Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP BỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020.

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP BỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020.

Tải bản đầy đủ - 0trang

hoá tới 90%. Lực lượng lao động của Việt Nam dồi dào, có kỹ năng và tay nghề

may tốt, có kỷ luật, chi phí lao động còn thấp so với nhiều nước. Có khả năng sản

xuất được các loại sản phẩm phức tạp, chất lượng cao, được phần lớn khách hàng

khó tính chấp nhận. Nguồn lao động dồi dào với số lượng tham gia ngày càng tăng,

dễ đào tạo, giá công nhân thuộc loại rẻ nhất trên thế giới: VN, Trung Quốc,

Inđônêsia , Bangladesh và Campuchia: 0,3-0,6 USD/giờ. Với đặc điểm của ngành

dệt may là cần nhiều lao động, đây sẽ là yếu tố giúp chúng ta giảm giá thành sản

phẩm tăng sức cạnh tranh, đẩy mạnh sản xuất, nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu

mã. Tiết kiệm được chi phí từ nhân cơng sẽ có cơ hội để đầu tư vào cơng đoạn sản

xuất khác góp phần hồn thiện sản phẩm cũng như đầu tư vào lĩnh vực kinh doanh

khác để thu lợi nhuận cao.



Bảng 3.1: Mức lương trung bình của ngành dệt may ở một số nước

Đơn vị: USD/h

Đài

Loa

n

5



Hàn Hồng

Thái

Ấn

Singapore Malaysia

Philippin

Quốc Kông

Lan

Độ



Trung Indonesi

Quốc a



Việt

Nam



3,6

3,39 3,16

0,95

0,87 0,67

0,54 0,34

0,23

0,18

(Nguồn: Vinatex)

3.1.1.2. Lợi thế về thị trường tiêu thụ.

Cuộc sống càng phát triển, thu nhập càng tăng thì yêu cầu làm đẹp của con

người càng cao, do đó khả năng phát triển của ngành may mặc thế giới nói chung và

ngành may của Việt Nam nói riêng là rất lớn.

Dân số Việt Nam đông sẽ cung cấp một nhu cầu lớn cho ngành may mặc Việt

Nam. Thị trường nội địa với 84 triệu dân, mức sống ngày càng được nâng cao. Mức

sống và thu nhập của người dân ngày càng tăng lên sẽ khiến cho nhu cầu đối với

các sản phẩm may mặc ngày càng tăng, đặc biệt là các sản phẩm trung và cao cấp.

Xu hướng thời trang cũng như thị hiếu của người tiêu dùng ngày một tăng cao và

không ngừng thay đổi sẽ tạo cơ hội cho ngành dệt may không ngừng nâng cao chất

lượng, cải tiến mẫu mã, tăng sức sáng tạo, tạo trào lưu và mốt mới cho thời trang

trong nước và có cơ hội cạnh tranh với nước ngồi.

Bên cạnh đó DMVN ngày càng được mở rộng thị trường ra thế giới do hàng

may mặc của Việt Nam ngày càng nhận được sự tín nhiệm của các nước nhập khẩu



(Mỹ, EU, Nhật Bản…) do chất lượng sản phẩm cao nên sẽ có thể mở rộng hơn thị

phần xuất khẩu cũng như tăng giá trị xuất khẩu. Nhiều nhà nhập khẩu trên thế giới

nhận định rằng sản phẩm của VN sẽ có khả năng cạnh tranh khơng thua kém bất cứ

nước nào, về mặt chất lượng cũng đã nổi trội chẳng hạn như mặt hàng sơ mi dệt kim

(cat 338, 339) Việt Nam hiện là nước xuất khẩu mạnh nhất vào thị trường Mỹ. Đặc

biệt là năng lực cạnh tranh mặt hàng sơ mi của Việt Nam hiện nay đang đứng số 1

thế giới, còn xuất lớn hơn cả Trung Quốc. Với thị trường EU, triển vọng tăng giá trị

xuất khẩu của các DN Việt Nam cũng rất lớn khi các DN Việt Nam thoả mãn được

những yêu cầu về môi trường của thị trường này. Đây là những điều kiện thuận lợi

cho sự phát triển của ngành DMVN trong thời gian tới.

3.1.1.3. Lợi thế về môi trường chính sách và vốn đầu tư.

Việt Nam được đánh giá là điểm đến ổn định về chính trị, an toàn về xã hội,

đang hấp dẫn các thương nhân và nhà đầu tư nước ngoài đến đầu tư và làm ăn.

Ngành may mặc trong thời gian tới được coi là ngành ưu tiên và khuyến khích phát

triển nên sẽ nhận được những nguồn vốn đầu tư lớn cả trong và ngoài nước Các DN

may Việt Nam ngày càng chú trọng đến việc đầu tư cho năng lực sản xuất và thiết

kế, hứa hẹn sự gia tăng về giá trị của các sản phẩm may mặc Việt Nam trong thời

gian tới. Các DN may đang thực hiện liên kết với các trường và viện nhằm đào tạo

nguồn nhân lực phù hợp có chất lượng cao, qua đó giúp các DN may chuẩn bị

những điều kiện sẵn sàng để thực hiện xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng thiết

kế cao hoặc thực hiện những đơn hàng giá cao nhằm thu giá trị xuất khẩu lớn, nhắm

vào phân khúc thị trường hàng may mặc trung và cao cấp cả ở trong nước và nước

ngoài. Nâng cao năng lực thiết kế sẽ giúp các DN may từng bước xây dựng thương

hiệu riêng của hàng may mặc Việt Nam, qua đó xây dựng thị trường tiêu thụ riêng,

đảm bảo sự phát triển bền vững. Khi đã chủ dộng được thị trường tiêu thụ sản

phẩm, các DN may Việt Nam sẽ không phải phụ thuộc nhiều vào hoạt động may gia

công cho các đối tác nước ngoài.

Xu hướng chuyển dịch sản xuất hàng dệt may từ các nước phát triển sang các

nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam , mở ra cơ hội thu hút vốn, kỹ thuật, công

nghệ, kinh nghiệm quản lý cho ngành, giúp khắc phục các điểm yếu của ngành.

Bên cạnh đó, trong chiến lược phát triển ngành dệt may của Việt Nam, Chính phủ

đã có định hướng phát triển các lĩnh vực hỗ trợ, phát triển các nguồn nguyên liệu phục

vụ cho ngành may. Những kế hoạch này nếu thực hiện tốt sẽ giúp cung cấp những

nguyên liệu có chất lượng cao, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu vốn



đang là vấn đề lớn của ngành may xuất khẩu hiện nay. Khi đó, các DN may trong nước

sẽ có điều kiện mở rộng và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh.

3.1.1.4. Cơ hội khi Việt Nam gia nhập WTO.

Gia nhập WTO, Việt Nam có điều kiện hội nhập sâu vào nền kinh tế thế

giới, các rào cản thương mại như hạn ngạch dệt may vào Hoa Kỳ đã được dỡ

bỏ.

Khi gia nhập tổ chức WTO, Việt Nam có được vị thế bình đẳng như các thành

viên khác trong việc hoạch định chính sách thương mại tồn cầu, có cơ hội để đấu

tranh nhằm thiết lập một trật tự kinh tế mới công bằng hơn, hợp lý hơn, có điều kiện

để bảo vệ lợi ích của đất nước, của DN.Việt Nam được tiếp cận thị trường hàng hoá

và dịch vụ ở tất cả các nước thành viên với mức thuế nhập khẩu đã được cắt giảm

và các ngành dịch vụ, không bị phân biệt đối xử. Đặc biệt là hạn ngạch đối với hàng

DMVN xuất khẩu vào Hoa Kỳ đã được bãi bỏ. Bên cạnh đó, sự quan tâm của Chính

phủ, chỉ đạo sát sao của các bộ ngành liên quan nhằm tạo môi trường kinh doanh

thơng thống thuận lợi cho các DN nói chung và của ngành dệt may nói riêng. Đặc

biệt trong việc xây dựng cơ chế cấp giấy phép xuất khẩu nhằm kiểm soát lượng và

đơn giá hàng xuất khẩu (áp dụng từ tháng 3-6/2007), bãi bỏ chuyển tải hàng dệt

may sang Hoa Kỳ, hợp tác với Hải quan và VCCI trong việc kiểm soát xuất khẩu,

thành lập tổ kiểm tra cơ động giúp các DN và khách hàng yên tâm làm ăn. Bên cạnh

đó, Việt Nam có thêm cơ hội thu hút dòng đầu tư trực tiếp và gián tiếp từ nước

ngồi.

Đối với ngành CNHT ngành DMVN có cơ hội có được một thị trường tiêu thụ

rộng lớn, cơ hội tiếp cận với công nghệ sản xuất, kinh nghiệm quản lý từ các nước

phát triển cúng như cơ hội thu hút vốn đầu tư từ các nhà đầu tư nước ngoài, các

nguồn viện trợ và các định chế tài chính quốc tế. Nhờ đó, ngành dệt may có điều

kiện phát triển nguồn ngun liệu bơng, xơ sợi tổng hợp, hố chất thuốc nhuộm,…

để nâng cao tỉ lệ nội địa hoá (theo kế hoạch sẽ đạt đến 50% vào 2010). Thuế nhập

khẩu hàng DMVN vào các nước WTO cũng được tính lại một cách bình đẳng và tạo

điều kiện xuất khẩu tốt hơn.

3.1.2.Thách thức với ngành CNHT ngành DMVN .

3.1.2.1. Thị trường và đối thủ cạnh tranh.

Xuất phát điểm thấp, CNHT chưa phát triển, năng lực cạnh tranh còn hạn chế,

lại đang cịu sự cạnh tranh gay gắt từ các cường quốc sản xuất dệt may thế giới như

Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh…. Khơng những trên thị trường xuất khẩu mà còn



ngay tại thị trường nội địa khi Việt Nam phải cam kết mở cửa thị trường, giảm thuế

nhập khẩu và các hàng rào bảo hộ khác, riêng thuế nhập khẩu do cạnh tranh với

hàng ngoại nên đã giảm 2/3 xuống còn 5 - 20%, trong khi chúng ta chưa nhận thức

hết được những thách thức, áp lực cạnh tranh khi hội nhập, dẫn đến việc thiếu

chuẩn bị, thiếu phương án khi sản xuất kinh doanh khó khăn. Đặc biệt từ 1/1/2009,

khi Việt Nam phải mở cửa thị trường bán lẻ cho các DN nước ngồi thì sức ép cạnh

tranh sẽ ngày càng lớn.

Các thị trường chính của hàng dệt may Việt Nam như Hoa Kỳ và châu Âu hiện

đang đều trong tình trạng khủng hoảng tài chính. Theo Tập đồn Dệt may VN, thị

trường Hoa Kỳ đang chiếm tỉ trọng khoảng 55% tổng kim ngạch XK hàng dệt may

của VN. Tuy nhiên, thị trường này vẫn đang tiềm ẩn những rủi ro, cụ thể là chương

trình giám sát chống bán phá giá của Mỹ vẫn đang áp dụng đối với hàng dệt may

VN đã làm cho các khách hàng lớn như Macy, Hagel... rút toàn bộ đơn hàng tại VN

để chuyển sang nước khác. Sức ép của vấn đề này đang còn làm cho nhiều Cty của

VN và nước ngồi khơng dám đầu tư vào ngành dệt may vì sợ rủi ro. Bên cạnh đó,

vấn đề kinh tế Mỹ đang suy thối, sức mua của người dân đối với hàng dệt may

giảm đáng kể... đang là những trở ngại cho ngành dệt may VN.

Sự cạnh tranh mạnh mẽ của hàng may mặc Trung Quốc với giá thành rẻ và

kiểu dáng mẫu mã đa dạng, phù hợp với thu nhập của người dân Việt Nam và các

nước trên thế giới.

Mặt khác Khủng hoảng kinh tế làm cho sức mua giảm, nhiều mặt hàng, sản

phẩm tiêu thụ trong nước lẫn XK đang phải giảm giá làm cho ngành dệt may phải

đối mặt với nhiều khó khăn hơn.

3.1.2.2. u cầu chất lượng và trình độ cơng nghệ.

Các quốc gia nhập khẩu thường có những u cầu nghiêm ngặt đối với chất

lượng của hàng may mặc nhập khẩu vào, bao gồm cả hàng hóa của Việt Nam.

Hàng hóa Việt Nam cũng như của một số quốc gia khác có nguy cơ bị kiện

bán phá giá và áp mức thuế chống bán phá giá nhằm bảo vệ ngành may mặc của

nước nhập khẩu. Trong khi đó cơng nghệ của các DN Việt Nam vẫn còn lạc hâu khó

lòng đáp ứng được những u cầu kỹ thuật của thế giới. Ngành cơng nghiệp dệt và

hỗ trợ còn yếu, dẫn đến 70% nguyên phụ liệu phải nhập khẩu từ nước ngồi, giá trị

gia tăng khơng cao, thiếu linh hoạt và hạn chế khả năng đáp ứng nhanh. May xuất

khẩu phần nhiều vẫn theo phương thức gia công, thiết kế mẫu mốt chưa phát triển,

tỷ lệ làm hàng theo phương thức FOB còn thấp, hiệu quả sản xuất thấp.



Mặt khác, hầu hết các DN dệt may đều là DN nhỏ và vừa nên khả năng huy

động vốn đầu tư thấp, hạn chế khả năng đổi mới công nghệ, trang thiết bị... năng lực

quảng cáo tiếp thị hạn chế nên phần lớn các DN chưa xây dựng được thương hiệu.

3.1.2.3. Trình độ quản lý và nhân công.

Các DN DMVN chủ yếu là DN nhỏ nên trình độ tổ chức quản lý, kỹ năng quản lý

sản xuất, kỹ thuật còn kém, năng lực quảng cáo tiếp thị hạn chế, phần lớn các DN

chưa xây dựng được thương hiệu, các sản phẩm xuất khẩu phải sử dụng nhãn mác

nước ngoài, chưa xây dựng được chiến lược phát triển dài hạn cho DN.

Cải cách hành chính còn chậm, năng lực cạnh tranh quốc gia về hạ tầng cơ sở

còn thấp so với các đối thủ cạnh tranh, 1 số chi phí chung như vận chuyển, cảng

khẩu...còn khá cao so với các nước.

Thiếu cơng nhân cục bộ tại các thành phố lớn. Mối quan hệ lao động, tiền

lương đang có chiều hướng phức tạp. Nhiều cuộc đình cơng tự phát đã xảy ra tại các

thành phố và khu công nghiệp tập trung đã ảnh hưởng lớn đến việc sản xuất kinh

doanh của nhiều DN, ảnh hưởng đến môi trường đầu tư kinh doanh. Thiếu lao động

kỹ năng trung cao cấp về công nghệ, thương mại, quản trị. Lao động có tay nghề

cao, giàu kinh nghiệm còn chiếm tỷ lệ nhỏ. Bên cạnh đó, mức độ ổn định của nguồn

lao động trong ngành may mặc không cao khiến cho các DN may thường xuyên

phải quan tâm đến việc tuyển dụng lao động mới.

3.1.2.4.Thách thức sau khi gia nhập WTO.

Sau khi gia nhập WTO, bên cạnh nhiều điều kiện hội nhập sâu vào trong nền

kinh tế thế giới, Việt Nam sẽ phải chịu sự cạnh tranh diễn ra gay gắt hơn, với nhiều

"đối thủ" hơn, trên bình diện rộng hơn, sâu hơn. Đồng thời, Việt Nam phải cam kết

mở cửa thị trường, giảm thuế và các hàng rào bảo hộ khác, minh bạch hóa chính

sách. Và thực tế đó đã khiến cho các DN dệt may trong nước gặp khơng ít khó

khăn.

Trong đó, thách thức rất lớn đối với ngành dệt may là cơ chế giám sát và yêu

cầu về chất lượng và mội trường xã hội của các đối tác nước ngoài, đặc biệt là Hoa

Kỳ. Hoa Kỳ hiện đang áp dụng rất ngặt nghèo cơ chế giám sát chống bán phá giá

đối với các DN Việt Nam. 100% đối tác Hoa Kỳ đều có yêu cầu về nhà xưởng, công

nhân… thông qua các tiêu chuẩn như SA8000, ISO 9000,… Việc Hoa Kỳ áp dụng

cơ chế kiểm soát hang DMVN nhâp khẩu và Hoa Kỳ Trong 2 năm 2007- 2008 và tự

khởi động điều tra chống bán phá giá đối với hàng DMVN đã gây nhiều khó khăn

và tác động cho các DN và ngành.



Ngồi ra sự phát triển nhanh của nền kinh tế kéo theo đầu tư nhanh dẫn đến

thiếu hụt lao động cục bộ, các cuộc đình cơng tự phát diễn ra cùng với hiện tượng

lạm phát tăng cao trong năm 2007(12,2%) và 3 tháng đầu năm 2008( 9.9%) đã gây

khó khăn cho các DN và tạo ra một hình ảnh xấu khi mà Việt Nam mới gia nhập

WTO.

Ngoài ra cơ sở hạ tàng yếu kém, hệ thống giao thơng cơng chính lộn xộn, thiếu

đồng bộ, thiếu điện, thiếu các dịch vụ hậu cần, vận tải đã làm giảm năng lực cạnh

tranh của các DN Việt Nam nói chung và các DN dệt may nói riêng trên trường

quốc tế.

Bên cạnh những ưu đãi về thuế quan, thì khi gia nhập WTO Việt Nam cũng

phải cắt giảm từng bước cá mức thuế nhập khẩu. Đây là thách thức lớn đối với các

DN nội địa. Năm 2007, chính phủ đã điều chỉnh thuế xuất nhập khẩu cho 26 nhóm

hàng, 1812 dòng hàng chiếm 17% danh sách thuế đã cam kết. Trong đó thuế hàng

dệt may giảm mạnh nhất từ 37.3% xuống 13,7%. Năm 2008, Việt Nam thực hiện

cắt giảm tiếp 1700 dòng thuế. VD: Đối với hàng DMVN, theo nguyên tắc ưu đãi

MFN, thuế suất đối với nhóm hàng sơ sợi giảm từ 20% xuống 5%, nhóm hàng vải

giảm từ 40% xuống 12%, nhóm hàng quần áo, đồ may sẵn giảm từ 50% xuống

20%. Điều này đã tạo ra sức ép đối với các DN DMVN. Buộc các DN phải chủ

động vạch ra lộ trình nỗ lực phấn đấu để tăng sức cạnh tranh của DN mình.



Bảng 3.2: Năng lực cạnh tranh của CNHT ngành DMVN trong điều kiện hội

nhập

Tiêu

Chí



Việt

Na

m



Nguồn lao động rẻ A

khéo tay

Trình độ công B

nghệ

CNHT

B-C



Trung

Quốc,

Ấn

Độ

A



Inđonêsia



Pa Bangla-đet

Thái Phili

kis Srilanca,Ca

Lan -pin

tan mpu-chia



Đông Trung

âu

Mỹ



A



A



A



B



A



C



C



A



A



-



B



A



B



A



A



A



B+



B+ B-C



B+



B



B



B



Quan hệ lao động

Quan hệ khách

hàng

Đ.K thương mại

quốc gia

Cơ sở hạ tầng



B+

A



A

A



A



A



B+

A



B

A



A



A

-



A

-



B



A



A



A+



A



A



A



A



B



A



A



A

+

A-



-



A



-



A



A



Quản lý nhà nước

Vận chuyển



B

B



B



B



B



B



A

B



B



A

A



A

A



Ổn định/an toàn



A



A



B



B



B



B



B



A



A



(Ghi chú: A: mức tốt nhất, B+: Mức tốt, B: Mức trung bình, C: Mức kém, -:

Chưa xác định)

Nguồn: Viện nghiên cứu chién lược, chính sách cơng nghiệp.

Qua bảng phân tích trên cho thấy, năng lực cạnh tranh hiện tại của DMVN chỉ

ở mức trung bình. Lợi thế lớn nhất của ngành DMVN là lao động dồi dào, giá nhân

công rẻ, tuy nhiên đây chỉ là lợi thế nhất thời và không đảm bảo cho sự cạnh tranh

lâu dài.

 Khi các DN Việt Nam tiến sâu vào hội nhập quốc tế, cùng với tiến trình hội

nhập của đất nước thì việc DN xác định họ đang ở bậc thang nào trong chuỗi giá trị

toàn cầu mà họ sẽ tham gia. Vì vậy, việc nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi

giá trị toàn cầu trở thành một vấn đề trọng đại đối với các DN Việt Nam, cũng như



nền kinh tế Việt Nam khi đã gia nhập thị trường thế giới. Và Việt Nam rất cần vươn

lên để phát triển khâu đầu cũng như là khâu cuối trong chuỗi giá trị toàn cầu, nghĩa

là tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu & phát triển - sở hữu trí tuệ, thương hiệu và

thương mại. Đó cũng chính là sự lựa chọn tất yếu để thốt khỏi tụt hậu và lệ thuộc.

Tham gia vào chuỗi giá trị tồn cầu khơng chỉ là “đồ trang sức” hợp thời, mà chính

là quy luật tất yếu của thời hội nhập.

3.1.3. Định hướng phát triển DMVN đến năm 2020.

3.1.3.1. Chiến lược phát triển.

Phát triển ngành Dệt May trở thành một trong những ngành công nghiệp trọng

điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; đáp ứng ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước;

tạo nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc

kinh tế khu vực và thế giới.

Phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng tạo sự phát triển bền

vững của ngành DMVN.

Phát triển ngành Dệt may theo hướng chuyên mơn hóa, hiện đại hóa, nhằm tạo

ra bước nhảy vọt về chất và lượng của sản phẩm, đảm bảo tăng trưởng nhanh, ổn

định, bền vững, hiệu quả.

Phát triển tối đa thị trường nội địa đồng thời với việc mở rộng thị trường xuất

khẩu; lấy xuất khẩu làm mục tiêu cho phát triển của ngành.

Phát triển thị trường thời trang Việt Nam tại các đô thị, thành phố lớn. Chuyển

dịch mạnh các cơ sở Dệt may sử dụng nhiều lao động về các vùng nơng thơn.

Đa dạng hóa sở hữu, đa dạng hóa quy mơ và loại hình DN; huy động mọi

nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển ngành DMVN.

Phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu dệt

may, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng của ngành

3.1.3.2. Mục tiêu phát triển DMVN đến năm 2020.

Nhằm tạo được bước nhảy vọt về chất và lượng sản phẩm,ngành DMVN đã có

chiến lược phát triển đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020 theo hướng

chun mơn hóa, hiện đại hóa. Trong đó, mục tiêu phát triển ngành dệt may thành

một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu ; thỏa mãn

ngày càng cao nhu cầu tiêu dùng trong nước,tạo nhiều việc làm cho xã hội và nâng

cao khả năng cạnh tranh, hội nhập vững chắc kinh tế khu vực và thế giới.



Trong giai đoạn này, các DN dệt may cố gắng phát triển bền vững, đạt hiệu

quả cao trên cơ sở công nghệ hiện đại, hệ thống quản lý chất lượng, quản lý lao

động, quản lý môi trýờng theo tiêu chuẩn quốc tế. Từ ðó, ngành ðề ra các mục tiêu

tãng trýởng sản xuất bình quân :đạt 16% đến 18% (2008 -2010); 12% đến 14%

(2011- 2015); 12% đến 14% (2016 - 2020)

Bên cạnh việc khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu

tư phát triển cho ngành dệt may, toàn ngành cố gắng mở rộng việc xuất khẩu trong

đó phấn đấu :

Giai đoạn 2008 – 2010: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 20% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 12,0 tỷ USD vào năm 2010.

Giai đoạn 2011 đến 2015: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 18 tỷ USD vào năm 2015.

Giai đoạn 2016 đến 2020: tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 15% và kim

ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.

Ngoài ra ngành dệt may sẽ tập trung phát triển và nâng cao năng lực về

nguồn nhân lực, nguồn nguyên, phụ liệu để có nguồn nhân lực chuyên môn cao, tạo

nên sản phẩm chất lượng cao gắn với thương hiệu uy tín; có thể phát triển được

khoa học kĩ thuật đồng thời bảo vệ được môi trường; đầu tư để sản xuất và nguyên

phụ liệu gắn liền với hợp tác quốc tế; cung ứng nguyên phụ liệu bằng việc xây các

trung tâm cung ứng tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn, thu

hút đầu tư nước ngoài và nội địa để đầu tư sản xuất các sản phẩm hoá chất (xơ, sợi,

hóa chất…).

Bảng 3.3: Dự báo tốc độ tăng trường ngành dệt may đến năm 2020

Tốc độ tăng trưởng



Giai đoạn 2008-2010 Giai đoạn 20112020

- Tăng trưởng sản xuất hàng năm

16 - 18 %

12 - 14 %

- Tăng trưởng xuất khẩu hàng

20 %

15 %

năm

( Nguồn : Quy hoạch phát triển ngành DMVN đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020)

Bảng 3.4: Các chỉ tiêu chủ yếu trong Chiến lược phát triển ngành DMVN đến

năm 2015, định hướng đến năm 2020 như sau:



Đơn vị

Thực hiện Mục tiêu tồn ngành đến

tính

2006

2010

2015

2020

1. Doanh thu

triệu USD 7.800

14.800 22.500

31.000

2. Xuất khẩu

triệu USD 5.834

12.000 18.000

25.000

3. Sử dụng lao nghìn

2.150

2.500

2.750

3.000

động

người

4. Tỷ lệ nội địa hố %

32

50

60

70

( Nguồn : Quy hoạch phát triển ngành DMVN đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020)

Chỉ tiêu



3.2. Định hướng và mục tiêu phát triển ngành CNHT dệt may

3.2.1. Định hướng phát triển ngành CNHT dệt may Việt Nam.

Đứng trên góc độ kinh tế, mặc dù nếu so sánh về lợi thế tuyệt đối, ngành

DMVN còn kém nhiều so với một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ. Song, nếu so

sánh về lợi thế tương đối thì DMVN có khả năng cạnh tranh với các nước trên thế

giới.



Biểu đồ 3.1: Lợi thế so sánh ngành DMVN so với các nước



Trên cơ sở đánh giá triển vọng phát triển ngành DMVN trong thời gian tới,

Nhà nước cần đề ra định hướng phát triển toàn diện ngành may và CNHT cho

ngành ngành này (ngành dệt).

Trong bối cảnh Việt Nam hiện nay, việc phát triển CNHT không thể thực hiện

theo cách dàn trải cho tất cả các ngành, mà cần phải phân chia thành các nhóm

ngành để xác định hướng đi thích hợp với những trọng tâm trong từng giai đoạn

phát triển. Căn cứ vào trình độ phát triển hiện tại và những điều kiện cần bảo đảm

để phát triển CNHT, có thể xác định phương hướng phát triển CNHT cho ngành dệt

may của Việt Nam như sau:

Thứ nhất, phát triển mạnh các ngành CNHT có nhu cầu lớn, trình độ cơng

nghệ khơng cao, mức đầu tư thấp và có thể phát triển ở các DN vừa và nhỏ. Đó là

các cơ sở sản xuất các loại bao bì, nhãn mác được sử dụng rộng rãi cho ngành công

nghiệp hạ nguồn là ngành may mặc.

Thứ hai, đầu tư phát triển chiều sâu, đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại

hố, mở rộng qui mơ sản xuất cho các cơ sở sản xuất nguyên phụ liệu có nhu cầu

lớn, trình độ cơng nghệ phức tạp, mà việc đầu tư mới đòi hỏi vốn đầu tư lớn, thời

hạn xây dựng dài, đó là các nhà máy hiện có trong cơng nghiệp sợi dệt, chỉ khâu,

khoá kéo,…

Thứ ba, chuẩn bị những điều kiện cần thiết để đầu tư phát triển các ngành

CNHT có nhu cầu lớn, trình độ cơng nghệ phức tạp, mức đầu tư lớn, thời hạn xây

dựng dài, đó là các DN vải sợi cao cấp và phụ liệu khác của công nghiệp may mặc.

Thứ tư, trong ngắn hạn vẫn tập trung phát triển và nâng cao chất lượng hàng

gia công, trong dài hạn phát triển CNHT để chuyển dần từ gia cơng sang hình thức

FOB. Khi nhu cầu trong nước đối với các sản phẩm thượng nguồn tăng trưởng đáng

kể thì chắc chắn những hoạt động thượng nguồn sẽ trở thành địa điểm hấp dẫn đầu

tư, nhất là đầu tư trực tiếp nước ngoài.

3.2.2. Mục tiêu phát triển.

Nâng cao tỷ lệ nội địa hóa để nâng cao hiệu quả trong sản xuất và xuất khẩu

hàng may mặc. Giảm tỷ lệ nhập khẩu nguyên liệu cho ngành dệt may trong nước

tiến tới xuất khẩu nguyên liệu. Với các định hướng cụ thể như kêu gọi các nhà đầu

tư trong và ngoài nước đầu tư sản xuất xơ sợi tổng hợp, nguyên phụ liệu, phụ tùng

thay thế và các sản phẩm hỗ trợ để cung cấp cho các DN trong ngành. Xây dựng

Chương trình sản xuất vải phục vụ xuất khẩu. Tập đồn DMVN giữ vai trò nòng cốt

thực hiện Chương trình này. Xây dựng Chương trình phát triển cây bơng, trong đó



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP BỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×