Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Theo Luật Đất đai năm 2003 căn cứ vào mục đích sử dụng, đất đai được

phân thành 3 nhóm: đất nông nghiệp, phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng, cụ

thể được quy định tại điều 10 Luật Đất đai như sau:

- Nhóm đất nơng nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

+ Đất trồng cây hàng năm gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn

nuôi, đất trồng cây hàng năm khác.

+ Đất trồng cây lâu năm.

+ Đất rừng sản xuất.

+ Đất rừng phòng hộ.

+ Đất rừng đặc dụng.

+ Đất nuôi trồng thuỷ sản.

+ Đất làm muối.

+ Đất nơng nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.

- Nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm các loại đất sau đây:

+ Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.

+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng cơng trình sự nghiệp.

+ Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.

+ Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu công

nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất sử dụng cho

hoạt động khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.

+ Đất sử dụng vào mục đích cơng cộng gồm đất giao thơng, thuỷ lợi; đất

xây dựng các cơng trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục

vụ lợi ích cơng cộng; đất có di tích lịch sử - văn hố, danh lam thắng cảnh; đất

xây dựng các cơng trình cơng cộng khác theo quy định của Chính phủ.

+ Đất do các cơ sở tơn giáo sử dụng.

+ Đất có cơng trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.

+ Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.

+ Đất sơng, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng.

+ Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của Chính phủ.



8



- Nhóm đất chưa sử dụng gồm các loại đất chưa xác định mục đích sử

dụng.

1.1.2. Vai trò và đặc điểm của đất nơng nghiệp

Đất là khoảng không gian lãnh thổ cần thiết đối với mọi quá trình sản xuất

trong các ngành kinh tế quốc dân và hoạt động của con người. Nói về tầm quan

trọng của đất C. Mác viết: “Đất là một phòng thí nghiệm vĩ đại, là một kho tàng

cung cấp các tư liệu lao động, vật chất, là vị trí để định cư, là nền tảng của tập

thể” (C. Mác – 1949).

Trong q trình sản xuất nơng nghiệp đất đai tham gia vào q trình sản

xuất khơng chỉ với tư cách là đối tượng lao động mà nó còn là điều kiện để tiến

hành cho q trình sản xuất nơng nghiệp. Nếu khơng có đất đai thì q trình sản

xuất khơng được tiến hành hay nói cách khác muốn cho q trình sản xuất nơng

nghiệp được diễn ra thì phải có đất đai. Ngồi ra, đất đai còn vừa là đối tượng

lao động vừa là tư liệu lao động, tư liệu sản xuất chủ yếu, đặc biệt và không thể

thay thế được trong nông nghiệp. Khi con người sử dụng công cụ lao động tác

động vào đất đai làm cho đất thay đổi hình dạng, đất đai là đối tượng lao động.

Còn khi con người sử dụng công cụ lao động tác động lên đất thơng qua các

thuộc tính lý học, hóa học, sinh vật học và các thuộc tính khác của đất đề tác

động lên cây trồng thì lúc đó đất đai là tư liệu lao động.

Hiến pháp sửa đổi năm 2013 quy định: "Đất đai, tài nguyên nước, tài

nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên

khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản cơng thuộc sở hữu

tồn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý". Trong sản

xuất nông lâm nghiệp, đất đai là tự liệu sản xuất chủ yếu và đặc biệt không thể

thay thế với những đặc điểm:

Thứ nhất, đất đai vừa là sản phẩm của tự nhiên, vừa là sản phẩm của lao

động. Đất đai vốn đã có sẵn từ khi con người chưa xuất hiện, chỉ từ khi con

người khai phá đưa đất hoang hóa vào sử dụng để tạo ra sử dụng để phục vụ cho

nhu cầu của con người thì ruộng đất mới trở thành sản phẩm của lao động.



9



Thứ hai, đất đai bị giới hạn về mặt không gian nhưng không bị giới hạn về

mặt sản xuất. Diện tích đất đai bị giới hạn bởi một không gian nhất định, bao

gồm cả giới hạn về mặt tương đối và cả giới hạn về mặt tuyệt đối. Bên cạnh đó,

khơng phải tất cả diện tích đất tự nhiên đều đưa vào canh tác được, diện tích đất

nông nghiệp đưa vào canh tác chỉ chiếm một tỷ lệ phần trăm nhất định. Tuy bị

giới hạn về mặt không gian nhưng sức sản xuất của đất đai là khơng có giới hạn

bởi trên mỗi đơn vị diện tích đất đai chúng ta sử dụng hợp lý, khoa học, đầu tư

hợp lý các nguồn vốn, sức lao động, đưa khoa học và cơng nghệ mới vào sản

xuất thì sản phẩm đem lại trên một đơn vị diện tích đó sẽ cao hơn rất nhiều.

Thứ ba, đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế trong q

trình sản xuất, nó sẽ khơng bị hao mòn cả về số lượng và chất lượng nếu như

chúng ta sử dụng nó một cách hợp lý. Nếu sử dụng hợp lý, đầu tư đúng mức thì

chất lượng ruộng đất ngày càng tốt hơn, sức sử dụng ruộng đất ngày càng tốt

hơn, sức sản xuất của ruộng đất ngày càng lớn hơn, cho nhiều sản phẩm hơn trên

một diện tích đất canh tác.

Thứ tư, đất đai có vị trí cố định và chất lượng không đồng đều. Các tư liệu sản

xuất khác có thể di chuyển đến bất kỳ một nơi nào cần thiết, còn ruộng đất lại có vị

trí cố định gắn liền với điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội của mỗi vùng.

Đất đai có chất lượng không đồng đều giữa các khu vực. Chất lượng

không đồng đều của đất đai một mặt do quá trình hình thành đất ở mỗi khu vực

khác nhau, một mặt do quá trình canh tác, sử dụng của con người. Vì thế trong

quá trình sử dụng chúng ta cần phải không ngừng cải tạo, bồi dưỡng đất, không

ngừng nâng dần độ đồng đều của đất đai trên từng khu vực để đạt hiệu quả cao

trong sản xuất nông nghiệp.

1.1.3. Yêu cầu đặt ra đối với sử dụng đất nông nghiệp hiện nay

* Vấn đề suy thối đất nơng nghiệp

Nơng nghiệp là một ngành sản xuất chiếm tỷ trọng không nhỏ trong cơ

cấu kinh tế của nhiều nước trên thế giới. Đặc biệt ở các nước đang phát triển,

sản xuất lương thực không chỉ đảm bảo lương thực, thực phẩm cho con người

mà còn tạo ra sản phẩm xuất khẩu, thu ngoại tệ cho quốc gia.

10



Hiện nay, trên thế giới có khoảng 3,3, tỷ ha đất nơng nghiệp, trong đó đã

khai thác được 1,5 tỷ ha còn lại đa phần là đất xấu, sản xuất đất nơng nghiệp gặp

nhiều khó khăn (Ngơ Thế Dân, 2001). Bên cạnh đó, đất nơng nghiệp còn phải

đối mặt với hiện tượng suy thối khá trầm trọng, hiện tượng này có liên quan

chặt chẽ đến chất lượng đất và môi trường. Để đáp ứng được lương thực, thực

phẩm cho con người trong hiện tại và tương lai thì biện pháp được coi là hữu

hiệu nhất đó là thâm canh tăng năng suất cây trồng. Trong điều kiện hầu hết đất

canh tác trong khu vực đều bị nghèo về độ phì, đòi hỏi phải bổ sung cho đất một

lượng dinh dưỡng cần thiết – sử dụng phân bón.

Theo báo cáo của World Bank (1995), hàng năm mức sản xuất so với yêu

cầu sử dụng lương thực vẫn thiếu hụt từ 150 – 200 triệu tấn, trong khi đó vẫn có

từ 6 – 7 triệu ha đất nơng nghiệp bị loại bỏ do xói mòn. Trong 1200 triệu ha đất

bị thối hóa có tới 544 triệu ha đất canh tác bị mất khả năng sản xuất do sử dụng

không hợp lý.

Ở Việt Nam, các kết quả nghiên cứu đều cho thấy đất ở vùng trung du

miền núi đều nghèo các chất dinh dưỡng, để đảm bảo đủ chất dinh dưỡng đất

khơng bị thối hóa thì N, P là hai yếu tố cần phải được bổ sung thường xuyên

(FAO, 1993). Trong quá trình sử dụng đất do chưa tìm được các loại hình sử

dụng đất hợp lý hoặc chưa có cơng thức ln canh hợp lý cũng gây ra hiện tượng

thối hóa đất như: vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh dưỡng

kém lại khơng luân canh với các loại cây có độ dinh dưỡng cao. Trong điều kiện

nền kinh tế kém phát triển, người dân tập trung chủ yếu vào trồng cây lương

thực đã gây ra hiện tượng xói mòn, suy thối đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu

biết của con người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và

sử dụng thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều gây ảnh.

Hiện nay, những vấn đề về môi trường đã trở nên cấp thiết và nó được

chia làm hai loại chính: một loại gây ra bởi cơng nghệ hóa học và các kỹ thuật

hiện đại, một loại khác gây ra bởi lối canh tác tự nhiên. Hệ sinh thái vốn cân

bằng một cách mỏng manh rất dễ bị đảo lộn bởi các phương thức canh tác phản

tự nhiên, buộc con người phải chuyển hướng sản xuất nông nghiệp theo hướng

11



sử dụng tài nguyên bảo vệ môi trường, thỏa mãn các yêu cầu của các thế hệ

tương lai, đó là mục tiêu của việc xây dựng và phát triển nông nghiệp bền vững

và cũng là lối đi trong tương lai.

* Yêu cầu đặt ra đối với sử dụng đất nông nghiệp

Sử dụng đất nông nghiệp là một hệ thống các biện pháp nhằm điều hòa

mối quan hệ giữa người và đất trong tổ hợp với nguồn tài nguyên thiên nhiên

khác và môi trường. Sử dụng đất thuộc phạm trù hoạt động kinh tế của nhân

loại, trong mỗi phương thức sản xuất nhất định việc sử dụng đất theo yêu cầu

sản xuất và đời sống cần căn cứ vào thuộc tính tự nhiên của đất đai. Mặt khác,

sự vận động của đất đai ngoài việc chịu tác động của quy luật tự nhiên, nó còn

chịu sự tác động của quy luật kinh tế. Do vậy, trong quá trình sử dụng chúng ta

cần phải chú ý đến yêu cầu sau:

Một là, phải sử dụng một cách tiết kiệm các quỹ đất nông nghiệp, hạn chế

quy luật đất đai ngày càng khan hiếm và xu hướng giảm sút độ màu mỡ tự nhiên

của đất đai. Tổng quỹ đất là có hạn, trong khi đó dân số khơng ngừng tăng cùng

với sự phát triển ngày càng mạnh của các ngành phi nông nghiệp, việc sử dụng –

khai thác thiếu ý thức của con người cùng với việc đất đai bị rửa trơi, xói mòn

do mưa bão làm độ màu mỡ tự nhiên của đất đai có xu hướng giảm sút và ngày

càng kiệt quệ. Mặt khác, việc ứng dụng các tiến bộ khoa học cơng nghệ vào

canh tác ngồi những tác động tích cực làm tăng năng suất cây trồng thì nó lại

làm chất đất biến đổi, làm mất đi độ màu mỡ tự nhiên của đất đai. Chính vì vậy,

trong q trình sử dụng đất đai chúng ta cần phải sử dụng một cách tiết kiệm, sử

dụng đúng mức và cần phải luôn bồi dưỡng, cải tạo nhằm hạn chế tối đa sự giảm

sút màu mỡ tự nhiên của đất đai.

Hai là, cần tiếp tục đẩy mạnh công tác chuyển đổi đất đai nhằm tập trung

đất đai phục vụ yêu cầu phát triển của sản xuất hàng hóa. Từ đó tạo điều kiện

giảm bộ phận lao động tất yếu trong nông nghiệp sang các ngành kinh tế khác,

trước hết là ngành công nghiệp nhằm đẩy mạnh q trình cơng nghiệp hóa đồng

thời tác động thúc đẩy nơng nghiệp hàng hóa phát triển. Bên cạnh đó, khuyến

khích những người có khả năng và nguyện vọng kinh doanh nông nghiệp, phát

12



triển kinh tế trang trại, tạo điều kiện để người dân phát triển sản xuất theo quy

định của pháp luật.

Ba là, phải kết hợp chặt chẽ giữa khai thác với bảo vệ, bồi dưỡng và cải

tạo đất đai. Đất đai là tư liệu sản xuất chủ yếu khơng bị hao mòn và đào thải

khỏi q trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì đất đai sẽ ngày càng tốt hơn.

Bốn là, cần tăng cường sự quản lý của Nhà nước đối với đất đai. Trong

điều kiện nền kinh tế thị trường hiện nay, việc sử dụng đất sai mục đích rất nhiều

(như đất nơng nghiệp chuyển sang đất xây dựng, đất ở, đất chuyên dùng khác,

…). Do đó, để quỹ đất nơng nghiệp khơng bị rơi vào tình trạng ngày càng khan

hiếm thì Nhà nước cần phải có những biện pháp nhằm quản lý chặt chẽ quỹ đất

nơng nghiệp. Bên cạnh đó là hệ thống các biện pháp sử dụng đất để khắc phục

tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả.

1.1.4. Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp

Đất nông nghiệp là nguồn tài nguyên có hạn trong khi đó nhu cầu sử dụng

của con người ngày càng tăng, mặt khác đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp

do bị trưng dụng sang các mục đích khác. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp phải

đạt được mục tiêu nâng cao hiệu quả KT – XH trên cơ sở đảm bảo an ninh lương

thực, thực phẩm, tăng cường nguyên liệu cho công nghiệp và hướng tới sản xuất

hàng hóa, tận dụng tối đa lợi thế so sánh về điều kiện sinh thái, không làm ảnh

hưởng xấu đến môi trường là những nguyên tắc cơ bản và cần thiết đảm bảo

khai thác sử dụng bền vững tài ngun đất đai. Do đó, đất nơng nghiệp cần được

sử dụng theo nguyên tắc “đầy đủ, hợp lý và hiệu quả” phù hợp với điều kiện cụ

thể và hiệu quả của từng vùng (Luật đất đai, 2003).

Để sử dụng đất nông nghiệp một cách “đầy đủ, hợp lý, hiệu quả và bền

vững” chúng ta cần phải thực hiện các ngun tắc sử dụng đất nơng nghiệp vì:

- Sử dụng đất nông nghiệp hợp lý sẽ làm tăng nhanh khối lượng nơng sản

trên một đơn vị diện tích, xây cơ cấu cây trồng phù hợp với tiềm năng sẵn có

của từng địa phương, chế độ bón phân hợp lý góp phần bảo vệ độ phì nhiêu của

đất, bảo vệ môi trường.



13



- Sử dụng đất nông nghiệp sẽ là tiền đề để sử dụng có hiệu quả cao các

nguồn tài nguyên khác của từng vùng từ đó nâng cao mức sống của người dân,

quy mô sản xuất.

- Sử dụng đất nông nghiệp đầy đủ và hợp lý trong cơ chế kinh tế thị

trường phù hợp với quy luật tự nhiên của nó, và gắn với các chính sách vĩ mô

nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và phát triển nền nông nghiệp

bền vững (Ngô Thế Dân, 2001).

* Quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Dân số ngày càng gia tăng cùng với nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng

lớn đã gây ra áp lực đối với đất nơng nghiệp. Vì vậy, sử dụng đất nông nghiệp

khoa học và hợp lý là mục tiêu của con người. Trong quá trình sử dụng lâu dài

với nhận thức còn nhiều hạn chế dẫn tới nhiều vùng đất đang bị thối hóa, ảnh

hưởng tới mơi trường sống của con người. Những diện tích đất thích hợp cho

sản xuất nơng nghiệp ngày càng bị thu hẹp, do đó mà con người phải mở rộng

vùng đất canh tác trên các diện tích đất khơng thích hợp gây ra q trình thối

hóa, rửa trơi nghiêm trọng.

Vì vậy, phát triển nơng nghiệp bền vững sẽ vừa đáp ứng nhu cầu của hiện

tại, vừa đảm bảo nhu cầu của các thế hệ tương lai (Phạm Vân Đình, Đỗ Kim

Chung và cộng sự, 1997).

Theo Lê Văn Khoa (1997), để phát triển nông nghiệp bền vững cũng phải

loại bỏ ý nghĩ đơn giản rằng sản xuất nơng nghiệp, cơng nghiệp hóa sẽ đầu tư từ

bên ngồi vào. Để phát triển nơng nghiệp bền vững ở nước ta cần nắm vững

mục tiêu về tác dụng lâu bền của từng mơ hình để duy trì và phát triển đa dạng

sinh học. Và để duy trì được sự bền vững của đất đai Smith và Dumanski

(1993), đã đưa ra 5 nguyên tắc sử dụng đất bền vững là:

- Duy trì, nâng cao các hoạt động sản xuất

- Giảm mức độ rủi ro đối với sản xuất (an toàn)

- Bảo vệ tiềm năng các nguồn tài nguyên tự nhiên chống lại sự thối hóa

đối với chất lượng đất và nước (bảo vệ).

- Có hiệu quả lâu bền

14



- Được sự chấp nhận của xã hội

Năm nguyên tắc trên được coi là trụ cột của sử dụng đất đai bền vững và

là những mục tiêu cần phải đạt được. Tuy nhiên, nếu chỉ đạt một hay một vài

mục tiêu nêu trên thì khả năng của sự bền vững chỉ mang tính bộ phận.

Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là xây dựng một hệ thống ổn định về

mặt sinh thái, có tiềm lực về mặt kinh tế, có khả năng thỏa mãn nhu cầu của con

người mà khơng làm suy thối đất, không gây ô nhiễm môi trường. Nông nghiệp

bền vững sử dụng những đặc tính vốn có của cây trồng, vật nuôi, kết hợp với đặc

trưng của cấu trúc trên diện tích đất sử dụng một cách thống nhất. Nó là một hệ

thống mà nhờ đó con người có thể tồn tại được, sử dụng được nguồn lương thực và

tài nguyên phong phú của thiên nhiên mà không làm ảnh hưởng đến môi trường

sống.

Như vậy, vấn đề sử dụng đất đai thế nào cho hợp lý, bền vững là rất quan

trọng, nó được thể hiện trong nhiều hoạt động sản xuất và quản lý đất đai trên

từng vùng đề xác định theo nhu cầu và mục đích sử dụng của con người.

1.2. Cơ sở lý luận về hiệu quả

1.2.1. Khái niệm về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất nơng nghiệp

Có rất nhiều các quan điểm khác nhau nói về hiệu quả. Trước đây, người

ta cho rằng hiệu quả chính là kết quả, sau này nhận thấy rõ sự khác biệt giữa kết

quả và hiệu quả người ta mới hiểu rằng: hiệu quả chính là kết quả như yêu cầu

của công việc mang lại, cái mà con người mong đợi và hướng tới.

Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết

quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế. Nó được thể hiện qua lượng sản phẩm,

lượng giá trị thu được bằng tiền. Đồng thời về mặt xã hội, nó thể hiện hiệu quả

của lực lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng

như để khai thác đất hàng năm. Đối với ngành nông nghiệp, cùng với hiệu quả

kinh tế về giá trị và hiệu quả về mặt sử dụng lao động trong nhiều trường hợp

phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được

(như lương thực – thực phẩm, sản phẩm xuất khẩu, …) để đảm bảo cho sự ổn

định về mặt kinh tế - xã hội của đất nước.

15



Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện

pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi

thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong nhiều

hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nơng nghiệp với các ngành khác của nền kinh

tế quốc dân.

Sử dụng đất nơng nghiệp có hiệu quả cao thơng qua việc bố trí cơ cấu cây

trồng là một trong những vấn đề cấp thiết của hầu hết các nước trên thế giới. Nó

khơng chỉ thu hút sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà kinh doanh mà còn

là mong muốn của những người trực tiếp tham gia sản xuất.

Căn cứ vào nhu cầu của thị trường, thực hiện đa dạng hóa cây trồng vật ni

trên cơ sở lựa chọn các sản phẩm có ưu thế ở từng địa phương, từ đó nghiên cứu áp

dụng cơng nghệ mới nhằm làm cho sản phẩm có tính cạnh tranh cao.

Ngày nay, nhiều nhà khoa học cho rằng: xác định đúng khái niệm, bản

chất hiệu quả sử dụng đất phải xuất phát từ luận điểm triết học của Mác và

những nhận thức lý luận của lý thuyết hệ thống, nghĩa là hiệu quả phải được

xem xét trên ba mặt: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội, hiệu quả môi trường.

- Hiệu quả kinh tế

Theo C. Mác thì quy luật kinh tế đầu tiên trên cơ sở sản xuất tổng thể là

quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối một cách có kế hoạch thời gian lao

động theo các ngành sản xuất khác nhau.

Hiệu quả kinh tế được hiểu là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả

đạt được và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả

đạt được là phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là

phần giá trị của các nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xét cả về phần

so sánh tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai

đại lượng đó.

Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế mà trong đó sản xuất đạt hiệu quả kinh

tế và hiệu quả phân bổ. Điều đó có nghĩa là cả hai yếu tố hiện vật và giá trị đều

tính đến khi xem xét việc sử dụng các nguồn lực trong nông nghiệp. Nếu đạt được



16



một trong hai yếu tố kỹ thuật và phân bổ thì khi đó sản xuất mới đạt hiệu quả kinh

tế.

Bản chất của hiệu quả kinh tế sử dụng đất là trên một diện tích đất nhất

định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất, với một lượng đầu

tư chi phí về vật chất và lao động thấp nhất nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng

tăng về vật chất của xã hội để đạt được hiệu quả kinh tế cao.

- Hiệu quả xã hội

Hiệu quả xã hội là phạm trù có liên quan mật thiết với hiệu quả kinh tế và

thể hiện mục tiêu hoạt động kinh tế của con người, việc lượng hóa các chỉ tiêu

biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng

các chỉ tiêu mang tính định tính như tạo cơng ăn việc làm cho lao động, xóa đói

giảm nghèo, định canh, định cư, cơng bằng xã hội…

Trong sử dụng đất nông nghiệp, hiệu quả về mặt xã hội chủ yếu được xác

định bằng khả năng tạo việc làm trên một diện tích đất nơng nghiệp. Hiện nay,

việc đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất nông nghiệp là vấn

đề đang được nhiều nhà khoa học quan tâm.

- Hiệu quả môi trường

Hiệu quả mơi trường là một vấn đề mang tính tồn cầu, ngày nay đang

được chú trọng quan tâm và không thể bỏ qua khi đánh giá hiệu quả. Điều này

có ý nghĩa là mọi hoạt động sản xuất, mọi biện pháp khoa học kỹ thuật, … được

coi là có hiệu quả khi chúng khơng gây tổn hại hay có những tác động xấu đến

môi trường đất, môi trường nước và môi trường khơng khí cũng như khơng làm

ảnh hưởng xấu đến mơi sinh và đa dạng sinh học. Có được điều đó mới đảm bảo

cho một sự phát triển bền vững của mỗi vùng lãnh thổ, mỗi quốc gia.

Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả môi trường là hiệu quả mang tính

lâu dài, vừa đảm bảo lợi ích hiện tại mà khơng làm ảnh hưởng xấu đến tương lai,

nó gắn chặt với quá trình khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên đất và môi

trường sinh thái.

Sử dụng đất hợp lý, hiệu quả cao và bền vững phải quan tâm tới cả ba hiệu

quả trên, trong đó hiệu quả kinh tế là trọng tâm, khơng có hiệu quả kinh tế thì

17



khơng có điều kiện nguồn lực để thực thi hiệu quả xã hội và mơi trường, và ngược

lại khơng có hiệu quả xã hội và mơi trường thì hiệu quả kinh tế sẽ không bền

vững.

1.2.2. Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp

a. Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nơng nghiệp

* Nhóm yếu tố về điều kiện tự nhiên

Điều kiện tự nhiên (như đất, nước, khí hậu, thời tiết, vị trí địa lý, địa hình,

thổ nhưỡng, mơi trường sinh thái, nguồn nước… có ảnh hưởng trực tiếp đến sản

xuất nông nghiệp, các yếu tố này là tài nguyên để sinh vật tạo nên sinh khối.

Đặc điểm lý, hóa tính của đất trong sản xuất nông - lâm nghiệp, thành phần cơ

giới, kết cấu đất, hàm lượng các chất hữu cơ và vô cơ trong đất quyết định đến

chất lượng đất và sử dụng tài nguyên đất. Quỹ đất đai nhiều hay ít, tốt hay xấu

có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp. Bên cạnh đó,

nguồn nước và chế độ sử dụng nước là yếu tố rất cần thiết, nó vừa là điều kiện

quan trọng để cây trồng trao đổi chất dinh dưỡng vừa là vật chất giúp cho sinh

vật sinh trưởng và phát triển.

Vị trí địa lý của từng vùng cùng với sự khác biệt về điều kiện ánh sáng,

nhiệt độ, nguồn nước, gần đường giao thông, khu công nghiệp… sẽ quyết định

đến khả năng và hiệu quả sử dụng đất. Vì vậy, trong thực tiễn sử dụng nông –

lâm nghiệp cần tuân thủ quy luật tự nhiên, tận dụng các lợi thế sẵn có nhằm đạt

được hiệu quả cao nhất về mặt kinh tế, xã hội và mơi trường.

* Nhóm các yếu tố về điều kiện kinh tế, xã hội

Yếu tố điều kiện kinh tế, xã hội bao gồm rất nhiều nhân tố (như chế độ xã

hội, dân số, cơ sở hạ tầng, mơi trường chính sách…) có ý nghĩa quyết định, chủ

đạo đối với kết quả và hiệu quả sử dụng đất (Viện quy hoạch và thiết kế nông

nghiệp, 1995).

Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất nông – lâm nghiệp, đặc biệt là yếu tố giao

thơng vận tải, nó đã góp phần vào việc trao đổi tiêu thụ sản phẩm cũng như dịch

vụ, những yếu tố đầu vào cho sản xuất. Các yếu tố khác như thủy lợi, điện,

thông tin liên lạc, dịch vụ, nơng nghiệp đều có sự ảnh hưởng không nhỏ đến

18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×