Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
b. Văn hoá doanh nghiệp ở Nhật Bản

b. Văn hoá doanh nghiệp ở Nhật Bản

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bài tiểu luận quản trị học



GV Hướng dẫn: TS.Đặng Ngọc Đại



Quy tắc bất thành văn trong khiển trách và phê bình là: Người khiển trách là

người có uy tín, được tơn trọng và có chức danh. Chỉ khiển trách những sai sót có

tính hệ thống, hậu quả rõ ràng. Phê bình trong khơng khí hòa hợp, win-win.

Phát huy tính tích cực của nhân viên: Người Nhật quan niệm, bất cứ ai cũng

tồn tại mặt tốt lẫn mặt xấu, ai cũng có tài năng, khả năng, cái tâm dù ít hay nhiều.

Con người luôn là tài nguyên quý giá, nguồn động lực quan trọn nhấ làm nên giá trị

gia tăng và phát triển bền vững của công ty. Khi mọi người khơng có động lực và

khơng có chỗ để đóng góp thì doanh nghiệp đã thất bại.

Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo: Tinh thần kinh doanh

hiện đại là lấy thị trường làm trung tâm, xuất phát từ khách hàng và hướng tới

khách hàng.

Điều này thể hiện từ rất sớm trong phong các đường lới kinh doanh của

Nhật. Ở Nhật, các doanh nghiệp lớn chiếm không đến 2%, còn đại bộ phận là danh

nghiệp vừa và nhỏ. Nhưng sự liên kết giữa chúng đa dạng và hiệu quả.

Liên kết hàng ngang giữa các công ty mẹ nhằm phát huy lợi thế tuyệt đối của

các công ty thành viên, tăng khả năng cạnh tranh vào các thị trường lớn với các đối

thủ quốc tế.

Liên kết theo chiều dọc giữa các công ty con nhằm phát huy lợi thế tương

đối, khai thác tiềm năng thị trường tại chỗ.

Sự liên kết đó thấy rất rõ qua hình thức cổ phần chéo, gắn kết về tài chính,

nghiên cứu phát triển, hệ thống kênh phân phối, cung ứng đầu vào, hỗ trợ nhân sự...

Các DN Nhật Bản luôn đề cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu khách hàng, các cam

kết KD, đi trước thị trường và kết hợp hài hòa các lợi ích. Cải tiến liên tục, ở từng

người, từng bộ phận trong các DN Nhật Bản để tăng tính cạnh tranh của DN và thỏa

mãn khách hàng tốt hơn Công ty như một cộng đồng.

Điều này thể hiện trên những phương diện:



Trang 20



Bài tiểu luận quản trị học



GV Hướng dẫn: TS.Đặng Ngọc Đại



- Mọi thành viên gắn kết với nhau trên tinh thần chia sẻ trách nhiệm hơn là bởi

hệ thống quyền lực.

- Tổ chức như một con thuyền vận mệnh, một mái nhà chung.

- Anh làm được gì cho tổ chức quan trọng hơn anh là ai.

- Sự nghiệp và lộ trình cơng danh của mỗi nhân viên gắn với các chặng đường

thành cơng của DN

- Mọi người sống vì DN, nghĩ về DN, vui buồn với thăng trầm của DN

- Triết lí KD được hình thành ln trên cơ sở đề cao ý nghĩa cộng đồng và phù

hợp với các chuẩn mực xã hội, hướng tới những giá trị mà xã hội tơn vinh. Sự

dìu dắt của lớp trước đối với lớp sau, sự gương mẫu của những người lãnh đạo

làm cho tinh thần cộng đồng ấy càng bền chặt. Trong nhiều chục năm chế độ

tuyển dụng chung thân suốt đời và thăng tiến nội bộ đã làm sâu sắc thêm điều

này.

Công tác đào tạo và sử dụng người: Thực tế và hoàn cảnh của Nhật Bản

khiến nguồn lực con người trở thành yếu tố quyết định đến sự phát triển của các

DN. Điều đó được xem là đương nhiên trong VHDN Nhật Bản. Các DN khi hoạch

định chiến lược KD luôn coi đào tạo nhân lực và sử dụng tốt con người là khâu

trung tâm. Các DN quan tâm đến điều này rất sớm và thường xuyên. Các DN

thường có hiệp hội và có quĩ học bổng dành cho sinh viên những ngành nghề mà họ

quan tâm. Họ khơng đẩy nhân viên vào tình trạng bị thách đố do khơng theo kịp sự

cải cách quản lí hay tiến bộ của khoa học cơng nghệ mà chủ động có kế hoạch ngay

từ đầu tuyển dụng và thường kì nâng cấp trình độ chun mơn nghiệp vụ cho nhân

viên. Các hình thức đào tạo rất đa dạng, nhưng chú trọng các hình thức đào tạo nội

bộ mang tính thực tiễn cao. Việc sử dụng người luân chuyển và đề bạt từ dưới lên

cũng là một hình thức giúp cho nhân viên hiểu rõ yêu cầu và đặc thù của từng vị trí

để họ xác định cách hiệp tác tốt với nhau, hiểu được qui trình chung và trách nhiệm

về kết qua cuối cùng, cũng như thuận lợi trong điều hành sau khi được đề bạt. Cách



Trang 21



Bài tiểu luận quản trị học



GV Hướng dẫn: TS.Đặng Ngọc Đại



thức ấy cũng làm cho các tầng lớp, thế hệ hiểu nhau, giúp đỡ nhau và cho mọi

người cơ hội gắn mình vào một lộ trình cơng danh rõ ràng trong doanh nghiệp.

Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản đã kết tụ rất rõ nét trong Phong cách quản

lí kiểu Nhật, là một trong những ngun nhân chính làm nên sự thành cơng trong

KD của các DN Nhật Bản

2. Lịch sử phát triển của quản trị nguồn nhân lực tại Nhật Bản:

Quá trình phát triển khoa học quản trị nguồn nhân lực tại Nhật Bản có thể

được chia thành 4 giai đoạn: quản trị kiểu hội nghề thủ công; quản trị theo khoa

học; quan hệ con người và khoa học tổ chức.

a. Hệ thống hội nghề thủ cơng

Giai đoạn truớc thế kỷ 19:

Đó là hình thức xuất hiện từ rất sớm, trong đó việc huấn luyện kỹ năng thủ công

của người công nhân được chú trọng để họ thực hiện các nhiệm vụ của mình. Các

tổ chức phường hội nghề thủ cơng được kiểm soát bởi các thợ tay nghề cao và các

ứng viên sẽ được kết nạp sau một thời gian huấn luyện nghề. Hệ thống hội nghề

thủ cơng thích hợp cho nền kinh tế hộ gia đình.

b. Quản trị theo khoa học

Giai đoạn thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20

Cuộc cách mạng công nghiệp và sản xuất khối lượng lớn vào thế kỷ thứ 19

và đầu thế kỷ thứ 20 kết thúc thời kỳ của hội nghề thủ công. Sự phát triển của sản

xuất khối lượng lớn dẫn đến việc tổ chức cơng việc theo hai hướng chính. Thứ nhất,

các cơng tác được phân chia thành các đơn vị đơn giản để có thể thực hiện bởi các

cơng nhân khơng lành nghề. Thứ hai, đội ngũ điều hành sản xuất được phân cấp

thành các giám sát viên và các nhà quản trị. Sản xuất khối lượng lớn là cơ sở cho

phát triển các hệ thống sản xuẩt theo dây chuyền và cách tiếp cận theo khoa học

trong phân tích cơng việc thành những thành tố liên hệ nhau.

c. Nghiên cứu khoa học hành vi cá nhân



Trang 22



Bài tiểu luận quản trị học



GV Hướng dẫn: TS.Đặng Ngọc Đại



Giai đoạn cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20

Sau giai đoạn quản trị theo khoa học, các nhà quản trị bắt đầu nghiên cứu chi

tiết đến khoa học hành vi cá nhân nhằm mục đích làm rõ ảnh hưởng của tác động cá

nhân người lao động đến kết quả sản xuất nói chung. Trong giai đoạn này, các nhà

nghiên cứu quản trị học Nhật Bản đã nghiên cứu và phát triển khoa học quản trị

thành một nghệ thuật.

Lấy phương châm “khoa học phương Tây, tinh thần Nhật Bản”, người Nhật

đã không ngừng tiếp thu, học tập những tinh hoa của thế giới nhưng vẫn giữ vững

những nét đặc trưng, cái gốc, bản sắc văn hố của dân tộc mình. Kết hợp những tư

tưởng người Nhật bản đã đưa ra sản phẩm là học thuyết Z. Học thuyết Z được tiến

sỹ W. Ouchi đưa ra được xây dựng dựa trên thực tiễn và lý luận. Học thuyết Z còn

có một tên khác đó là “Quản lý kiểu Nhật” vì học thuyết này là kết quả của việc

nghiên cứu phương thức quản lý trong các doanh nghiệp Nhật Bản từ năm 1973.

thuyết Z lại chú trọng vào việc gia tăng sự trung thành của người lao động với công

ty bằng cách tạo sự an tâm, mãn nguyện; tôn trọng người lao động cả trong và ngồi

cơng việc. Cốt lõi của thuyết này là làm thỏa mãn và gia tăng tinh thần của người

lao động để từ đó họ đạt được năng suất chất lượng trong cơng việc. Trong học

thuyết Z ta thấy sự hòa hợp của ba yếu tố đó là năng suất lao động, sự tin cậy và sự

khôn khéo trong quan hệ giữa người với người. Đó là những điểm làm nên sự khác

biệt cũng như thành công của học thuyết Z.

d. Khoa học tổ chức

Giai đoạn đầu thế kỷ 21 cho đến nay:

Từ những trở ngại của cách tiếp cận theo quan hệ con người, các nghiên cứu quản

trị học Nhật Bản đã chuyển hướng từ các môn khoa học hành vi như tâm lý học,

khoa học chính trị, xã hội học sang khoa học về tổ chức. Cách tiếp cận khoa học

tổ chức tập trung chủ yếu vào yếu tố tổ chức và ít chú trọng yếu tố cá nhân. Quản

trị nguồn nhân lực tại Nhật Bản ngày nay chấp nhận phá vỡ những chương trình

quản lý cũ thơng qua việc mở ra những phương pháp mới nhằm tăng cường đầu tư



Trang 23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

b. Văn hoá doanh nghiệp ở Nhật Bản

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×