có những mơ

hình cho năng suất cây trồng cao nhưng hiệu quả kinh tế thấp, có mơ hình mang

lại hiệu quả kinh tế cao nhưng ở khía cạnh trước mắt, song chưa có gì đảm bảo

cho việc khai thác lâu dài, ổn định, đặc biệt còn có nơi làm hủy hoại mơi trường,

phá hoại đất. Vì vậy, cần có các cơng trình nghiên cứu ở từng vùng, từng điều

kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương để đưa ra các giải pháp thích hợp

hướng tới một nền nơng nghiệp phát triển bền vững.



CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG

NGHIỆP HUYỆN THANH THỦY, TỈNH PHÚ THỌ

2.1. Đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa

bàn huyện Thanh Thủy

2.1.1. Điều kiện tự nhiên

2.1.1.1. Vị trí địa lý

Thanh Thủy là một trong 13 huyện, thành của tỉnh Phú Thọ, nằm ở phía

Đơng Nam của tỉnh Phú Thọ. Trung tâm của huyện là thị trấn Thanh Thủy cách

thành phố Việt Trì 40 km, giáp thủ đơ Hà Nội mở rộng và cách thị xã Hòa Bình

20 km. Tổng diện tích tự nhiên tồn huyện là 12.510,42 ha, nằm dọc theo bờ tả

sông Đà với tổng chiều dài là 32,5 km. Huyện Thanh Thủy bao gồm 14 xã (xã

Yến Mao, Phượng Mao, Tu Vũ, Trung Nghĩa, Xuân Lộc, Đồng Luận, Trung



29



Thịnh, Hoàng Xá, Sơn Thủy, Đoan Hạ, Bảo Yên, Tân Phương, Thạch Đồng,

Đào Xá) và thị trấn Thanh Thủy.

Tọa độ địa lý của huyện Thanh Thủy nằm trong khoảng 21ᵒ10᾽14 độ vĩ

Bắc đến 105ᵒ16᾽45 độ kinh Đông. Thanh Thủy là một huyện miền núi có vị trí

tiếp giáp thuận lợi, phí Đơng giáp huyện Ba Vì (Hà Nội) với ranh giới tự nhiên

là sơng Đà, phía Bắc giáp huyện Tam Nơng, phía Tây giáp huyện Thanh Sơn,

phía Nam giáp huyện Thanh Sơn, còn Đơng Nam giáp huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa

Bình). Do vị trí của huyện gần đỉnh tam giác đồng bằng Bắc Bộ, nơi tiếp giáp

giữa miền núi và đồng bằng. Mặc dù là một huyện miền núi, song huyện Thanh

Thủy có vị trí tương đối thuận lợi về giao thông mở ra khả năng giao lưu văn

hóa, kinh tế với các huyện của tỉnh Phú Thọ, các tỉnh phía Tây Bắc và với thủ đơ

Hà Nội.

2.1.1.2. Địa hình

Thanh Thủy là một vùng trung du của tỉnh Phú Thọ, do đặc điểm cấu tạo

tự nhiên huyện Thanh Thủy dài và hẹp, một phía giáp sơng, 3 phía được bao bọc

bởi núi cao, tiêu biểu của vùng đất bán sơn địa. Với kết cấu địa lý có độ dốc từ

Tây sang Đơng, địa hình của huyện Thanh Thủy được chia ra làm hai dạng chủ

yếu:

- Địa hình đồng bằng phù sa: là dải đất khá bằng phẳng, nằm dọc bờ tả đê

sông Đà và phần đất bồi tụ ngồi đê. Đây được xem là vùng đất khá phì nhiêu,

thuận lợi cho việc gieo trồng các loại cây nông nghiệp ngắn ngày.

- Địa hình đồi núi: ở đây chủ yếu là núi thấp và đồi, gò có độ cao dưới

400m và có độ dốc từ 8 - 25ᵒ, địa hình này tập trung ở các xã phía Tây của

huyện. Đất đồi núi của huyện Thanh Thủy thích hợp cho việc trồng một số cây

công nghiệp lâu năm và cây lâm nghiệp.

2.1.1.3. Khí hậu

Huyện Thanh Thủy là một huyện mang đặc trưng của khí hậu nhiệt đới

gió mùa, và được chia làm hai mùa rõ rệt trong năm là mùa nóng và mùa lạnh.

Mùa nóng diễn ra từ tháng 4 đến tháng 10, dặc điểm mùa này là nhiệt độ

cao, mưa nhiều, gió là gió đơng nam. Theo số liệu của trạm khí tượng Phú Thọ,

30



mùa này có nhiệt độ trung bình là 26,5ᵒC, lượng mưa trung bình tháng là 218,2

mm; số ngày mưa trung bình là 12,3 ngày/tháng, số giờ nắng trung bình là 5,44

giờ/ngày, tổng tích ơn tồn mùa khoảng 5.654ᵒC.

Mùa lạnh diễn ra từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau. Mùa lạnh nhiệt độ

trung bình là 18,4ᵒC, lượng mưa trung bình tháng là 38,2 mm, số ngày mưa

trung bình là 7,8 ngày/tháng, số giờ nắng trung bình là 2,08 giờ/ngày và tổng

tích ơn năm khoảng 2.782ᵒC.

Trên địa bàn huyện thường có 2 loại gió chính. Đó là gió mùa Đơng Nam

xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 10 và gió màu Đơng Bắc xuất hiện từ tháng 11

đến tháng 4 năm sau. Điều kiện khí hậu có ảnh hưởng hai mặt tới vấn đề sử

dụng đất nơng nghiệp của huyện: về mặt tích cực thì huyện Thanh Thủy có nhiệt

độ thích hợp, lượng mưa khá nhiều, tổng tích ơn dồi dào thuận lợi cho việc tiến

hành sản xuất, trồng trọt nhiều vụ trong một năm. Điều kiện khí hậu thuận lợi,

ruộng đất sẽ được khai thác tốt, hiệu quả sử dụng đất sẽ được nâng cao. Về mặt

tiêu cực, do chế độ mưa nhiều, lượng mưa lại phân bố không đồng đều trong

năm đặc biệt là lượng mưa lớn tập trung chủ yếu vào các tháng 6,7,8,9 thường

gây ra xói mòn, rửa trơi đối với đất đồi, gây lũ lụt và ngập úng đối với đất ruộng.

Song, vào các tháng 11, 12, 1 và 2 lượng mưa ít gây hạn hán cho cây trồng vụ

đơng xn, làm tăng q trình đá ong hóa ở đất đồi.

2.1.1.4. Thủy văn

Huyện Thanh Thủy có sơng Đà chạy qua xã Từ Vũ, từ xã này chạy qua

các xa Phượng Mao, Yến Mao, Trung Nghĩa, Đồng Luận, Đoan Hạ, Bảo Yên,

La Phù, Tân Phương, Thạch Đồng, Xuân Lộc và nhập vào sông Hồng tại xã

Hồng Đà hàng năm bồi đắp và tưới tiêu cho 15 xã, thị trấn trong huyện. Tổng

chiều dài của sông Đà chảy qua huyện Thanh Thủy khoảng 35 km, chỗ rộng

nhất tại xã Xuân Lộc là 1.600 m, chỗ hẹp nhất là tại xã Phượng Mao là 320 m,

chiều rộng trung bình là 700 m.

Theo kết quả đo đạc, lượng nước chảy qua sông Đà tại huyện Thanh Thủy

hàng năm là rất lớn. Trong các tháng mùa mưa vào khoảng 2.004 m 3/giây. Trong

các tháng mùa khô khoảng 220 m3/ giây. Sơng Đà góp phần bồi đắp chủ yếu

31



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Đặc điểm, tiêu chuẩn đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×