Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
III. GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THÂM NHẬP SÂU HƠN VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

III. GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THÂM NHẬP SÂU HƠN VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ là nhân tố đóng vai trò quyết định

đối với sự phát triển của ngành dệt may. Vấn đề cấp bách hiện nay là cần

mạnh dạn đổi mới quy trình cơng nghệ, kết hợp đúng mức các trình độ cơng

nghệ hiện có, đầu tư mua sắm thiết bị Dệt May đồng bộ, đạt tiêu chuẩn kĩ

thuật cao, loại bỏ dần các thiết bị cơng nghệ lạc hậu, khơng còn thích hợp.

Đầu tư cơng nghệ hiện đại, các công nghệ thuộc thế hệ mới nhất trên

thế giới cho các dự án đầu tư mới với quy mô đủ lớn. Tập trung các dự án đầu

tư mới, với quy mô đủ lớn, đủ tiềm lực về vốn để tiếp cận công nghệ hiện đại

tiên tiến nhất, cơng nghệ thế hệ mới nhất.

Bởi vì:

Hàng dệt may có đặc điểm là có tính linh động cao trên thị trường, chu

kỳ sản phẩm ngắn, tính mốt thể hiện rõ, tính quốc tế cao. Do đó cơng nghệ

phải đổi mới nhanh và theo hướng hiện đại. Đổi mới máy móc thiết bị giúp

năng suất tăng cao, chất lượng sản phẩm được đảm bảo tốt hơn, đảm bảo số

lượng các đơn đặt hàng mà khách hàng yêu cầu.

Khi thiết bị hiện đại, chúng ta có đủ điều kiện để sản xuất những sản

phẩm thời trang, các sản phẩm đa dạng hơn, nhiều mẫu hơn, đáp ứng được

những khách hàng khó tính. Khi các mặt hàng có chất lượng tốt, kiểu dáng

hấp dẫn dần dần Việt Nam sẽ xây dựng được thương hiệu về sản phẩm dệt

may của mình.

Đối với các khâu kéo sợi, dệt, nhuộm, hồn tất thì trình độ công nghệ

hiện đại sẽ trở thành yếu tố quyết định sự tồn tại và phát triển của ngành.

Đầu tư đổi mới thiết bị công nghệ phải nhằm đưa công nghiệp Dệt may

trở thành ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân. Ngành dệt may phải phát

triển với quy mô lớn và đạt trình độ tiến tiến, đủ sức hòa nhập với nền kinh tế

thế giới.

Phát triển công nghiệp Dệt phải gắn liền với công nghiệp may nhằm

nâng cao chất lượng nguyên liệu các doanh nghiệp may, giảm bớt nhu cầu

nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài, tạo điều kiện cung cấp vải sợi ổn định,



chủ động cho may hàng xuất khẩu, nâng cao giá trị gia tăng, góp phần tăng

ngân sách quốc gia và tăng tích luỹ để tiếp tục tái đầu tư cho công nghệ mới

nhằm đáp ứng yêu cầu của ngành may.

Xu thế hiện nay, các doanh nghiệp dệt may trên thế giới đang chuyển

đến sản xuất tại Việt Nam nhiều hơn do vậy cần chú ý để tiếp nhận tốt sự

chuyển dịch này. Chúng ta cần tăng cường mối liên kết hợp tác với các tập

đoàn phân phối, bán lẻ lớn trên thế giới nhằm ổn định khách hàng và từng

bước tham gia vào các chuỗi liên kết của họ. Sự liên kết này còn nằm trong

chuỗi liên kết giữa các nhà sản xuất và cung ứng nguyên phụ liệu cùng hệ

thống các nhà tiêu thụ sản phẩm. Hướng phát triển của ngành cần được

chun mơn hóa và hợp tác hóa nên do vậy cần đầu tư ngay vào công nghệ

mới để tạo bước nhảy vọt về chất lượng và mang lại giá trị gia tăng.

Ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và thanh khoản hợp đồng

gia công, triển khai quản lý rủi ro luồng hàng hóa, tăng cường cơng tác chống

bn lậu, gian lận thương mại, chuyển tải bất hợp pháp… giúp các doanh

nghiệp may có thể tối ưu hóa sản xuất, cắt giảm chi phí… Doanh nghiệp có

thể quản lý thơng tin sản phẩm, quản lý nhà cung cấp, quản lý đơn vị sản

xuất, quản lý các đơn vị gia công và thầu phụ, quản lý nhà tiêu thụ và phân

phối lẻ, quản lý thương hiệu một cách dễ dàng, hiệu quả hơn.

Đối với các dự án các nhà đầu tư trong nước, cần phải cân nhắc kỹ càng

trong việc lựa chọn công nghệ. Tập đoàn Dệt May Việt Nam cần tư vấn, hỗ

trợ về thông tin các nguồn cung cấp công nghệ, các thế hệ công nghệ giúp các

nhà đầu tư tránh được việc nhập khẩu các công nghệ đã lạc hậu, công nghệ

thải hồi của các nước, nhất là các nước công nghiệp mới như Hàn Quốc,

Trung Quốc…

Đầu tư cơ sở hạ tầng nhằm hình thành các khu cơng nghiệp chun

ngành sợi, dệt, nhuộm - may. Bao gồm hạ tầng cơ sở đường xá, thoát nước,



đặc biệt chú ý đến vấn đề xử lý nước thải, đây là vấn đề rất quan trọng đối với

các cơ sở in nhuộm, hoàn tất.

Ngoài ra, Chính phủ cũng cần có cơ chế khuyến khích các DN dệt nước

ngoài đầu tư vào VN để giúp dệt VN tiếp cận công nghệ hiện đại thế giới.

2Trở thành nhà cung ứng đạt tiêu chuẩn khách hàng

Trong chuỗi giá trị tồn cầu của ngành Dệt may, các cơng ty của Việt

Nam hiện nay chủ yếu vẫn sản xuất theo tiêu chuẩn khách hàng (OEMOriginal Equiment Manufacture). Tuy nhiên, trở thành nhà cung ứng đạt

chuẩn OEM vẫn đang còn nhiều vấn đề lớn mà các doanh nghiệp Việt Nam

cần cố gắng hơn nữa so với các nước Đông Á. Bởi vì có một thực trạng mà ta

vẫn thấy ở các doanh nghiệp dệt may ở VN đó là: Một số doanh nghiệp khi

gia công, thời gian đầu sản phẩm đạt yêu cầu, lấy được sự tin cậy từ khách

hàng. Nhưng những đơn hàng sau, sau khi được xuất khẩu sang thị trường

nước ngồi thì hàng loạt các lơ hàng bị trả lại do không đạt yêu cầu mà họ đặt

ra. Như vậy, vừa mất thời gian, vừa tốn kém, vừa mất uy tín mà trong chuỗi

cung ứng tồn cầu, nếu bị mất uy tín một lần thì sẽ mất vị trí và rất khó lấy lại

vị trí đó. Mục tiêu mà Dệt may cần phấn đấu không chỉ dừng lại ở trở thành

nhà cung ứng đạt tiêu chuẩn khách hàng OEM mà cần phải sản xuất dưới

dạng sản xuất thiết kế gốc (ODM - Original Design Manufacture) hay là sản

xuất nhãn hiệu gốc (OBM - Own Brand Manufacture). Bởi vì hình thức OEM

là cơng ty cung cấp sản xuất sản phẩm theo thiết kế đặc biệt của người mua và

sản phẩm được bán dưới nhãn hiệu của người mua, cơng ty cung cấp hầu như

rất ít quyền lực trong việc phân phối. Tuy nhiên, với thực tế hiện nay, để tiến

lên bước này thì trước tiên các Doanh nghiệp phải trở thành nhà cung ứng đạt

chuẩn khách hàng. Muốn như vậy các Doanh nghiệp cần:

- Xây dựng hình ảnh ngành dệt may Việt Nam với chất lượng, thời trang,

thân thiện với môi trường.

- Tổ chức các lớp đào tạo để nâng cao trình độ cho người lao động.

- Quán triệt tới các công nhân về chất lượng của sản phẩm.



- Mỗi lô hàng xuất đi cần phải kiểm tra cẩn thận, kĩ lương hơn.

- Doanh nghiệp dệt may cần đẩy nhanh quá trình xây dựng tiêu chuẩn

SA8000 để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, đặc biệt là đối với thị

trường Hoa Kỳ.

- Uy tín của doanh nghiệp với khách hàng phải đặt lên hàng đầu…

3 Phát triển lĩnh vực thiết kế

Trong chuỗi giá trị toàn cầu khâu đem lại lợi nhuận cao nhất là thiết kế

mẫu, cung cấp nguyên phụ liệu và thương mại. Nhưng khó khăn của Việt

Nam hiện nay là trình độ thiết kế thời trang vẫn còn non kém, khơng thể đưa

ra sản phẩm hồn chỉnh, chưa có những trường dạy chun nghiệp, lực lượng

những nhà thiết kế trẻ dù đã được đào tạo nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu

thường xuyên thay đổi của người tiêu dùng. Cả nước cả nước có hàng chục

địa chỉ đào tạo nhà thiết kế thời trang nhưng rất tiếc chưa có nơi nào đào tạo

nhà tiếp thị thời trang chuyên nghiệp. Mọi trung tâm đều đào tạo chung

chung, mà từ đào tạo chung đến đào tạo hàng fashion là một khoảng cách rất

lớn. Để ngành dệt may VN trong mắt thế giới sẽ có tầm hơn, đủ mạnh để có

vị thế hợp tác ngang bằng nhằm mua được hàng hóa với giá hợp lý nhất thì

phải đặt đào tạo lên hàng đầu, đầu tư vào khâu thiết kế sản phẩm, và tạo ra

thương hiệu riêng cho dệt may VN trên thế giới.

Muốn phát triển được lĩnh vực này một cách có hiệu quả, các doanh

nghiệp Dệt may cần:

- Có sự hỗ trợ từ phía Nhà Nước

- Tăng tỷ lệ xuất khẩu dưới hình thức FOB( tham gia vào khâu ý tưởng

thiết kế)

- Nghiên cứu các thiết kế sản phẩm mới mang những nét đặc trưng riêng.

Sản xuất các sản phẩm có sự khác biệt hóa cao, có tính độc đáo, hiện đại và

đẳng cấp.

- Nắm bắt được xu thế thời trang của thế giới.

- Phát triển thị trường thời trang Việt Nam tại các đô thị và các thành phố

lớn



- Gửi người ra nước ngoài để học tập, nghiên cứu, tiếp cận với xu hướng

thời trang tại các trung tâm thời trang nổi tiếng như Paris (Pháp), New York

(Mỹ) và Tokyo (Nhật Bản). Tuy nhiên, để đào tạo được những nhà thiết kế

giỏi, chuyên nghiệp không phải là chuyện một sớm một chiều. Vì thế, trước

mắt, các doanh nghiệp cần tăng cường ký kết các thỏa thuận về hợp tác trong

lĩnh vực dệt may, mời các chuyên gia thiết kế nước ngoài sang hợp tác, giúp

đỡ VN trong khâu thiết kế và cả đào tạo.

- Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May với chất

lượng tốt tạo điều kiện cho họ phát huy khả năng của mình, xây dựng Trường

Đại học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vật chất cho việc triển khai các

lớp đào tạo.

- Đầu tư xây dựng các trung tâm đào tạo nhà thiết kế với chất lượng cao

và hợp tác quốc tế.

- Tích cực tham gia vào mạng lưới sản xuất trong khu vực và chuỗi giá

trị toàn cầu của ngành dệt may như Liên đoàn Dệt May ASEAN (AFTEX),

Uỷ ban Quốc tế về Dệt May...

- Tổ chức các hoạt động xúc tiến thương mại và kêu gọi đầu tư trong

nước và khu vực, tổ chức các hội nghị, hội thảo, diễn đàn về dệt may quốc tế,

khu vực... để giúp các doanh nghiệp dệt may Việt Nam và các nước trong khu

vực, quốc tế gặp gỡ, học hỏi, tăng cường hợp tác liên kết cùng nhau giúp đỡ,

định hướng phát triển, tăng sức mạnh của khối các nước sản xuất xuất khẩu

dệt may trên thế giới, để tiếp cận thị trường mục tiêu, chủ động nắm bắt được

nhu cầu khách hàng và tiếp đó, đưa ra những thiết kế phù hợp.

4 Phát triển nguyên phụ liệu.

Hiện nay áp lực lớn nhất của ngành Dệt May là chưa tạo được nguồn

nguyên liệu cho sản xuất. Nguyên liệu phục vụ cho ngành Dệt may được nhập

khẩu đến 90%, tuy có kim ngạch xuất khẩu cao nhưng tỷ lệ thu về lại thấp,

chỉ ước tính khoảng 35- 38% tổng kim ngạch. Do đó ngành dệt may phải quy

vùng nguyên liệu, đặc biệt là trồng bông.



Tháng 3 năm 2008: Chiến lược phát triển của chính phủ Việt Nam

nhằm khuyến khích sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng (value-added

products), nhấn mạnh sử dụng bông trồng trong nước, xúc tiến sản xuất vải

dệt chất lượng cao bằng cách nâng cao cơng đoạn nhuộm và hồn tất, và tập

trung vào đào tạo nhân lực quản lý và thiết kế.

Năm 2009: Chương trình phát triển cây bơng: mục đích tăng gấp 3 lần

sản lượng bông đến năm 2020, bao gồm cung cấp hạt giống bơng miễn phí tới

các tỉnh và Vinatex cũng sẽ đầu tư sản xuất bông.

Để giải quyết bài toán nguyên phụ liệu cho ngành dệt may, năm 2010,

Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) sẽ hạn chế đầu tư dàn trải mà tập trung

vào khâu tạo giá trị gia tăng cao cho ngành sản xuất cốt lõi dệt may.

Hiện, tổng số vốn đầu tư mà Vinatex dự kiến dành cho các chương trình trọng

điểm năm nay là hơn 1.400 tỷ đồng, trong đó có việc liên doanh sản xuất xơ

polyester và tìm địa điểm xây dựng các khu công nghiệp dệt nhuộm.

Mặt khác, Vinatex đang triển khai chương trình phát triển cây bơng với

việc tích cực tìm kiếm quỹ đất để phát triển trang trại sản xuất bơng tập trung,

theo đó, có 8 dự án đã đăng ký thực hiện với diện tích gần 2.000ha, trong đó 2

dự án đang triển khai.

Ngoài ra, Vinatex và Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam cũng đang

phối hợp xây dựng nhà máy sản xuất sợi tổng hợp tại khu cơng nghiệp Đình

Vũ (Hải Phòng) với cơng suất 600 tấn/ngày, dự kiến năm 2012 đi vào sản

xuất, đáp ứng 100% nhu cầu xơ, sợi tổng hợp cho ngành dệt.

Đặc biệt, Vinatex còn xây dựng 4 khu cơng nghiệp dệt, nhuộm tại các

tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Long An và Trà Vinh nhằm khuyến khích doanh

nghiệp trong và ngồi nước đầu tư sản xuất nguyên phụ liệu cho ngành dệt

may

Đồng thời chúng ta phải cải thiện chất lượng nguyên phụ liệu, đa dạng

các loại vải, khâu thiết kế mà ta vẫn thường nói tới, là rất quan trọng. Nhưng

ở đây là thiết kế vải, chứ không phải thiết kế thời trang cho may, như chúng ta



thường nhắc tới. Nhiều nước cũng đã thành cơng khi đi theo hướng này, mà

điển hình là Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc… và gần đây là Thái Lan. Ngoài

việc thiết kế ra các loại vải đáp ứng các mẫu thời trang mới, các quốc gia này

còn tiên phong trong việc sáng tạo ra các loại vải thân thiện với môi trường

(vải chống bụi, diệt khuẩn), vải khốc ngồi nano để giữ ấm, vải có tính hút

ẩm cao và mang mùi hương tự nhiên… và nhiều loại vải kỹ thuật khác…

Hướng đi này đã giúp cho các quốc gia nói trên cạnh tranh được với các quốc

gia khác trên thị trường quốc tế. Đây có thể là một hướng phát triển cho

ngành Dệt, nhằm nâng cao hiệu quả cho ngành May xuất khẩu.

5 Xây dựng mạng lưới phân phối.

Để có thể triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, các doanh

nghiệp may Việt Nam cần phải liên kết với nhau về nhân lực và tài chính, với

trung tâm là Hiệp hội Dệt - May Việt Nam. Mục tiêu trước mắt là tham gia

các hội chợ thương mại quốc tế để giới thiệu các thương hiệu doanh nghiệp có

tiếng, như Việt Tiến, May 10, Nhà Bè… với các mẫu mã chất lượng cao đã

từng gia công cho khách nước ngồi, nhằm tìm kiếm các nhà bn trực tiếp

mà khơng cần qua khâu mơi giới. Còn các khâu phân phối khác, thì… tiếp cận

dần.

Khuyến khích các cơng ty lớn thiết lập mối quan hệ lâu dài với các nhà

nhập khẩu và bán lẻ nước ngoài, tăng thêm giá trị gia tăng cho các sản phẩm

bằng cách sử dụng công nghệ thời trang, chú trọng tới thị trường nội địa và

cải thiện đời sống của công nhân.

Xây dựng các tổ chức marketing và hệ thống nước,khu vực và các hãng

với các tổ chức quốc tế cống hiến cho sự phát triển tiêu chuẩn, tích cực hỗ trợ

ngành, nghiên cứu và phát triển , và có thực tiễn tốt. Hỗ trợ tham gia các triển

lãm,mhội chợ thương mại quốc tế để tăng khả năng tiếp cận với các người

mua tiềm năng.



Tìm kiếm và tận dụng những cơ hội để làm việc trực tiếp với các khách

hàng cuối cùng; xây dựng thương hiệu mạnh riêng cho ngành dệt may Việt

Nam nhằm thúc đẩy sự phát triển của ngành dệt may Việt Nam.



KẾT LUẬN

Thị trường kinh doanh hàng dệt may thế giới cạnh tranh ngày càng gay

gắt, lợi thế cạnh tranh xuất khẩu nhìn chung vẫn nghiêng về các nước đang

phát triển như: Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Pakistan, Campuchia…

Thương mại dệt may thế giới sẽ ngày càng tập trung vào tay các tập đoàn bán

lẻ đa quốc gia, từ việc chuyển dịch đầu tư, sản xuất, thiết kế sản phẩm, phân

khúc thị trường, tổ chức các chuỗi sản xuất - cung ứng cho đến khâu tiêu thị

sản phẩm cuối cùng. Các nước nhỏ, các nhà sản xuất và các cơng ty trung

gian nhỏ ngày càng khó có cơ hội phát triển nếu nằm ngoài các chuỗi cung

ứng này.

Việt Nam dù đã tham gia vào chuỗi nhưng ngành dệt may Việt Nam

vẫn bị coi là “đi trên đôi chân của người khác”do tỷ lệ gia công cao, chưa

thâm nhập sâu vào chuỗi giá trị. Tuy nhiên, chúng ta không nên cảm thẩy thất



vọng thay vì đó chúng ta phải đặt nhiều hi vọng cho sự tăng trưởng bởi mặc

dù ở vị trí thấp nhưng cuộc sống người dân Việt Nam vẫn tương đối khá giả

trong mức độ này.

Trong những năm tới, Việt Nam cần sử dụng một cách hiệu quả về ưu

thế của nguồn nhân lực, giảm tỷ lệ gia công, phát triển các khâu như thiết kế

mẫu, công nghiệp phụ trợ… Phát triển ngành dệt may theo hướng đầu tư

chun mơn hố, hiện đại hố nhằm tạo ra bước nhảy vọt về chất và lượng

của sản phẩm; công nghiệp Dệt may trở thành một trong những ngành công

nghiệp trọng điểm với tăng trưởng sản xuất công nghiệp là 16- 18%, tăng

trưởng xuất khẩu hàng năm là 20%, đạt kim ngạch xuất khẩu từ 10 – 12 tỷ

USD, tạo việc làm cho 2,5 triệu lao động và đứng vững trên “biển lớn”.



DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.

Báo điện tử Văn Hóa Doanh Nhân Việt Nam - Tổng biên tập Nhà Văn Lê

Lựu kinh tế 16/07/2009

2. Bộ Công nghiệp – Tập đoàn dệt may Việt Nam (2005), Qui hoạch phát triển

ngành Dệt May Việt Nam đến năm 2015 – tầm nhìn 2020, Hà Nội.

3. Diễn Đàn Thương Gia Việt Nam - Merchant.Vn, 14/07/2009 “Những thành tựu

của ngành dệt may sau khi Việt Nam gia nhập WTO”

4. Hiệp hội dệt may Việt Nam “Báo cáo tại Đại Hội nhiệm kỳ III của Hiệp hội Dệt

may Việt Nam” – tháng 5/2007.

5. Hiệp hội Dệt May Việt Nam, Tổng công ty Dệt May Việt Nam, Chiến lược tăng

tốc phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2010.

6. http://www.ncseif.gov.vn, Tạp chí Kinh tế và dự báo số 6/2008 11(427) Bộ Kế

Hoạch và Đầu Tư.

7. http://tintuc.xalo.vn/042144763839/cho_dung_nao_trong_chuoi_gia_tri_toan_cau.html

8. http://nguoilanhdao.vn/Details/thuong-truong/nganh-det-may-va-thi-truongtrong-nuoc-quay-ve-khong-de/32/49605.

9. http:// www.cpv.org.vn, ngày 24/9/2007 “Năm 2010: Ngành dệt may Việt Nam

đạt kim ngạch xuất khẩu từ 10-12 tỷ đô la”.

10. http:// www.viettien.com.vn, “Ngành dệt may Việt Nam 2007- 2010-Thời trang công nghệ - thương hiệu”

11. http:// www.agtex.com.vn, ngày 29/5/2007 “Chiến lược thay đổi chất cho dệt

may Việt Nam”

12. http:// www.vietnamnet.vn, ngày 24/11/2006 “Sức ép lớn lên doanh nghiệp dệt

may”.

13. Nguyễn Thị Bích Thu (2007), “Đào tạo nguồn nhân lực để ngành Dệt May Việt

Nam đủ sức cạnh tranh khi Việt Nam đã là thành viên của WTO”, Tạp chí Khoa

học và Cơng nghệ, số 2 (19)/2007

14. Tạp chí cộng sản Điện tử- Thế giới: Vấn đề sự kiện số 17(185) 2009

15. Vị thế của dệt may Việt Nam trên thế giới – Thanh Hoan homepage, 26-3-2009



MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................1

I.



LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CHUỖI GIÁ TRỊ.......................................3



1. Thế nào là chuỗi giá trị............................................................................3

2. Vai trò của chuỗi giá trị............................................................................4

II. THỰC TRẠNG VỀ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM TRONG CHUỖI

GIÁ TRỊ TOÀN CẦU.....................................................................................6

1. Vài nét về ngành dệt may Việt Nam........................................................6

2. Dệt may Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.....................................7

2.1



Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu.........................................................7



2.1.1



Thiết kế mẫu mã.......................................................................10



2.1.2.



Sản xuất nguyên, phụ liệu........................................................10



2.1.3. Sản xuất gia công...........................................................................11

2.1.4.



Marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng.....................11



2.2 Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu sản xuất( gia công) nên tạo

ra giá trị gia tăng rất ít..............................................................................12

2.3



Ngun nhân....................................................................................15



2.3.1 Thiết bị cơng nghệ lạc hậu.............................................................15

2.3.1



Nguyên vật liệu kém chất lượng, phải nhập khẩu nhiều.......15



2.3.3 Nguồn nhân lực dồi dào, giá rẻ nhưng trình độ chưa cao đặc biệt

là thiếu các nhà thiết kế chuyên nghiệp................................................17

1.3.4

Mạng lưới phân phối còn hạn chế, marketing chưa chuyên

nghiệp ....................................................................................................19

3.Điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của ngành dệt may Việt Nam

.........................................................................................................................20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

III. GIẢI PHÁP ĐỂ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM THÂM NHẬP SÂU HƠN VÀO CHUỖI GIÁ TRỊ TOÀN CẦU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×