Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.2: Năng lực cạnh tranh của CNHT ngành DMVN trong điều kiện hội nhập

Bảng 3.2: Năng lực cạnh tranh của CNHT ngành DMVN trong điều kiện hội nhập

Tải bản đầy đủ - 0trang

nền kinh tế Việt Nam khi đã gia nhập thị trường thế giới. Và Việt Nam rất cần vươn

lên để phát triển khâu đầu cũng như là khâu cuối trong chuỗi giá trị toàn cầu, nghĩa

là tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu & phát triển - sở hữu trí tuệ, thương hiệu và

thương mại. Đó cũng chính là sự lựa chọn tất yếu để thoát khỏi tụt hậu và lệ thuộc.

Tham gia vào chuỗi giá trị tồn cầu khơng chỉ là “đồ trang sức” hợp thời, mà chính

là quy luật tất yếu của thời hội nhập.

3.1.3. Định hướng phát triển DMVN đến năm 2020.

3.1.3.1. Chiến lược phát triển.

Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng

điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước;

tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc

kinh tế khu vực và thế giới.

Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng tạo sự phát triển bền

vững của ngành DMVN.

Phát triển ngành Dệt may theo hướng chun mơn hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo

ra bước nhảy vọt về chất và lượng của sản phẩm, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn

định, bền vững, hiệu quả.

Phát triển tối đa thị trường nội địa đồng thời với việc mở rộng thị trường xuất

khẩu; lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành.

Phát triển thị trường thời trang Việt Nam tại các đô thị, thành phố lớn. Chuyển

dịch mạnh các cơ sở Dệt may sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thơn.

Đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa quy mơ và loại hình DN; huy động mọi

nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển ngành DMVN.

Phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu dệt

may, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của ngành

3.1.3.2. Mục tiêu phát triển DMVN đến năm 2020.

Nhằm tạo được bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm,ngành DMVN đã có

chiến lược phát triển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 theo hướng

chuyên môn hóa, hiện đại hóa. Trong đó, mục tiêu phát triển ngành dệt may thành

một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu ; thỏa mãn

ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước,tạo nhiều việc làm cho xã hội và nâng

cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.



Trong giai đoạn này, các DN dệt may cố gắng phát triển bền vững, đạt hiệu

quả cao trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao

động, quản lý môi trýờng theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ ðó, ngành ðề ra các mục tiêu

tãng trýởng sản xuất bình quân :đạt 16% đến 18% (2008 -2010); 12% đến 14%

(2011- 2015); 12% đến 14% (2016 - 2020)

Bên cạnh việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu

tư phát triển cho ngành dệt may, tồn ngành cố gắng mở rộng việc xuất khẩu trong

đó phấn đấu :

Giai đoạn 2008 – 2010: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 12,0 tỷ USD vào năm 2010.

Giai đoạn 2011 đến 2015: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 18 tỷ USD vào năm 2015.

Giai đoạn 2016 đến 2020: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.

Ngoài ra ngành dệt may sẽ tập trung phát triển và nâng cao năng lực về

nguồn nhân lực, nguồn ngun, phụ liệu để có nguồn nhân lực chun mơn cao, tạo

nên sản phẩm chất lượng cao gắn với thương hiệu uy tín; có thể phát triển được

khoa học kĩ thuật đồng thời bảo vệ được môi trường; đầu tư để sản xuất và nguyên

phụ liệu gắn liền với hợp tác quốc tế; cung ứng nguyên phụ liệu bằng việc xây các

trung tâm cung ứng tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn, thu

hút đầu tư nước ngoài và nội địa để đầu tư sản xuất các sản phẩm hố chất (xơ, sợi,

hóa chất…).

Bảng 3.3: Dự báo tốc độ tăng trường ngành dệt may đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng



Giai đoạn 2008-2010 Giai đoạn 20112020

- Tăng trưởng sản xuất hàng năm

16 - 18 %

12 - 14 %

- Tăng trưởng xuất khẩu hàng

20 %

15 %

năm

( Nguồn : Quy hoạch phát triển ngành DMVN đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020)

Bảng 3.4: Các chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành DMVN đến

năm 2015, định hướng đến năm 2020 như sau:



Đơn vị

Thực hiện Mục tiêu tồn ngành đến

tính

2006

2010

2015

2020

1. Doanh thu

triệu USD 7.800

14.800 22.500

31.000

2. Xuất khẩu

triệu USD 5.834

12.000 18.000

25.000

3. Sử dụng lao nghìn

2.150

2.500

2.750

3.000

động

người

4. Tỷ lệ nội địa hoá %

32

50

60

70

( Nguồn : Quy hoạch phát triển ngành DMVN đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020)

Chỉ tiêu



3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển ngành CNHT dệt may

3.2.1. Định hướng phát triển ngành CNHT dệt may Việt Nam.

Đứng trên góc độ kinh tế, mặc dù nếu so sánh về lợi thế tuyệt đối, ngành

DMVN còn kém nhiều so với một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ. Song, nếu so

sánh về lợi thế tương đối thì DMVN có khả năng cạnh tranh với các nước trên thế

giới.



Biểu đồ 3.1: Lợi thế so sánh ngành DMVN so với các nước



Trên cơ sở đánh giá triển vọng phát triển ngành DMVN trong thời gian tới,

Nhà nước cần đề ra định hướng phát triển toàn diện ngành may và CNHT cho

ngành ngành này (ngành dệt).

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, việc phát triển CNHT không thể thực hiện

theo cách dàn trải cho tất cả các ngành, mà cần phải phân chia thành các nhóm

ngành để xác định hướng đi thích hợp với những trọng tâm trong từng giai đoạn

phát triển. Căn cứ vào trình độ phát triển hiện tại và những điều kiện cần bảo đảm

để phát triển CNHT, có thể xác định phương hướng phát triển CNHT cho ngành dệt

may của Việt Nam như sau:

Thứ nhất, phát triển mạnh các ngành CNHT có nhu cầu lớn, trình độ cơng

nghệ khơng cao, mức đầu tư thấp và có thể phát triển ở các DN vừa và nhỏ. Đó là

các cơ sở sản xuất các loại bao bì, nhãn mác được sử dụng rộng rãi cho ngành công

nghiệp hạ nguồn là ngành may mặc.

Thứ hai, đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới cơng nghệ theo hướng hiện đại

hố, mở rộng qui mô sản xuất cho các cơ sở sản xuất ngun phụ liệu có nhu cầu

lớn, trình độ cơng nghệ phức tạp, mà việc đầu tư mới đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời

hạn xây dựng dài, đó là các nhà máy hiện có trong cơng nghiệp sợi dệt, chỉ khâu,

khoá kéo,…

Thứ ba, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đầu tư phát triển các ngành

CNHT có nhu cầu lớn, trình độ cơng nghệ phức tạp, mức đầu tư lớn, thời hạn xây

dựng dài, đó là các DN vải sợi cao cấp và phụ liệu khác của công nghiệp may mặc.

Thứ tư, trong ngắn hạn vẫn tập trung phát triển và nâng cao chất lượng hàng

gia công, trong dài hạn phát triển CNHT để chuyển dần từ gia công sang hình thức

FOB. Khi nhu cầu trong nước đối với các sản phẩm thượng nguồn tăng trưởng đáng

kể thì chắc chắn những hoạt động thượng nguồn sẽ trở thành địa điểm hấp dẫn đầu

tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài.

3.2.2. Mục tiêu phát triển.

Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu

hàng may mặc. Giảm tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu cho ngành dệt may trong nước

tiến tới xuất khẩu nguyên liệu. Với các định hướng cụ thể như kêu gọi các nhà đầu

tư trong và ngoài nước đầu tư sản xuất xơ sợi tổng hợp, nguyên phụ liệu, phụ tùng

thay thế và các sản phẩm hỗ trợ để cung cấp cho các DN trong ngành. Xây dựng

Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu. Tập đoàn DMVN giữ vai trò nòng cốt

thực hiện Chương trình này. Xây dựng Chương trình phát triển cây bơng, trong đó



chú trọng xây dựng các vùng trồng bơng có tưới nhằm tăng năng suất và chất lượng

bông xơ của Việt Nam để cung cấp cho ngành dệt.

Bảng 3.5: Các chỉ tiêu sản phẩm hỗ trợ chủ yếu trong Chiến lược phát triển

ngành DMVN đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 như sau:

Mục tiêu tồn ngành đến

Đơn vị

Thực hiện

tính

2006

2010

2015

2020

- Bơng xơ

1000 tấn

8

20

40

60

- Xơ, Sợi tổng hợp 1000 tấn

120

210

300

- Sợi các loại

1000 tấn

265

350

500

650

- Vải

triệu m2

575

1.000

1.500

2.000

- Sản phẩm may

triệu SP

1.212

1.800

2.850

4.000

( Nguồn : Quy hoạch phát triển ngành DMVN đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020)

3.3. Giải pháp phát triển ngành CNHT ngành dệt may Viêt Nam.

3.3.1. Giải pháp đối với chính phủ.

3.3.1.1. Có định hướng phát triển hợp lý ngành CNHT.

Định hướng này làm cơ sở để đầu tư phát triển ngành và điều chỉnh, bổ sung

các chính sách có liên quan, thể hiện qua các quy hoạch tổng thể phát triển từng

ngành công nghiệp. Điều quan trọng trong quy hoạch này là phải phân tích tồn

diện các quan hệ liên ngành và đưa ra quan điểm hợp lý trong việc xử lý các quan

hệ đó. Việc khép kín sản xuất trong nước khơng thích hợp, song chỉ xử lý bằng việc

nhập khẩu nguyên phụ liệu từ bên ngồi cũng khơng phải là một giải pháp lâu dài.

Vấn đề quan trọng là trong dài hạn cần xác định loại nguyên phụ liệu nào có thể

nhập khẩu từ các nước có cơng nghệ tiến tiến hơn, hoặc theo các quan hệ kinh tế ổn

định trước đó, còn loại ngun liệu nào cần và có thể đầu tư trong nước thì nên tập

trung vốn và chuyển giao công nghệ để nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm

khi xuất khẩu ra nước ngoài.

3 3.1.2.Tăng cường liên kết giữa các DN.

Liên kết sản xuất kinh doanh diễn ra giữa các DN FDI với DN trong nước,

giữa DN lớn với DN nhỏ, giữa nhà cung cấp sản phẩm hỗ trợ với DN sản xuất.

Tham gia vào liên kết, các DN có thể chia sẻ nguồn lực phát triển, hỗ trợ sản xuất,

và giảm thiểu chi phí so với khi DN sản xuất độc lập … Vì thế, phát triển liên kết

DN được coi là một giải pháp quan trọng đã được nhiều nước sử dụng để thúc đẩy

Sản phẩm chính



CNHT. Ở Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan đã phát triển liên kết giữa các nhà sản

xuất nhỏ với các DN lớn, còn ở Thái Lan, Malaysia lại nỗ lực thúc đẩy liên kết giữa

nhà cung cấp trong nước với các cơng ty nước ngồi. Đối với VIệt Nam, cần kết

hợp nhiều liên kết để thúc đẩy ngành CNHT dệt may phát triển.

Trong liên kết DN, các tổ chức hiệp hội chuyên ngành, các tổ chức chính phủ

và phi chính phủ có ảnh hưởng rất lớn. Do đó, để tổ chức có hiệu quả việc liên kết

kinh doanh, trước hết cần củng cố và nâng cao vai trò hoạt động của các hiệp hội và

tổ chức này.

Chính phủ chỉ nên đóng vai trò là chất xúc tác để tạo điều kiện và thúc đẩy

liên kết DN, cụ thể : Chính phủ sẽ thúc đẩy các liên kết thông qua hỗ trợ kỹ thuật, tư

vấn quản lý và hỗ trợ tài chính. Khi đó các DN lớn, DN FDI hoặc các nhà sản xuất

đóng vai trò như các hạt nhân của liên kết sẽ tham gia liên kết vì nhận được các ưu

tiền, hỗ trợ trên; còn các DN nhỏ, các DN trong nước, các DN hỗ trợ đóng vai trò

như các vệ tinh trong hệ thống tham gia liên kết vì muốn nâng cao hiệu quả sản

xuất, trình độ quản lý và đảm bảo thị trường tiêu thụ của mình.

3.3.1.3. Hồn thiện cơ chế chính sách nội địa hóa.

Một là, thực hiện hợp lý chính sách “nội địa hố” với các biện pháp hỗ trợ cần

thiết. Chính sách này, một mặt tạo áp lực trực tiếp tới các nhà sản xuất hạ nguồn tìm

và trợ giúp các nhà sản xuất trong nước đáp ứng yêu cầu của mình; mặt khác, khơng

đưa các DN hạ nguồn vào thế bế tắc dẫn đến đình đốn sản xuất, mất thị trường của

họ. Chính sách “nội địa hố” phải được đi kèm với chính sách hạn chế nhập khẩu

sản phẩm hồn chỉnh và các nguyên phụ liệu nằm trong danh sách phải được “nội

địa hoá”.

Hai là, thực hiện chiến lược phát triển thị trường nội địa. Nhà nước phải tạo ra

một môi trường kinh doanh thuận lợi cho DN trong nước phát triển thị trường nội

địa, quan tâm giải quyết các vướng mắc, tăng cường công tác quản lý thương mại

biên giới với Trung Quốc, đẩy mạnh cơng tác phòng chống buôn lậu tại các chợ đầu

mối biên giới nhằm làm giảm đến mức thấp nhất có thể hiện tượng bn lậu trốn

thuế. Có chính sách thích hợp để thu hút đầu tư của Trung Quốc trong công nghiệp

may mặc cũng như trong phát triển ngành dệt, tạo nguyên liệu cho ngành may phát

triển, đồng thời qua đó học tập được kinh nghiệm trong sản xuất và quản lý của họ.

Với ngành may, cần xác lập và tổ chức có hiệu quả các quan hệ liên ngành. Trên cơ

sở qui hoạch tổng thể của “Chiến lược tăng tốc ngành DMVN đến năm 2010”, cần



tiếp tục phát triển vùng nguyên liệu, điều chỉnh cơ cấu sản phẩm phù hợp với nhu

cầu trong nước.

3.3.1.4. Hồn thiện chính sách đầu tư.

Các nước ASEAN đi trước đã thực hiện thu hút đầu tư nước ngoài có lựa chọn

để hướng FDI vào CNHT. Họ thực hiện nhiều biện pháp khuyến khích về thuế, thiết

lập các khu thương mại tự do nhằm thực hiện chiến lược định hướng xuất khẩu.

Việc thu hút đầu tư nước ngoài vào phát triển CNHT dệt may có ý nghĩa rất lớn,

một mặt nó góp phần mở rộng quy mơ của ngành CNHT dệt may, tức là mở rộng

khả năng cung cấp sản phẩm hỗ trợ dệt may nội địa, mặt khác quan trọng hơn đó là

cơng nghệ tiên tiến và trình độ quản lý cao sẽ được chuyển giao vào trong nước,

đây mới là động lực chính thức đẩy sự phát triển của ngành CNHT dệt may. Chính

phủ cần quan tâm hỗ trợ bằng các chính sách hữu hiệu về chuyển giao cơng nghệ,

bảo vệ bản quyền, sở hữu trí tuệ … đồng thời, có nhiều chính sách ưu tiên khác,

như : giảm mức đầu tư yêu cầu tối thiểu để thu hút đầu tư từ các DN nhỏ và vừa từ

nước ngoài ( kinh nghiệm của Thái Lan); hoặc trợ cấp thuế đầu tư, gồm việc miễn

thuế trong 5 năm và thuế DN áp ở mức 15 – 30% doanh thu như kinh nghiệm của

Malaysia.

Nhà nước cần tạo môi trường hấp dẫn thu hút đầu tư trực tiếp nước ngồi,

thơng qua việc tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao chất lượng cơ sở hạ

tầng, cải cách thủ tục hành chính theo hướng ngày càng tinh giản và gọn nhẹ, duy

trì cơ chế “một cửa” nhằm tạo sự công bằng và điều kiện thuận lợi trong việc xin

giấy phép đầu tư của các nhà đầu tư nước ngoài. Sửa đổi Luật đầu tư theo hướng

ngày càng thơng thống hơn để thu hút được nguồn vốn đầu tư không những từ

nước ngồi như vốn ODA của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế, nguồn vốn

thông qua liên doanh liên kết, mà còn huy động được nguồn vốn từ nhiều nguồn

trong nước như: vốn từ ngân sách, vốn từ các địa phương, vốn tự có trong dân, vốn

kiều hối từ Việt Kiều cho lĩnh vực này.

Ngoài ra, nên bổ sung các chính sách ưu đãi đầu tư vào phát triển CNHT xuất

phát từ thực tế là đầu tư vào khu vực CNHT có những khó khăn và phức tạp hơn

đầu tư vào khu vực hạ nguồn. Các chính sách ưu đãi đầu tư này bao gồm: ưu đãi tín

dụng, ưu đãi nhập khẩu nguyên phụ liệu, về thuế thu nhập DN, VAT…Đa dạng hoá

các nguồn đầu tư vào phát triển CNHT, trong đó phải coi đầu tư ngồi Nhà nước và

FDI các nguồn đầu tư chủ yếu.

3.3.1.5. Về chính sách khuyến khích xuất khẩu mở rộng thị trường.



Thị trường là yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của ngành CNHT dệt

may. Vì vậy, cần có những biện pháp phù hợp để phát triển thị trường tiêu thụ của

các sản phẩm hỗ trợ dệt may.

Trong giai đoạn từ nay đến 2015, CNHT DMVN chưa thể tạo ra được thị

trường xuất khẩu, do đó cần tập trung vào khai thác thị trường trong nước, đồng

thời chuẩn bị những tiền đề cơ bản cho xuất khẩu ở giai đoạn tiếp theo.

Trong thời gian tới, những Luật thuế cần được hồn thiện theo hướng linh hoạt

và có hiệu quả như: miễn giảm thuế thu nhập DN, thuế giá trị gia tăng xuống thấp

hơn nữa cho các DN dệt (đặc biệt là DN có vốn đầu tư nước ngồi), hồn thuế nhập

khẩu nguyên phụ liệu…theo hướng giảm bớt mức độ bảo hộ, tăng cường tính sáng

tạo, thúc đẩy nâng cao sức cạnh tranh của DN, tận dụng nguyên liệu trong nước để

nâng cao tỷ lệ hàng xuất khẩu theo hình thức FOB, xuất khẩu sang thị trường mới,

thị trường phi hạn ngạch, khai thác các thị trường còn “bỏ ngỏ”. Để cụ thể hố giải

pháp này, Bộ Thương mại có thể chuyển tất cả tỷ lệ phần trăm của các mặt hàng,

những cat. có giá trị tính theo qui đổi đơn giá FOB cao để đạt được hiệu quả tối đa

trên từng mét vng của chủng loại thấp sang nhóm chủng loại hàng tính qui đổi ra

mét vng với đơn giá FOB cao để đạt được hiệu quả tối đa trên một lượng hạn

ngạch cố định.

Ngồi ra, Nhà nước có thể trợ giúp các DN CNHT nâng cao năng lực cạnh

tranh thông qua các hoạt động nghiên cứu khoa học và công nghệ, thiết kế mẫu mã

thời trang nhằm sản xuất những sản phẩm có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của

ngành may.

Nhà nước cần tạo điều kiện, khuyến khích tối đa các DN dệt may trong nước

sử dụng các sản phẩm hỗ trợ nội địa, nhưng hạn chế sử dụng các biện pháp hành

chính để điều tiết dung lượng thị trường nội địa.

Có thể áp dụng mức thuế ưu đãi với các loại phụ loại sản phẩm hỗ trợ trong

nước phục vụ cho các DN may xuất khẩu để thúc đẩy các DN dệt may sử dụng

nhiều hơn các sản phẩm có nguồn gốc nội địa.

Trợ giúp về ngân sách ban đầu cho việc thành lập và hoạt động một số trang

web chuyên ngành CNHT dệt may để hỗ trợ việc xúc tiến đầu tư – phát triển và

cung cấp thông tin.

Hỗ trợ kết nối giữa các DN thuộc nhiều thành phần kinh tế khác nhau, đặc biệt

là giữa các DN FDI với các nhà cung cấp nội địa.

Bảo vệ thị trường trong nước thông qua các biện pháp chống gian lận thương



mại, hàng giả, hàng nhập lậu.

3.3.1.6. Về chính sách đào tạo cán bộ và nhân lực.

Các ngành CNHT thường có yêu cầu cao về chất lượng lao động, vì thế các

giải pháp về giáo dục đào tạo nghề, trình độ quản lý có ý nghĩa quan trọng và là

động lực thúc đẩy phát triển CNHT. Nhà nước cần khắc phục tình trạng thiếu kĩ sư

cũng như cán bộ quản trị DN dệt may trầm trọng như hiện nay, mặc dù tình trạng

này có thể kéo dài trong nhiều năm tới. Để có nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu cho

CNHT Việt Nam cần tập trung giải quyết các vấn đề sau :

Nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, dạy nghề tối thiểu đạt mặt bằng khu

vực.

Mở rộng hình thức đào tạo tại chỗ, gắn kết việc đào tạo với việc sử dụng lao

động.

Khuyến khích các DN lớn, các DN FDI tổ chức đào tạo lực lượng lao động

cho mình và các DN khác.

Các trung tâm đào tạo cần xây dựng các chương trình hợp tác với nước ngồi

để đào tạo kỹ sư, cơng nhân lành nghề, đặc biệt là các kỹ sư, công nhân của ngành

công nghiệp chế biến dầu khi ( cơng nghiệp hóa dầu ) và cơ khí, hóa chất. Đầu tư

xây dựng các trường dạy nghề, đào tạo công nhân kĩ thuật đáp ứng yêu cầu sản xuất

theo dây chuyền hiện đại, nhằm tạo được một đội ngũ cơng nhân có tay nghề cao,

thực sự trở thành thế mạnh của DMVN.

Một điểm rất yếu của các nhà sản xuất hỗ trợ dệt may là khả năng tiếp cận thị

trường và các nhà tiêu thụ, một phần do những hạn chế về marketing và kỹ năng

bán hàng, vì thế cần cung cấp các khóa đào tạo về kỹ năng bán hàng, đào tạo các

nhà marketing chuyên nghiệp.

Đồng thời ưu tiên đào tạo các chuyên gia về thiết kế mẫu thời trang và

marketing, khắc phục điểm yếu cơ bản của ngành may xuất khẩu là trong khâu thiết

kế mẫu mã và xúc tiến mở rộng thị trường, từng bước tạo lập cơ sở để chuyển hình

thức xuất khẩu từ gia cơng sang FOB, sản xuất các sản phẩm mang thương hiệu

Việt Nam. Bên cạnh đó, cần có chính sách cụ thể về tiền lương, bảo hiểm xã hội,

bảo hiểm y tế nhằm đảm bảo công ăn việc làm, tạo thu nhập ổn định cho người lao

động trong ngành may, khắc phục tình trạng thiếu kỹ sư, công nhân lành nghề bậc

cao do bị thu hút sang các cơng ty liên doanh, cơng ty có vốn đầu tư nước ngoài.

3.3.2. Giải pháp đối với các DN trong nước.

3.3.2.1. Xây dựng chiến lược phát triển trong dài hạn cho doanh nghiệp.



Đây là một trong những vấn đề quan trọng nhất đối với sự phát triển của DN

trong tương lai. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều biến động, các DN phải tự thiết lập

cho mình những kế hoạch dài hạn, theo đó đưa ra những dự báo về thị trường, về

khách hàng, về xu thế thời trang thế giới, vè sự thay đổi của tỷ giá hối đối...Muốn

thực hiện những chiến lược đó một cách có hiệu quả, DN cần tập trung vốn vào đầu

tư công nghệ, chun mơn hố dây chuyền sản xuất theo mặt hàng tin học hoá

phương thức quản lý, kết hợp chặt chẽ với các DN khác trong nội bộ ngành để tăng

hiệu suất lao động cũng như chất lượng sản phẩm, tăng sức cạnh tranh với các nước

trong khu vực và trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan…

3.3.2.2. Nâng cao hoạt động tổ chức sản xuất.

Đây là một vấn đề rất quan trọng mà theo đó đòi hỏi phải có sự liên kết chặt

chẽ giữa ngành dệt và ngành may, tạo thành một khối thống nhất và một dây chuyền

sản xuất khép kín, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm xuất khẩu. Đối với ngành

may, cần đặt trọng tâm vào việc chuyển đổi phương thức xuất khẩu từ gia công sang

FOB để sử dụng nhiều hơn nguyên liệu trong nước, thúc đẩy ngành dệt phát triển

Muốn vậy, ngành may cần đầu tư vào công tác thiết kế thời trang, xây dựng lực

lượng đàm phán và tổ chức sản xuất theo phương thức FOB. Còn ngành dệt cần đặt

trọng tâm vào các nhà máy nhuộm và hoàn tất vì các nhà máy này sẽ quyết định

việc cung cấp vải cho các nhà máy may. Nếu các nhà máy nhuộm và hồn tất được

quản lý tốt, họ sẽ có một lợi thế rất lớn mà không một công ty nước ngồi nào có

thể cạnh tranh được. Vải từ nước ngồi sẽ khơng được nhập khẩu vào bởi các nhà

máy này nằm trong lòng thị trường nội địa, cho dù giá có cao hơn một chút nhưng

nếu các nhà máy dệt nhuộm trong nước cung cấp đúng chất lượng, đúng tiến độ thì

khách hàng vẫn mua vải trong nước.

3.3.2.3. Nâng cao trình độ cơng nghệ.

Cũng như nhiều ngành cơng nghiệp khác, trình độ cơng nghệ có ảnh hưởng

trực tiếp tới năng suất, chất lượng và sự phát triển của ngành CNHT dệt may.

Thực tế, trình độ cơng nghệ của ngành CNHT DMVN hiện nay còn ở mức thấp,

năng lực quản lý khơng cao, vì thế chưa có khả năng sản xuất dược những sản

phẩm chất lượng cao, như các loại thuốc nhuộm, các loại xơ sợi tổng hợp, các

máy móc thiết bị phức tạp … Do đó, muốn đẩy nhanh sự phát triển của ngànhc

ông nghiệp hỗ trợ dệt may, phải quan tâm rất lớn đến việc đổi mới công nghệ

để nâng cao năng lực sản xuất, tạo ra những sản phẩm mới chất lượng cao, giá

cả cạnh tranh.



Trước hết, có thể tiếp tục sử dụng các máy móc thiết bị vẫn còn khả năng sản

xuất. Bởi trong những năm tới, chúng ta vẫn chưa có đủ nguồn vốn để có thể đầu tư

mới đồng loạt các thiết bị cơng nghệ tiên tiến. Mặt khác, việc đào tạo cán bộ, cơng

nhân để tiếp thu cơng nghệ.mới và sử dụng có hiệu quả các thiết bị cũng cần có thời

gian. Tất nhiên, việc đầu tư thiết bị công nghệ mới là tất yếu, nhưng nó sẽ được thực

hiện từng bước, đồng thời với việc thanh lý các thiết bị công nghệ cũ.

Bên cạnh đó, đẩy nhanh đầu tư, ứng dụng cơng nghệ mới vào sản xuất, nhằm

đáp ứng những đòi hỏi của thịt rường. Để làm được điều này, cần thực hiện đồng bộ

một số giải pháp:

Cần xây dựng cơ chế tài chính hợp lý hơn và đãi ngộ thỏa đáng đối với những

người có năng lực cơng nghệ hoạt động cơng nghệ thực sự. Có cơ chế xây dựng, xét

duyệt và đánh giá khách quan giá trị của các đề tài nghiên cứu khoa học, các

3.3.2.4. Khai thác thị trường trong và ngoài nước.

Giải pháp này nếu được thực hiện tốt một mặt sẽ tăng kim ngạch xuất khẩu

hàng dệt may, mặt khác góp phần mở rộng qui mơ thị trường khu vực hạ nguồn cho

CNHT. Điều quan trọng là DN cần tìm hiểu kĩ thơng tin về thị trường mà DN định

hướng tới, những rào cản thương mại mới, nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng, các

qui định của Chính phủ, nhất là các thị trường có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt

may lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản…

Trong điều kiện Việt Nam hầu hết là các DN nhỏ và vừa thì làm thế nào để chủ

động liên hệ với khách hàng mà khơng mất nhiều chi phí cho việc tìm kiếm đối tác.

Lúc này, việc tăng cường sử dụng thương mại điện tử là rất cần thiết. Hoạt động này

nhằm quảng bá, giới thiệu sản phẩm của mình khơng chỉ đối với một nhóm khách

hàng, một nhóm thị trường định hướng tới, mà thơng qua đó, những khách hàng có

nhu cầu có thể tự liên hệ, tìm đến mua sản phẩm dệt may của DN Việt Nam. Điều

này sẽ mang lại hiệu quả cao và có tính chất lâu dài đối với chiến lược phát triển

của từng DN. Thêm vào đó, các DN nên tìm cách tận dụng tối đa lực lượng Việt

Kiều để họ làm đầu mối giao dịch cho mình.

Để mở rộng được thị trường DN phải năm vững và xử lý tốt những yêu cầu của thị

trường.

Một đặc điểm là các DN CNHT nói chung, CNHT dệt may của Việt Nam nói

riêng ít được các nhà sản xuất, lắp ráp ( đặc biệt là các nhà sản xuất nước ngoài) biết

đến, mối liên hệ giữa các nhà cung cấp sản phẩm hỗ trợ dệt may với các DN dệt

may trong nước còn rất yếu. Vì thế, để đẩy mạnh tiêu thụ trong nước, các DN hỗ trợ



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.2: Năng lực cạnh tranh của CNHT ngành DMVN trong điều kiện hội nhập

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×