Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Tải bản đầy đủ - 0trang

phải chuyển trọng tâm sang các sản phẩm có giá trị cao hơn hoặc sang các sản

phẩm chế tạo với sự tập trung lao động thấp hơn.

Việc phân công lao động giữa các nước tại những mức độ phát triển

khác nhau hình thành nên sự nâng cấp cơng nghiệp trong chuỗi giá trị may

mặc. Những lĩnh vực chính trong chuỗi may mặc-như may mặc, dệt, xơ sợi và

thiết bị được sắp đặt dọc theo chiều ngang và nó phản ánh mức độ giá trị gia

tăng tương đối từ thấp lên cao khi tăng vốn đầu tư. Ở Châu Á Các nước được

nhóm theo trục dọc theo mức độ phát triển tương đối của mình, với Nhật bản

đứng đầu, Trung quốc và Ấn độ ở mức giữa, và các nước xuất khẩu kém phát

triển nhất như Bangladesh, Cambodia, và Việt nam đứng cuối.

Đầu tiên, các nước có xu hướng tiến bộ từ các lĩnh vực có giá trị gia

tăng thấp lên cao trong chuỗi thời trang theo thời gian. Điều này cho thấy tầm

quan trọng của việc xem xét toàn bộ các bước giá trị gia tăng trong quá trình

sản xuất (nguyên liệu, cấu kiện, hàng thành phẩm, dịch vụ liên quan, và thiết

bị ) hơn là chỉ xem xét sản phẩm cuối cùng. Thứ 2 là có sự phân cơng lao

động khu vực trong chuỗi giá trị may mặc, nơi các nước có mức độ phát triển

khác nhau tạo thành 1 hệ thống thang bậc nhiều lớp với vai trò xuất khẩu khác

nhau (ví dụ Mỹ thường đưa ra thiết kế sản phẩm và đơn hàng lớn, Nhật bản

cung cấp thiết bị may, các nền kinh tế mới nổi tại Đông Á (NIEs) cung cấp

vải, và các nền kinh tế châu Á khác có mức lương thấp như Trung quốc,

Indonesia, hoặc Việt nam may hàng may mặc). Sự nâng cấp cơng nghiệp xảy

ra khi các nước thay đổi vai trò của mình trong hệ thống thang bậc xuất khẩu

đó. Cuối cùng là, các nền kinh tế tiên tiến như Nhật bản và các nước NIE

Đông Á không muốn rời xa ngành này khi hàng thành phẩm của họ trong

chuỗi đã trở nên chín muồi, theo mơ hình “vòng đời sản phẩm”, nhưng họ lại

đầu tư vốn dựa trên kiến thức sản xuất và hệ thống phân phối của mình, do



vậy chuyển dịch sang những giai đoạn giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi

may mặc.

Hiện nay, Trên thị trường dệt may tồn cầu, Trung Quốc là lực lượng

chính- là nước xuất khẩu hàng dệt may lớn nhất Thế giới. Tuy nhiên, Nhiều

nước xuất khẩu hàng dệt may khác có chi phí lao động thấp hơn Trung Quốc

như Bangladesh, Sri Lanka và Việt Nam đã bắt đầu mở rộng thị phần. Bên

cạnh đó, nhiều thị trường nhập khẩu lớn trên thế giới như Mỹ, EU và Nhật

Bản cũng muốn giảm sự phụ thuộc nhập khẩu hàng dệt may từ Trung Quốc và

đã chuyển hướng hợp tác sang các nhà sản xuất châu Á khác.

Theo các nghiên cứu đã được công bố, chuỗi giá trị của ngành dệt may

bao gồm các khâu: sản xuất nguyên, phụ liệu; thiết kế thời trang; may gia

công; marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng; và được tính tốn, phân

chia giá trị theo biểu đồ dưới đây:



Giá trị đóng góp

vào SP



Từ biểu đồ trên cho thấy, giá trị gia tăng của các cơng đoạn góp phần

vào giá trị sản phẩm.

2.1.1 Thiết kế mẫu mã

Đầu tư để làm chủ khâu thiết kể thời trang, có thể chủ động đưa ra các

mẫu mốt, phù hợp với xu hướng thời trang thế giới. Khi được thị trường chấp

Công đoạn

nhận thì giá trị của khâu này trong chuỗi giá trị tồn cầu chiếm

5%.

Thiết kế

5%



Sx ngun

phụ liệu

18%



Gia cơng

7%



Marketing và phân phối

70%



Đây là khâu rất quan trọng đòi hỏi trình độ cao và tiền cơng cao hơnkhâu có tỷ suất lợi nhuận cao nhất, nhưng lại là khâu yếu nhất của ngành may

mặc Việt Nam. Chỉ khoảng 30% giá trị xuất khẩu của ngành dưới dạng FOB

(tức là có tham gia vào khâu ý tưởng của thiết kế) còn lại xuất khẩu dưới dạng

hình thức gia cơng. Thiết kế kiểu dáng chủ yếu được làm ở các trung tâm thời

trang thế giới tại Paris, London, New York... ở khu vực Mỹ, Châu Âu. Vải

được sản xuất ở Trung Quốc, các phụ liệu đầu vào khác được sản xuất tại Ấn

Độ.

2.1.2. Sản xuất nguyên, phụ liệu

Phát triển sản xuất nguyên phụ liệu , kể cả đầu tư để phát triển thượng

nguồn ( bông, xơ), vải và các loại phụ liệu khác. Làm chủ được khâu này giá

trị trong chuỗi giá trị toàn cầu chiếm 18%.

Những năm gần đây, cơng nghiệp lọc hố dầu phát triển đã mở ra cho

chúng ta một triển vọng mới trong việc tự túc các loại bông xơ nhân tạo. Tuy

nhiên, việc phát triển bông tự nhiên, mặc dầu chúng ta đã có rất nhiều cố gắng

trong nhiều năm (khoảng hơn 10 năm), nhưng kết quả còn rất khiêm tốn. Hiện

nay, nhu cầu về nguyên liệu nhập khẩu để đảm bảo sản xuất cần đến 95% xơ

bông, 70% sợi tổng hợp, 40% sợi xơ ngắn, 40% vải dệt kim và 60% vải dệt

thoi. Qua đó, có thể thấy rằng cả một ngành cơng nghiệp dệt may gần như

hồn tồn phụ thuộc vào nước ngồi

2.1.3. Sản xuất gia cơng

Khâu gia cơng sản phẩm, tồn bộ khâu này( cắt, may, hồn thiện, đóng

gói, vận chuyển…) chiếm giá trị là 5 -7 % trong chuỗi giá trị toàn cầu ( bao

gồm cả các thủ tục xuất nhập khẩu).

Sản phẩm cuối cùng được thực hiện ở những nước có chi phí nhân cơng

thấp như Việt Nam, Trung Quốc. Đây là khâu có tỷ suất lợi nhuận thấp nhất

chỉ chiếm 5-7%. Hiện nay, ngành dệt may Việt Nam chủ yếu là gia công cho



khách hàng theo hình thức CMT hoặc CMP có hàm lượng giá trị gia tăng rất

thấp. Có tới 90% doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham gia vào khâu này,

2.1.4. Marketing, phân phối và dịch vụ sau bán hàng

Cuối cùng vươn lên, xâm nhập vào mạng lưới phân phối tồn cầu để

bán sản phẩm cho các nhà bn( khơng phải qua các trung gian mơi giới)

thậm chí có thể bán đến tận tay người tiêu dùng… Giá trị của khâu này lên tới

70% trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Trong khâu thương mại hoá, ngành Dệt May Việt Nam mới chỉ thực sự

mạnh về khâu thương mại hoá trong nước, thương mại hố ở các thị trường

xuất khẩu còn yếu. Mặc dù đã bước đầu có xuất khẩu dạng FOB, song tỷ lệ

rất thấp, trong các doanh nghiệp may, chủ yếu vẫn là xuất khẩu dạng CIF.

Tại thị trường trong nước, nhiều doanh nghiệp may đã có những quyết

sách marketing thành công; Tổng công ty May Việt Tiến với chiến lược

Marketing chiếm lĩnh thị trường phía Bắc, Cơng ty Cổ phần May 10 cũng có

danh tiếng tại thị trường phía Bắc... Tuy nhiên, còn rất nhiều doanh nghiệp

đang yếu năng lực marketing – công cụ nền tảng của việc tạo dựng hệ thống

phân phối hiệu quả. Khâu phân phối chưa có sự tham gia của các hãng phân

phối lớn và chuyên nghiệp, chủ yếu các doanh nghiệp tự thực hiện phân phối

thông qua hệ thống các cửa hàng giới thiệu sản phẩm và các đại lý nhỏ lẻ của

tư nhân.

Trong chuỗi giá trị, Các nhà phân phối thường chính là các nhà thiết kế,

vì hơn ai hết, chính là người tường tận nhất nhu cầu và điều kiện để thỏa mãn

nhu cầu khách hàng. Vì thế, sau khi Việt Nam gia cơng hồn thiện, sản phẩm

được đưa trở lại thị trường do các công ty thương mại danh tiếng đảm nhận

bán ra.Các chuyên gia trong ngành dệt may ước tính, tới 70% lợi nhuận (tính

trên 1 sản phẩm may mặc từ khâu đầu đến khâu cuối cùng của chuỗi giá trị).

Và để tăng giá trị gia tăng cho toàn Ngành, việc chú trọng vào khâu thương



mại hoá nhằm gia tăng giá trị cảm nhận của sản phẩm, tăng khối lượng tiêu

thụ, kích thích tiêu dùng thực sự cần chun mơn hoá và chuyên nghiệp hoá.

2.2 Việt Nam chủ yếu tham gia vào khâu sản xuất( gia công) nên

tạo ra giá trị gia tăng rất ít

Sơ đồ về khâu gia cơng ở Việt Nam:

Cung cấp các yếu tố đầu vào của sản phẩm dệt may



Doanh

nghiệp Dệt

may Việt

Nam (cắt

may, hoàn

thiện)



Đối tác

nước ngoài

(người đặt

gia cơng)



Sản phẩm dệt may hồn thiện



Trở thành thành viên của WTO, cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu

tăng lên. Tuy nhiên, để có thể phát huy được ưu thế này, ngành Dệt may Việt

Nam còn nhiều vấn đề cần phải tập trung giải quyết. Thực tiễn cho thấy, để có

thể xuất được số hàng dệt may trị giá 7,75 tỉ USD, Việt Nam phải chi tới 5,25,3 tỷ USD để nhập nguyên phụ liệu sản xuất. Như vậy, giá trị mà ngành Dệt

may tạo ra để thực hưởng vẫn quá khiêm tốn, chỉ khoảng 25-30% kim ngạch

xuất khẩu. Đây cũng chính là tồn tại mà ngành này vẫn chưa xóa được đặc thù

của mình là gia cơng. Phần nhiều các sản phẩm may mặc của Việt Nam xuất

khẩu sang các thị trường như EU, Hoa Kỳ được tiến hành qua một trung gian

thứ ba là các đối tác như Hồng Kông, Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, Đài

Loan... Với vai trò là những nhà thầu phụ (sub- suppliers), các doanh nghiệp

xuất khẩu may mặc của Việt Nam cung cấp hàng hóa theo các hợp đồng ký

kết với những đối tác này và giao hàng thẳng cho các nhà bán lẻ của Hoa Kỳ

và EU hoặc cũng có thể giao trực tiếp cho những đối tác này. Vì vậy, hình

thức xuất khẩu này làm cho việc xuất khẩu hàng may mặc của các doanh



nghiệp may Việt Nam trở nên thụ động, phụ thuộc vào nước thứ ba, dẫn đến

giá trị xuất khẩu của Việt Nam bị hạn chế.

Hiện nay, hoạt động trong khu vực hạ nguồn của dệt may Việt Nam chủ

yếu là gia công cho khách hàng theo hình thức CMT hoặc CMP có hàm lượng

giá trị gia tăng rất thấp. Có tới 90% doanh nghiệp dệt may của Việt Nam tham

gia vào khâu này, các doanh nghiệp gia công cho các thương hiệu nổi tiếng và

hầu như khơng có đối tác phân phối trực tiếp trên thị trường quốc tế. Phần

đóng góp của phía Việt Nam vào việc hồn thiện một chiếc áo khốc chỉ vào

khoảng 11%, đối với áo sơ mi là 25%, quần dài là 15% và các sản phẩm khác

luôn dưới mức 25%. Trong năm 2006, ngành dệt may VN xuất khẩu hàng hóa

trị giá 5,83 tỷ USD, tương đương mức tăng trưởng 20,5% so với năm trước và

chiếm 15% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Tuy nhiên toàn bộ

thị trường trong nước chỉ đạt doanh số khoảng 1,8 tỷ USD. Như vậy, các

doanh nghiệp VN khơng có vai trò lớn trong quá trình hình thành và phân

phối các sản phẩm dệt may trên thị trường thế giới. Sự xuất khẩu dệt may

bằng con đường gia công làm các doanh nghiệp VN không được tiếp xúc trực

tiếp với khách hàng cho nên khơng có khả năng dự đốn nắm bắt nhu cầu để

chuẩn bị kế hoạch sản xuất, dẫn đến bị động khi có sự thay đổi nhu cầu, làm

các doanh nghiệp dệt may bị phụ thuộc chặt chẽ vào đối tác đặt hàng gia

cơng. Khi lợi thế về chi phí gia cơng khơng còn thì các doanh nghiệp VN khó

có thể tự xuất khẩu vào thị trường này. Vì khi chúng ta gia cơng cho nước

ngồi hàng hố đó khơng được gán nhãn mác của các doanh nghiệp dệt may

VN mà chúng mang nhãn mác của các nhà phân phối. Do hình thức gia cơng

xuất khẩu các doanh nghiệp chỉ thực hiện duy nhất cơng đoạn sản xuất còn lại

các cơng đọan khác là hồn tồn do đối tác đặt gia cơng chịu trách nhiệm.

Cho nên hình thức gia cơng này là tương đối an toàn, và phù hợp với các DN

dệt may có quy mơ nhỏ và lượng vốn có hạn hẹp vì nó tránh được những rủi



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Chuỗi giá trị dệt may toàn cầu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×