Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Các chức năng của LMP

3 Các chức năng của LMP

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trang 29



 Quản lý lỗi

Quản lý kênh điều khiển và tương quan thuộc tính đường kết nối là chức năng

khơng thể thiếu của LMP, và việc xác nhận kết nối và quản lý lỗi là những chức

năng kèm thêm.



Hình 20: Các loại đường kết nối dữ liệu13

6.3.1 Quản lý kênh điều khiển

Để chức năng LMP hoạt động, phải có ít nhất một kênh điều khiển hai hướng

giữa các hai nút kết nối bằng đường kết nối TE. Khi ít nhất một kênh điều khiển hai

hướng được thiết lập, thì các nút kết nối được gọi là LMP kế cận. Chức năng quản

lý kênh điều khiển là để thiết lập và quản lý kênh điều khiển.



13



Naoaki Yamanaka, Kohei Shiomoto, Eiji Oki, GMPLS Technologies Broadband

Backbone Networks and Systems, Chapter 8.6.3

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 30



Hình 21: Giao thức quản lý đường kết nối14

Hình 21 hiển thị một ví dụ kênh điều khiển giữa các nút. Trong ví dụ, mặc dù

kênh điều khiển đang sử dụng một phương tiện vật lý khác nhau so với cái được sử

dụng trong đường kết nối dữ liệu, nó cũng có thể sử dụng cùng phương tiện vật lý.

Giao tiếp dữ liệu điều khiển giữa các nút kế cận được thực thi bằng giao thức IP. Tất

cả gói tin LMP hoạt động như các gói tin UDP (User Datagram Protocol) có một số

cổng LMP. Trong giao tiếp bằng giao thức IP, bộ định tuyến IP có thể chèn vào giữa

các nút kế cận, và nếu giao tiếp bằng giao thức IP thì có thể khơng có sự hạn chế

trong kênh điều khiển. Kênh điều khiển này cũng có thể sử dụng giao tiếp giao thức

mở rộng OSPF hoặc mở rộng RSVP.

Kênh điều khiển của mỗi hướng được xác định bằng một tham số xác định kênh

điều khiển. Các kênh điều khiển cho cả hai hướng có thể tương ứng bằng cách sử

dụng bản tin Config. Bản tin Config được gửi từ nút này tới nút ở xa để thiết lập

kênh điều khiển. Lúc này, giao diện của kênh điều khiển trong nút ở xa cần địa chỉ

IP là cấp phát động hay là tĩnh. Bản tin Config gồm một tham số xác định kênh điều

khiển cục bộ, một tham số xác định nút phía gửi, một tham số xác định bản tin, các

tham số Config, v.v. Một bản tin LMP được gửi một cách bảo mật với tham số xác

14



Naoaki Yamanaka, Kohei Shiomoto, Eiji Oki, GMPLS Technologies Broadband

Backbone Networks and Systems, Chapter 8.6.3.1

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 31



định bản tin 32-bit và một chức năng gửi lại. Số lượng tham số xác định bản tin tăng

và trả về 0 khi nó đạt giá trị tối đa.

Nút từ xa nhận bản tin Config và gửi bản tin bản tin ConfigACK, nếu khơng có

vấn đề gì trong nội dung bản tin Config, nó gửi bản tin ConfigNack khi nội dng

truyền có vấn đề. Trong trường hợp, kênh điều khiển đường kết nối khơng thiết lập,

thì nút ở xa phải chỉnh sửa nội dụng bản tin Config và cố thiết lập kênh điều khiển.

Khi kênh điều khiển được thiết lập, giao thức LMP Hello được kích hoạt. Giao

thức LMP Hello trao đổi bản tin Hello giữa các nút kế cận và xác nhận kênh điều

khiển bình thường. Khi bản tin Hello không thể trao đổi, đường kết nối TE đưa vào

trạng thái suy giảm nhưng vẫn họa động bình thường, còn kênh điều khiển khơng

hoạt động bình thường. Khi đường kết nối TE quay lại trạng thái bình thường từ

trạng thái suy giảm, thì kênh điều khiển quay lại trạng thái thiết lập. Tuy nhiên, nếu

đường kết nối TE không thể phục hồi lại từ trạng thái suy giảm, thì đường kết nối

TE bị mất kết nối.

6.3.2 Sự tương quan thuộc tính đường kết nối

Sự tương quan này được thực thi để đồng bộ các thuộc tính của một đường kết

nối TE giữa các nút kế cận bằng nhóm các đường kết nối dữ liệu (đường kết nối

thành phần hoặc cổng) tới đường kết nối TE. Điều này được thực thi sau khi đường

kết nối TE được thiết lập hoặc sau khi đường kết nối TE thiết lập một cách tự động

bằng chức năng xác nhận kết nối mà là chức năng kèm thêm của LMP, bằng cách sử

dụng



bản



tin



LinkSummary,



bản



tin



LinkSummaryAck,







bản



tin



LinkSummaryNack.

Như hình 21, khi có một hoặc nhiều đường kết nối TE giữa các nút kế cận, mỗi

đường kết nối TE có một xác định đường kết nối tại mỗi nút ở hai đầu và mỗi

đường kết nối dữ liệu (đường kết nối thành phần hoặc cổng) có một tham số xác

định giao diện tại mỗi nút ở cả hai đầu. Xác định đường kết nối và xác định giao

diện được thể hiện bằng IPv.4, IPv.6, hoặc khơng số địa chỉ.

Nó có thể đồng bộ các thuộc tính của đường kết nối TE giữa các nút kế cận bằng

cách nhóm các đường kết nối dữ liệu (đường kết nối thành phần và cổng) đến

đường kết nối TE với bản tin LinkSummary. Bản tin LinkSummary bao gồm đối

tượng đường kết nối TE và đối tượng đường kết nối dữ liệu. Đối tượng đường kết

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 32



nối TE phân biệt tham số xác định đường kết nối cục bộ và đường kết nối từ xa của

đường kết nối TE, và chỉ thị sự xác nhận kết nối và chức năng quản lý lỗi mà chức

năng kèm thêm của LMP được hỗ trợ hoặc không. Đối tượng đường kết nối bao

gồm thông tin đường kết nối dữ liệu (loại chuyển mạch giao diện, xác định giao

diện, v.v) mà tạo đường kết nối TE.

Nút cục bộ nhận bản tin LinkSummary từ nút ở xa kiểm tra nội dung của bản tin

LinkSummary đối chiếu lại thông tin của đường kết nối TE mà nút cục bộ sở hữu.

Thông tin đường kết nối TE mà đường kết nối nút cục bộ sở hữu gồm thông tin

được sử dụng khi đường kết nối TE tự động thiết lập bằng chức năng tự động xác

nhận kết nối như chức năng kèm thêm của LMP hoặc thơng tin cầu hình được sử

dụng khi đường kết nối TE được thiết lập bằng tay.

Bản tin LinkSummaryAck gửi đến nút khởi tạo của bản tin LinkSummary khi

tham số xác định giao diện đường kết nối dữ liệu phụ thuộc vào đường kết nối TE

đồng ý với định nghĩa của thuộc tính đường kết nối. Khi nút này nhận bản tin LinkSummnaryAck, thì các thuộc tính của đường kết nối TE giữa các nút kế cận được

xác nhận. Nếu tham số xác định giao diện không đồng ý với nội dung, nó gửi bản

tin LinkSummnaryNack bao gồm nội dụng có vấn đề. Nút mà nhận bản tin

LinkSummaryNack sẽ gửi một bản tin LinkSummary mới phản hồi nội dung của

bản tin LinkSummaryNack tới nút kế cận.

Bản tin LinkSummary có thể trở nên lớn khi số lượng đối tượng đường kết nối

dữ liệu tăng. Vì vậy, trong lúc gửi và nhận bản tin LMP, nút gửi gói tin LMP có

chức năng phân chia mảnh gói tin IP, và gói nhận gói tin LMP phải có chức năng

lắp ghép các gói tin IP được phân chia mảnh.

6.3.3 Xác nhận kết nối

Có hai cách thiết lập đường kết nối TE: cách tự động và bằng tay. Khi thiết lập

bằng tay, thì kết nối của đường kết nối dữ liệu phụ thuộc vào đường kết nối TE

được xác nhận bằng tay, và sau đó các thuộc tính của đường kết nối TE được thiết

lập trên cả hai nút ở hai đầu như thơng tin cấu hình. Chức năng xác nhận kết nối của

LMP là chức năng thiết lập đường kết nối TE tự động.

Thật khó khăn để xác nhận kết nối của đường kết nối dữ liệu giữa các giao diện

trong suốt gửi và nhận báo hiệu quang với chuyển đổi chúng tới hoặc từ báo hiệu

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 33



điện. Vì thế, việc kết nối của đường kết nối dữ liệu phải được xác nhận trước khi

lưu lượng người dùng được gửi tới. Để làm như vậy, đường kết nối dữ liệu được

chuyển tới thiết bị có thể gửi hoặc nhận báo hiệu điện tại nút ở hai đầu, và sau đó

bản tin Test gửi đến đường kết nối dữ liệu để xác nhận kết nối. Khi kết nối của

nhiều đường kết nối dữ liệu cần được xác nhận, nó khơng cần gửi đồng thời bản tin

Test tới các đường kết nối dữ liệu, nhưng đó là ý tốt để xác nhận kết nối của mỗi

đường kết nối dữ liệu một tới một. Nút hỗ trợ chức năng xác nhận kết nối phải có

thể kết nối ít nhất một trong những giao diện để xác nhận thiết bị gửi và nhận bản

tin Test. Ở đây nó nên ghi chú rằng, trong LMP, chỉ bản tin Test được gửi trên

đường kết nối dữ liệu và tất cả các bản tin LMP khác được gửi trên kênh điều khiển.

Chức năng xác nhận kết nối được thực thi bằng các bản tin như: bản tin

BeginVerify, bản tin BeginVerifyAck, bản tin BeginVerifyNack, bản tin EndVerify,

bản tin EndVerifyAck, bản tin EndVerifyNack, bản tin Test, bản tin TestStatusSuccess, bản tin TestFailure, bản tin TestStatusAck.

Ở đây, chúng ta mô tả hoạt động của việc xác nhận kết nối được thể hiện hình 21.

Để chúng ta xem xét xác nhận kết nối của đường kết nối TE giữa tham số xác nhận

đường kết nối số 13 tại nút A và số 25 tại nút B.

1- Nút A gửi bản tin BeginVerify xuyên qua kênh điều khiển. Bản tin

BeginVerify bao gồm tham số xác nhận cục bộ số 13 của đường kết nối TE và

nút A bắt đầu xác nhận kết nối của đường kết nối dữ liệu phụ thuộc vào

đường kết nối TE đối chiếu nút B.

2- Khi nút B nhận bản tin BeginVerify, nó tạo tham số xác nhận và gán tham số

này đến đường kết nối TE từ nút A. Tham số này được sử dụng khi nút B

nhận bản tin Test từ nút A. Nút B nhận ra tham số xác nhận đường kết nối số

13 của nút A và gửi tham số xác nhận đường kết nối cục bộ số 25 của nó,

tham số xác nhận đường kết nối số 13, và tham số xác nhận được chèn vào

bản tin BeginVerifyAck tới nút A.

3- Khi nút A nhận bản tin BeginVerifyAck, bản tin Test được gửi trên đường kết

nối dữ liệu với xác nhận giao diện số 1. Bản tin Test gửi tham số xác nhận tới

nút B và tham số xác nhận giao diện cục bộ 1 tới nút A. Khi bản tin Test gửi



GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 34



trên đường kết nối dữ liệu, thì nút B kết nối giao diện đường kết nối dữ liệu

tới thiết bị có thể nhận và gửi báo hiệu điện để kiểm tra.

4- Khi nút B nhận bản tin Test, tham số xác nhận giao diện của nút A và nút B

được gán với nhau, bản tin TestStatusSeccess được tới nút A xuyên qua kênh

điều khiển. Bản tin TestStatusSuccess bao gồm tham số xác nhận giao diện và

tham số xác nhận của cả hai nút. Tham số xác nhận này nhận ra đường kết nối

TE hoặc xác nhận đường kết nối.

5- Nút A gửi bản tin TestStatusSuccess tới nút B để thơng báo nó đã nhận bản tin

TestStatusSuccess.

6- Các thủ tục này được lặp lại để duy trì các đường kết nối dữ liệu xác nhận

mỗi đường kết nối.

7- Khi tất cả các đường kết nối dữ liệu được kiểm tra, nút A gửi bản tin

EndVerify xuyên qua kênh điều khiển tới nút B.

8- Cuối cùng, nút B gửi bản tin EndVerifyAck tới nút A để chỉ ra nó đã nhận bản

tin EndVerify xuyên qua kênh điều khiển.

Việc sử dụng các thủ tục này, nó có thể xác nhận việc kết nối của các đường kết

nối dữ liệu một cách tự động.

6.3.4 Quản lý lỗi.

Quản lý lỗi là một chức năng kèm theo của LMP có vai trò xác định vị trí lỗi của

đường kết nối TE. Khả năng kiểm tra lỗi của đường kết nối TE và xác định vị trí lỗi,

điều đó có thể bảo vệ mạng ngay và khôi phục từ trạng thái lỗi. Chức năng quản lý

lỗi được thực hiện bằng cách sử dụng các bản tin như: bản tin ChannelStatus, bản

tin ChannelStatusAck, bản tin ChannelStatusRequest, bản tin ChannelStatusResponse.

Trong trường hợp giao diện trong suốt nhận và gửi các báo hiệu quang mà không

chuyển đổi đến hoặc từ báo hiệu điện, phát hiện đường kết nối dữ liệu lỗi được thực

hiện bằng cách đo suy giảm tín hiệu ở lớp vật lý, chẳng hạn như sự tắt tín hiệu

quang. Tuy nhiên, chức năng quyến định suy giảm của lớp vật lý thì độc lập với

chức năng LMP.



GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 35



Khi lỗi xảy ra trên đường kết nối dữ liệu giữa các nút, nó có thể xảy ra tất cả các

nút phía xi hướng của LSP phát hiện lỗi và tạo ra nhiều cảnh báo mà khơng phát

hiện ra vị trí lỗi. Xi/ngược hướng được xác định bởi hướng truyền dữ liệu đi. Để

tránh tạo nhiều cảnh báo cho cùng một lỗi, thì chức năng thơng báo lỗi được sẵn

sàng bằng việc sử dụng bản tin ChannelStatus trong LMP.

Để xác định đường kết nối bị lỗi giữa các nút kế cận, thì các nút xi hướng phát

hiện một lỗi của LSP thông báo rằng chúng phát hiện một lỗi đến các nút ngược

hướng bằng cách sử dụng bản tin ChannelStatus. Các nút ngược hướng kiểm tra

xem một lỗi đường kết nối ngược hướng đã được phát hiện hoặc không trái với lỗi

đường kết nối xuôi hướng. Nếu đường kết nối ngược hướng nhìn thấy từ chính nút

nó bình thường, thì nó thơng báo có một lỗi trong kết nối giữa các nút kế cận đến

các nút xuôi hướng bằng cách sử dụng bản tin ChannelStatus. Nếu lỗi cũng được

phát hiện trong chính nút ngược hướng thì nó thơng báo đường kết nối các nút kế

cận bình thường bằng cách sử dụng bản tin ChannelStatus. Nếu bản tin

ChannelStatus khơng được gửi từ nút ngược hướng, thì nó gửi bản tin

ChannelStatusRequest tới nút ngược hướng. Khi vị trí lỗi trên đường kết nối dữ liệu

được xác định, thì q trình khơi phục từ lỗi được thực hiện bằng giao thức báo

hiệu.

7 Mơ hình ngang hàng và mơ hình phủ kính

Từ quan điểm của hoạt động mạng, GMPLS hỗ trợ hai mơ hình, mơ hình ngang

hàng (Peer Model) và mơ hình phủ kính (Overlay Model). Hình 22 và hình 23 thể

hiện mơ hình ngang hàng và mơ hình phủ kính. Phần này, chúng ta mơ tả mạng gồm

có bộ định tuyến IP và OXC.



GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QT



Trang 36



Hình 22: Mơ hình ngang hàng15

7.1 Mơ hình ngang hàng

Như hình 22, trong mơ hình ngang hàng, tất cả bộ định tuyến IP và OXC với

mạng tồn tại là nút ngang hàng, một điều tương đương, và chúng được điều khiển

bằng một mặt phẳng điều khiển duy nhất. Các bộ định tuyến IP và OXC có thể lấy

thơng tin mạng topo của tất cả lớp gói tin và lớp λ. Địa chỉ IP đặt cho các bộ định

tuyến IP và OXC phải cùng hệ thống địa chỉ.

Bởi vì mơ hình ngang hàng hoạt động bằng một mặt phẳng điều khiển duy nhất,

nó có thể vẽ ra đầy đủ giá trị phân cấp của LSP và nhiều lớp kỹ thuật lưu lượng mà

đó là tính năng đặc trưng của GMPLS cho mạng với cấu trúc lớp phức tạp. Hơn

nữa, mơ hình ngang hàng có giá trị, nó có thể thực thi việc bảo vệ hai đầu cuối hoặc

khơi phục thậm chí có nhiều lớp xen kẽ với nhau.

Tuy nhiên, trong mơ hình ngang hàng, bởi vì các trạng thái đường kết nối của các

lớp được quảng bá tới mỗi nút, lượng lớn thông tin được chuyển đổi xuyên qua mặt

phẳng điều khiển. Hơn nữa, nếu kỹ thuật lưu lượng nhiều lớp được thực thi xem xét

các trạng thái kết nối của tất cả các lớp, số lượng tính tốn cần thiết trở nên rộng

lớn. Với khả năng mở rộng vấn đề này, thật khó khăn để nhận ra một mơ hình ngang

hàng hồn hảo. Ngược lại, mơ hình phủ kính có thể giải quyết vấn đề mở rộng này.

15



Naoaki Yamanaka, Kohei Shiomoto, Eiji Oki, GMPLS Technologies Broadband

Backbone Networks and Systems, Chapter 8.7.1

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Trang 37



Trong tương lai gần, sự mong đợi một mơ hình ngang hàng hồn hảo hơn sẽ được

thực hiện trong các giai đoạn bằng cách giới thiệu mơ hình ngang hàng sang mơ

hình phủ kính.

7.2 Mơ hình phủ kính

Như hình 23, mơ hình phủ kính được tách riêng sang mặt phẳng điều khiển IP và

mặt phẳng điều khiển quang, cả hai kết nối bằng UNI (User Network Interface).

Lớp IP khơng thể biết mơ hình topo của lớp λ, và OXC khơng thể biết mơ hình topo

của lớp gói tin. Bởi vì, các mặt phẳng điều khiển đã tách riêng, địa chỉ IP của bộ

định tuyến IP và địa chỉ IP của OXC có thể có từ các hệ thống địa chỉ khác nhau.



Hình 23: Mơ hình phủ kính16

Mơ hình phủ kính có thể xem như mơ hình client-server (lớp trên được thấy như

client, lớp dưới được thấy như server). Khi một yêu cầu tạo LSP (PSC-LSP) giữa

các bộ định tuyến IP đưa ra, thì lớp gói tin yêu cầu lớp λ xuyên qua UNI quang để

có thể đặt một tài nguyên mạng mong muốn hoặc không. Nếu có thể, nó tạo LSP



16



Naoaki Yamanaka, Kohei Shiomoto, Eiji Oki, GMPLS Technologies Broadband

Backbone Networks and Systems, Chapter 8.7.2

GMPLS - CHUYỂN MẠCH NHÃN ĐA GIAO THỨC TỔNG QUÁT



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Các chức năng của LMP

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×