Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.

Tải bản đầy đủ - 0trang

tức là giai đoạn chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao,

đòi hỏi khả năng cạnh tranh cao hơn.

Điều kiện về chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh nội bộ ngành: Thời

gian qua, trên cơ sở xác định dệt may là ngành công nghiệp chủ đạo trong q trình

cơng nghiệp hố, hiện đại hoá đất nước, Nhà nước đã thiết lập “Chiến lược phát

triển ngành dệt may đến năm 2010”. Đây là nền tảng giúp các DN DMVN có hướng

đi phù hợp với năng lực cạnh tranh của DN và đòi hỏi của tiến trình phát triển.

Trong nội bộ ngành dệt may đã xuất hiện nhiều DN có thành tích khá xuất sắc,

đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước thông qua hoạt động xuất khẩu, điều

này đã tạo nên sự cạnh tranh mạnh mẽ trong nội bộ ngành, thúc đẩy các DN cùng

nhau vươn lên.

Điều kiện về các ngành CNHT và các ngành liên quan: Ở các nước công

nghiệp phát triển, CNHT thường được phát triển đi trước một bước hoặc ngang

bằng so với ngành cơng nghiệp chính. Nhưng thực tế ở Việt Nam, ngành CNHT lại

phát triển rất yếu ớt, thể hiện qua việc 70-80% nguyên phụ liệu cho cơng nghiệp

xuất khẩu phải nhập khẩu từ nước ngồi.

2.2. Các chính sách của nhà nước về phát triển CNHT ngành dệt may.

2.2.1. Quan điểm phát triển ngành CNHT dệt may Việt Nam hiện nay.

Như vậy, từ sự đánh giá các yếu tố tạo nên lợi thế cạnh tranh ở trên có thể

thấy, bên cạnh những cơ hội về thị trường, lợi thế cạnh tranh của ngành DMVN nói

chung và lợi thế cạnh tranh quốc gia nói riêng đang bị ảnh hưởng lớn từ sự yếu kém

của CNHT, các yếu tố tiên tiến chưa phát triển đúng mức, các DN có cạnh tranh,

nhưng sự cạnh tranh này chỉ diễn ra trong nội bộ ngành, còn khả năng cạnh tranh

trên thị trường thế giới lại rất yếu.

Trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã có định hướng các nhà đầu tư trong và

ngoài nước vào phát triển CNHT, nhất là đối với ngành dệt may. Đến nay, CNHT

dệt may của Việt Nam vẫn ở trong tình trạng kém phát triển với những biểu hiện nổi

bật là chất lượng sản phẩm thấp, giá thành cao và chủng loại nghèo nàn, không đáp

ứng một cách ổn định và có hiệu quả yêu cầu của các ngành hạ nguồn. Thực tế cho

thấy, ngành may xuất khẩu đang phải nhập khẩu đến 80% nguyên phụ liệu và gần

như tồn bộ các loại hố chất, thuốc nhuộm từ nước ngồi.

Ngành CNHT trong nước còn non yếu dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn cung

ứng bên ngoài, giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm thấp và dẫn đến hiệu quả xuất

khẩu thấp. Do đó, việc phát triển CNHT đang trở thành một vấn đề thu hút được sự



quan tâm không chỉ của các cơ quan hoạch định chính sách mà còn của chính các

DN ở khu vực hạ nguồn.

Bàn về vấn đề này hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về xây dựng và phát triển

CNHT, trong đó nổi bật lên 2 quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng, với trình độ hiện tại, Việt Nam nên tập trung

phát triển khu vực hạ nguồn, đặc biệt là các ngành gia công nhằm phát huy lợi thế

về nhân công, việc phát triển CNHT cần được tiến hành từng bước trên cơ sở sự

phát triển của khu vực hạ nguồn. Quan điểm này đã được các nhà nghiên cứu Nhật

Bản nêu trong khuyến nghị: “Việc xúc tiến phát triển khu vực CNHT phải được

thực hiện theo qui trình 3 bước. (i) Việt Nam cần tiếp tục thu hút số lượng lớn vốn

đầu tư nước ngoài vào các ngành gia công hàng may; (ii) khi nhu cầu đối với khu

vực CNHT tăng đáng kể, cần tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành

CNHT cung cấp nguồn ngun vật liệu cho các cơng ty nước ngồi, đồng thời

khuyến khích đầu tư trong nước vào các ngành này; (iii) nâng cao nội lực thông qua

chuyển giao công nghệ từ đầu tư trực tiếp nước ngoài. Trong quá trình này, Việt

Nam có thể thực hiện đan xen giữa các bước gần giống nhau nhưng không thể đốt

cháy giai đoạn…Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa hoàn thành được bước thứ nhất, đang

tập trung ở bước này nên những biện pháp tăng cường tỷ lệ nội địa hoá và chuyển

giao cơng nghệ khó có thể trở thành hiện thực”.

Quan điểm thứ hai cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng phát triển CNHT, đặc

biệt là công nghiệp dệt may hoặc những ngành phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu

như lắp ráp xe máy, điện tử dân dụng, ô tô…Quan điểm này xuất phát từ tình trạng

phụ thuộc vào nước ngồi về các loại nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm, giá trị

gia tăng được tạo ra từ sản xuất trong nước thấp kém, kéo theo hiệu quả của sản

xuất và xuất khẩu thấp, khả năng sản xuất trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp

nước ngoài.

2.2.2. Quy hoạch phát triển ngành CNHT ngành dệt may Việt Nam.

Quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đến

năm 2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt tại quyết định 42/2008/QĐ- BCT

ngày 19/11/2008. Quy hoạch đưa ra mục tiêu tổng quát phát triển ngành dệt may trở

thành một trong những ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu đảm

bảo cho các DN dệt may phát triển bền vững, hiệu quả. Giai đoạn 2008 đến 2010,

tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 16% đến 18%, tăng trưởng xuất khẩu bình quân

đạt 20% và kim ngạch xuất khẩu đạt 12 tỷ USD vào năm 2010, 18 USD tỷ vào năm



2015, 20 USD tỷ vào năm 2020, sử dụng 2,5 triệu lao động đến năm 2010, 3 triệu

lao động đến năm 2020 v.v...

2.2.2.1. Quy hoạch sản phẩm chiến lược

- Tập trung sản xuất vải và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu. Trong sản xuất

vải, khâu nhuộm và hoàn tất vải đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất

lượng vải đáp ứng yêu cầu của thị trường và của khách hàng. Đầu tư sản xuất vải

phải lựa chọn cơng nghệ tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, giảm chi phí

nguyên liệu và thân thiện với môi trường;

- Đẩy mạnh đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất bông, xơ, sợi tổng hợp và phụ

liệu, để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và giảm dần nhập khẩu, tiết kiệm

ngoại tệ;

- Tăng cường đầu tư phát triển ngành may xuất khẩu để tận dụng cơ hội của thị

trường. Các DN may cần đa dạng hố và nâng cao đẳng cấp mặt hàng, tích cực thay

đổi phương thức sản xuất hàng xuất khẩu từ nhận nguyên liệu giao thành phẩm sang

mua đứt bán đoạn, đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ cho sản xuất kinh doanh của các

DN may như các hoạt động thiết kế mẫu mốt, cung ứng nguyên phụ liệu, xúc tiến

thương mại.

Đến năm 2015 đáp ứng được 50% như cầu các sản phẩm xơ, sợi tổng hợp, đến

năm 2020 đáp ứng 80% nhu cầu sản xuất trong nước và sau năm 2020 bắt đầu thực

hiện xuất khẩu; phát triển vải dệt đến 2010 đáp ứng trên 30% nhu cầu, đến 2015 đáp

ứng khoảng 39% và đến 2020 đạt 40% nhu cầu vải dệt thoi. Tập trung sản xuất vải

và phụ liệu phục vụ may xuất khẩu, đẩy mạnh đầu tư phát triển các cơ sở sản xuất

bông, xơ, sợi tổng hợp và phụ liệu để giảm dần nhập liệu, tiết kiệm ngoại tệ, tăng

cường đầu tư phát triển ngành may xuất khẩu

2.2.2.2. Quy hoạch theo vùng, lãnh thổ.

Đối với CNHT dệt may, quy hoạch theo vùng lãnh thổ, ngành này sẽ tập trung

vào các nội dung như hình thành 3 trung tâm nguyên phụ liệu dệt may ở phía Bắc,

Nam và miền Trung.

Cụ thể quy hoạch dệt may theo vùng lãnh thổ được phân bố ở các khu vực với

những định hướng chính:

- Khu vực I: Vùng đồng bằng sơng Hồng

Quy hoạch theo định hướng lấy Hà Nội là trung tâm làm dịch vụ, cung cấp

nguyên phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ sở may sản xuất các sản phẩm có giá

trị gia tăng cao. Các cơ sở sản xuất di dời về các Khu công nghiệp ở các tỉnh như:



Hồ Xá (Nam Định), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phố Nối B (Hưng Yên), Đồng

Văn (Hà Nam), Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình. Tại khu vực này sẽ hình thành

một cụm công nghiệp may xuất khẩu và ba khu công nghiệp dệt nhuộm hoàn tất tập

trung. Đầu tư một nhà máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tại

Khu cơng nghiệp Đình Vũ (Hải Phòng).

- Khu vực II: Vùng Đơng Nam Bộ

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ

công nghệ dệt may và các nhà máy may các sản phẩm thời trang, có giá trị gia tăng

cao. Di dời các cơ sở nhuộm, hồn tất tại Thành phố Hồ Chí Minh về Khu công

nghiệp Long An và các tỉnh lân cận. Đây là khu vực đã phát triển nóng về dệt may

trong những năm qua, hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về lao động nên khơng

khuyến khích đầu tư mới vào khu vực này để tránh sức ép về lao động.

- Khu vực III: Vùng duyên hải Trung bộ

Lấy Thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp

may xuất khẩu và một số Khu công nghiệp dệt nhuộm - hoàn tất tại Hoà Khánh (Đà

Nẵng), Quảng Trị.

- Khu vực IV: Đồng bằng sông Cửu Long

Lấy Thành phố Cần Thơ làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp

may xuất khẩu và một khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh.

- Khu vực V: Vùng Đông Bắc và Tây Bắc bộ

Quy hoạch theo hướng bố trí một Khu Cơng nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhà

máy may bố trí ở các tỉnh. Phát triển vùng trồng bông, nguyên liệu tơ tằm ở Sơn La,

Điện Biên.

- Khu vực VI: Vùng Bắc Trung bộ

Quy hoạch theo hướng bố trí các DN dệt may theo trục quốc lộ 1 với một số

cụm, điểm công nghiệp tại Bỉm Sơn (Thanh Hoá), Vinh (Nghệ An), Huế (Thừa

Thiên Huế). Hình thành ba khu cơng nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Diễn Châu

(Nghệ An), Hà Tĩnh, Quảng Trị trong giai đoạn từ 2012 đến 2015.

- Khu vực VII: Vùng Tây ngun

Định hướng đẩy mạnh chun mơn hố các cây ngun liệu dệt như dâu tằm,

bông... gắn liền với chế biến tạo ra các sản phẩm cho thị trường xuất khẩu và nội

địa. Đồng thời kết hợp phát triển các cơ sở may phục vụ nội địa hoặc làm vệ tinh

cho ngành may của khu vực II và khu vực III.



Quy hoạch đưa ra hệ thống các giải pháp và chính sách thực hiện Quy hoạch.

Các DN trong ngành dệt may tổ chức và mở rộng mạng lưới bán lẻ trong nước,

quan tâm đến việc xây dựng và quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây dựng hình ảnh

ngành DMVN “chất lượng-trách nhiệm-thân thiện môi trường” trên thị trường quốc

tế. Hiệp hội Dệt May và Tập đoàn DMVN là đầu mối để phối hợp và liên kết với

các cơ sở đào tạo trong và ngồi nước triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân

lực cho ngành. Tập đồn DMVN có trách nhiệm phát triển đầu tư những dự án dệt

may có quy mơ lớn.

Theo số liệu của Tập đồn DMVN, diện tích quy hoạch sản xuất bơng đến

2020 trên tồn quốc là 76.000 ha. Trong đó, các tỉnh Tây Nguyên khoảng 32.000 ha,

Nam Trung Bộ 27.000 ha, Trung Bô 12.000 ha và miền Bắc trên 2.000 ha.

Về quy hoạch phát triển trang trại: tỉnh Bình Thuận sẽ đầu tư 10 trang trại với

diện tích 1.300 ha; Ninh Thuận với 5 trang trại, diện tích 2.800 ha; Đăk Lắk 10

trang trại, diện tích trên 4.500 ha; Gia Lai 12 trang trại, diện tích 3.450 ha; Đắk

Nơng 7 trang trại, diện tích 2.400 ha;...

Ngồi các chính sách tăng diện tích và trang trại trồng bơng, các chính sách

đầu tư về cơng trình thủy lợi trọng điểm cũng được đẩy mạnh như: Dự án tưới Phan

Rí – Phan Thiết, khởi cơng 2009...

2.2.3. Chính sách vốn:

2.2.3.1. Vốn cho đầu tư phát triển

Để giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành DMVN huy động vốn từ các

thành phần kinh tế trong và ngồi nước thơng qua các hình thức hợp tác kinh doanh,

cơng ty liên doanh, cơng ty liên kết, cổ phần hố các DN, DN có 100% vốn đầu tư

nước ngồi. Khuyến khích các DN huy động vốn thơng qua thị trường chứng khốn

(phát hành trái phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện có

hoặc khơng có sự bảo lãnh của Chính phủ.

Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí để đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng,

các cơng trình thủy lợi, hệ thống tưới tiêu tại các vùng được quy hoạch trồng bơng

vải có tưới tập trung

2.2.3.2. Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý môi

trường.

Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện

nghiên cứu, các Trường đào tạo trong ngành DMVN để tăng cường cơ sở vật chất



và thực hiện các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt

May theo nguyên tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.

Nhà nước cho DN Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn của

quỹ môi trường để thực hiện các dự án xử lý mơi trường.

2.2.4. Chính sách nguyên nhiên liệu:

a) Xây dựng các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Thành phố Hà Nội,

Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu

cho các DN trong ngành.

b) Xây dựng các DN kinh doanh nguyên phụ liệu tập trung nhằm đáp ứng

được nhu cầu nguyên phụ liệu cho các DN với chất lượng cao và giá nhập khẩu hợp

lý.

Đặc biệt để giải quyết vấn đề cung cấp bông cho ngành dệt may, giảm tỷ lệ

nhập khẩu, tăng tỷ kệ nội địa hóa, chính sách phát triển nghề trồng bơng được áp

dụng hợp lý. Mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế sẽ được phát huy cùng sự

hỗ trợ của Nhà nước cho đầu tư phát triển cây bông vải, gắn kết lợi ích giữa gia

cơng chế biến, tiêu thụ với lợi ích của người trồng bơng. Đồng thời, Nhà nước đầu

tư cho công tác nghiên cứu, khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao

năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất bơng.

Chương trình khuyến khích các DN chế biến bông xơ hỗ trợ người trồng bơng

đầu tư cơ giới hóa các khâu từ làm đất đến thu hoạch, bảo quản, xơ chế, hệ thống

tưới tiết kiệm để tăng năng suất lao động nhằm tạo bước đột phá trong phát triển

cây bơng vải Việt Nam.

2.2.5. Chính sách khác.

2.2.5.1. Chính sách đầu tư.

Khuyến khích mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước đầu tư phát triển

ngành dệt may để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Xây dựng các dự án đầu tư trong lĩnh vực dệt, nhuộm, sản xuất nguyên liệu

bông xơ và sợi nhân tạo, sản xuất nguyên phụ liệu, để kêu gọi các nhà đầu tư trong

nước và nước ngồi. Trong đó ưu tiên các dự án sản xuất vải dệt thoi phục vụ cho

sản xuất hàng may mặc xuất khẩu.

Xây dựng các khu cơng nghiệp chun ngành Dệt May có đủ điều kiện hạ tầng

cung cấp điện, cấp nước, xử lý nước thải, đảm bảo các yêu cầu về môi trường và lao

động có khả năng đào tạo.



Phối hợp với các địa phương đầu tư phát triển cây bơng, trong đó chú trọng xây

dựng vùng bơng có tưới, từng bước đáp ứng nhu cầu bơng cho ngành dệt, sợi.

2.2.5.2. Chính sách phát triển nhân lực:

Triển khai Chương trình đào tạo nguồn nhân lực cho ngành DMVN theo các nội

dung:

Mở các lớp đào tạo cán bộ quản lý kinh tế - kỹ thuật, cán bộ pháp chế, cán bộ bán

hàng chuyên ngành Dệt May, cán bộ kỹ thuật và công nhân lành nghề của các dự án

dệt, nhuộm trọng điểm.

Mở các khoá đào tạo về thiết kế và phân tích vải, kỹ năng quản lý sản xuất, kỹ

năng bán hàng (gồm các kỹ năng thiết kế, làm mẫu, bán hàng, kiến thức về tiêu

chuẩn nguyên liệu, sản phẩm, tiêu chuẩn môi trường và lao động).

Liên kết với các tổ chức quốc tế để cử cán bộ, học sinh tham gia các khoá đào

tạo cán bộ quản lý, cán bộ pháp chế, cán bộ kỹ thuật, cán bộ bán hàng, đào tạo công

nhân kỹ thuật có tay nghề cao tại các cơ sở đào tạo ở nước ngoài.

Kết hợp việc đào tạo dài hạn với đào tạo ngắn hạn, kết hợp giữa đào tạo chính

quy với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nước

ngoài để đào tạo.

Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May, xây dựng Trường

Đại học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai các lớp đào

tạo.

Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân thông

qua hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành dệt may nhằm cung cấp đủ

nguồn nhân lực cho ngành. Hiệp hội DMVN và Tập đoàn DMVN là đầu mối để

phối hợp và liên kết với các cơ sở đào tạo trong và ngồi nước triển khai Chương

trình đạo tạo nguồn nhân lực cho ngành.

2.2.5.3. Chính sách về khoa học công nghệ.

a) Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự

chịu trách nhiệm.

Nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả

năng thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu.

Hỗ trợ cho các DN trong ngành đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai

các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của các

DN DMVN.



b) Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các

sản phẩm dệt có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn,

tiết kiệm năng lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất

lượng sản phẩm Dệt May.

c) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù

hợp và hài hoà với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế.

Hỗ trợ nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May,

hỗ trợ cho các DN Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ

thuật.

d) Xây dựng phòng thí nghiệm sinh thái Dệt May và Trung tâm phát triển các

mặt hàng vải trong giai đoạn 2008-2010.

e) Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng cao chất lượng của trang

thông tin điện tử.

g) Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giao

cơng nghệ trong ngành Dệt May.

2.2.5.4. Chính sách phát triển thị trường.

a) Tập trung mọi khả năng và cơ hội đàm phán mở rộng thị trường Dệt May

trên thị trường quốc tế.

b) Cải cách các thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, xuất nhập

khẩu theo hướng thực hiện cơ chế một dấu, một cửa, đơn giản hoá các thủ tục.

c) Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm sốt thị trường, chống bn lậu, trốn

thuế, gian lận thương mại.

d) Tăng cường công tác tư vấn pháp luật thương mại quốc tế. Chuẩn bị kỹ việc

chống các rào cản kỹ thuật mới của các nước nhập khẩu cho các DN xuất khẩu.

e) Tổ chức mạng lưới bán lẻ trong nước, đổi mới phương thức tiếp thị xuất

khẩu, đồng thời quan tâm đến việc xây dựng, quảng bá thương hiệu sản phẩm, xây

dựng hình ảnh của ngành DMVN trên thị trường trong nước và quốc tế.

g) Bố trí đủ cán bộ pháp chế cho các DN trong ngành để tham gia soạn thảo,

đàm phán và giải quyết các tranh chấp hợp đồng, nhất là hợp đồng thương mại quốc

tế.

2.3. Thực trạng phát triển CNHT ngành DMVN hiện nay.

Có thể nhận thấy trong thời gian qua Chính phủ đã tập trung chú ý đến sự phát

triển của ngành CNHT cho ngành dệt may để tạo sự cân xứng với sự phát triển của



ngành. Các chính sách khuyến khích phát triển đã được áp dụng khá đồng bộ. Tạo

được nhiều điều kiện thuận lợi cho ngành hỗ trợ phát triển

2.3.1. Ngành nguyên liệu.

Nguyên phụ liệu dệt may hiện nay phần lớn phải nhập khẩu. Theo báo cáo

khảo sát giữa CIEM và UNDP về đổi mới công nghệ: ngành dệt may, tuy là ngành

mà Việt Nam được đánh giá là có lợi thế so sánh hơn so với các ngành công nghiệp

khác do tận dụng được nguồn nhân cơng rẻ và có tay nghề khá, song hiện nay vẫn

phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu ngoại nhập (khoảng 90% bông, 100% tơ sợi

tổng hợp (xơ tổng hợp), thuốc nhuộm, hoá chất và hầu hết thiết bị phụ tùng), trong

đó bơng và xơ tổng hợp là hai loại nguyên liệu chính của ngành dệt. Sự phụ thuộc

quá nhiều các yếu tố đầu vào như vậy không những làm ảnh hưởng đến hiệu quả

kinh tế của ngành dệt may mà còn gây tình trạng bị động trong điều hành sản xuất,

tổ chức các quan hệ liên kết dệt - may, dẫn đến một điểm yếu căn bản của ngành dệt

may- “dệt kém nên may phải gia công”, lợi nhuận thu được thấp.

Thực tế phát triển dệt may cho thấy, nguyên liệu cho công nghiệp dệt của Việt

Nam chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài, tính từ năm 1997 cho đến nay, trung

bình mỗi năm cả nước nhập từ 91 triệu đến 109,7 triệu USD bông xơ, tương đương

với 5-6 vạn tấn bông xơ. Theo Vinatas, hiện nay Việt Nam đang sản xuất khoảng

170000 tấn sợi/năm, nhập khẩu khoảng 200000 tấn sợi/năm. Trong đó sợi bông trải

thô và OE chiếm 40%, Pe/Co chiếm 36%, sợi bông trải kỹ chiếm 2% và các loại sợi

khác là 2%. Khối lượng này chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu sử dụng

của ngành dệt may. Điều đáng chú ý là cho đến nay Việt Nam vẫn chưa sản xuất

được các loại xơ- sợi tổng hợp từ các sản phẩm hố dầu. Ngành cơng nghiệp hố

dầu của Việt Nam mới chỉ ở giai đoạn đầu phát triển, tập chung chủ yếu vào khâu

gia công các sản phẩm hoá dầu từ nguyên liệu nhập khẩu gần 100%. Theo Tập đoàn

DMVN, năm 2006 tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu là 5,696 tỷ USD

(chưa kể một số hóa chất nhuộm) so với 5,834 tỷ USD tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tính đến năm 2007, ngành dệt may vẫn phải nhập khẩu đến 90% bông, gần 100%

các loại xơ sợi tổng hợp, 70% nguyên phụ liệu vải và các phụ liệu may xuất khẩu

khác. Sản lượng thực tế ngành dệt Việt Nam trong thời gian qua là 376 triệu mét vải

(năm 2003 là 513 triệu mét), tổng công suất thiết kế là 800 triệu mét vải. Song phần

lớn số vải sản xuất trong nước không đáp ứng được yêu cầu sản xuất hàng may mặc

xuất khẩu. Chính vì vậy, hàng năm các DN may mặc trong nước phải nhập khẩu

khoảng 300 triệu mét vải các loại, chiếm khoảng 80% lượng vải và sợi cần thiết cho



sản xuất trong nước (chủ yếu sử dụng cho hình thức gia cơng CMT, CMP), cao gấp

hơn 3 lần so với lượng vải có thể cung cấp trong nước cho sản xuất sản phẩm xuất

khẩu. Theo mục tiêu của kế hoạch tăng tốc, đến năm 2005, sản lượng vải trong

nước đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất sản phẩm xuất khẩu sẽ phải đạt đến 1 tỷ mét.

Theo đó, ngành DMVN thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn; chi

phí ngun liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất cao, tất yếu giảm sức cạnh tranh của

các sản phẩm, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các DN sản xuất chịu

sức ép từ các nhà cung cấp nguyên phụ liệu.

Bảng 2.1: Tình hình sản xuất xơ- sợi tổng hợp của Việt Nam 2002- 2008

Đơn vị: 1000 tấn

Sản phẩm

2002 2003 2004 2005 2006

Nhu cầu xơ polyeste

49

56

60

120 150

Nhu cầu sợi tổng hợp các 149 170 190

300 350

loại

Khả năng sản xuất

0

0

0

0

0

Tỷ lệ nhập khẩu

100 100 100

100 100

Nguồn: Viện nghiên cứu chiến lược, chính sách cơng nghiệp



2007 2008

200 180

400 420

0

100



0

100



Theo thống kê, trong khoảng 5 năm trở lại đây, diện tích trồng bơng tại Việt

Nam đã giảm nghiêm trọng. Ở thời điểm năm 2001-2002, diện tích trồng bơng trên

cả nước trên 32.600 ha. Nhưng đến niên vụ 2008-2009, chỉ còn dưới 3.000 ha. Sản

lượng bơng vải trong nước chỉ đáp ứng được khoảng 2% nhu cầu bông xơ cho

ngành sợi. Ngành dệt sợi của Việt Nam xem như mất trắng nguồn cung nguyên liệu

từ trong nước và phải nhập khẩu gần 100% bơng xơ từ nước ngồi.

Ngun nhân chính khiến diện tích bơng vải giảm mạnh là do năng suất quá

thấp (chỉ chừng 21 tạ/ha) và giá thu mua không cao (9.000 đồng/kg), khiến nông

dân không “mặn mà” với cây bông vải bằng một số loại cây công nghiệp ngắn ngày

khác.

Để ngành Bông phát triển thay thế nguyên liệu nhập khẩu, các Cty Bông thuộc

Cty CP Bông Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho người trồng

bông như: hỗ trợ 100% giống bông, đầu tư chất điều hòa sinh trưởng, thuốc bảo vệ

thực vật và phân bón bình qn 3 triệu đồng/ha,…sản phẩm được Cty bao tiêu toàn

bộ với giá thấp nhất là 9.000 đồng/kg và sẽ điều chỉnh theo thời giá. Với chiến lược

này ngành bơng bước đầu đã có tín hiệu vui khi diện tích trồng niên vụ 2008 – 2009

đã tăng trở lại.



Hiện nay, Chính phủ đã giao cho Tập đồn DMVN (Vinatex) làm đầu mối hồi

phục phát triển cây bông, đi cùng với đó là các dự án phát triển thủy lợi phục vụ

nước tưới ở vùng trọng điểm trồng bông.

Hiện đã có 8 dự án phát triển cây bơng của VinatexMart, Viện Nghiên cứu

bông Nha Hố, Công ty CP Bông Tây Ngun… được đầu tư quy mơ, trồng theo mơ

hình trang trại, nông trường ở các tỉnh Tây Nguyên, duyên hải miền Trung trên diện

tích 22.000 ha. Diện tích mỗi trang trại từ 1.000 ha đến 4.500 ha, tập trung ở các

tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Giai Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông.

Cũng để chuẩn bị trồng trên diện rộng, hiện các đơn vị đã tiến hành trồng thử

nghiệm trồng bông trên diện tích nhỏ, ở 2 trung tâm giống tại Phan Rang (Ninh

Thuận). Hiện nay, việc đầu tư sản xuất cây bông vải chủ yếu đầu tư, liên kết sản

xuất trong nông dân. Theo kế hoạch của Công ty CP Bông Việt Nam, việc hồi phục

phát triển cây bông mới bắt đầu, hiện tại chỉ dừng lại ở việc duy trì sản xuất và

chuẩn bị cho việc mở rộng diện tích sau này. Giống cây trồng vẫn sử dụng nguồn

giống có sẵn trong nước.

2.3.2. Ngành kéo sợi.

Ngành kéo sợi của Việt Nam hiện nay còn rất yếu và kém phát triển. Việt Nam

hầu như chưa có nhà máy sợi tổng hợp hiện đại nào mà mới chỉ có những nhà máy

kéo sợi từ nguyên liệu tự nhiên. Dẫn đến hạn chế lớn trong khả năng cung cấp

nguyên liệu tơ sợi trong nước cho ngành may.

Nhu cầu sử dụng sợi PP: Từ năm 1996- 1999, nhu cầu sử dụng PP tăng hàng

năm khoảng 30%, và tăng lên nhanh chóng trong những năm gần đây. Thể hiện qua

các con số sau:

Bảng 2.2: Nhu cầu tiêu thụ của cả nước giai đoạn 2001- 2008

Đơn vị: nghìn tấn

Năm



2001 2002



2003



2004



2005



2006



2007 2008



Nhu cầu



459



412



557



600



712



900



313



920



Nguồn: Bộ cơng nghiệp

Nhu cầu tiêu thụ sợi polyeste:

Đây là loại sợi có nhiều công dụng và đuợc sử dụng nhiều nhất ở thị trường

Việt Nam( khoảng 80% sản lượng sơ sợi tổng hợp). Ngành công nghiệp Dệt May là



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×